Thông báo ngừng phát hành tại Việt Nam

Từ ngày 01/01/2027, Last Lantern sẽ ngừng phát hành tại Việt Nam trên Google Play và App Store. Người chơi đã cài vẫn có thể tiếp tục chơi. Cảm ơn bạn đã đồng hành cùng Last Lantern!

Quyển 1 · Bấc Đen

Chương 1: Chuông chín tiếng

13 phút đọc·

Mục lục18 px

Sáng sớm, chuông trên đỉnh Thanh Đăng gõ chín tiếng, tiếng nào cũng kéo dài như có người níu lại ở cuối. Chưa dứt tiếng thứ chín, cả ngọn núi đã hiểu đêm nay Hắc Kiếp giáng.

Chưa tới giờ Thìn, đệ tử trong tông đã kéo nhau về trước tổ đường, chen kín sân đá quanh cái án dài đặt mấy trăm ngọn mệnh đăng, ai cũng ngước nhìn trán người bên cạnh rồi lại nhìn lên đèn, đếm thầm xem năm nay ba ngọn bị thu sẽ rơi vào ai. Mười năm một lần gió đen từ trời kéo xuống, Kiếp Ma cầm sổ đọc tên. Ngọn nào được đọc thì bay lên thành sao, và người mất đèn không bao giờ quay về. Chạy cũng vô ích, vì gió theo lửa mà tìm người. Nên sáng nay trên cả ngọn núi, chẳng ai muốn mình sáng.

"Ngọn đầu thì khỏi đoán, Thẩm sư tỷ mới Trúc Cơ mà sáng như Kim Đan, trời không thu nàng thì thu ai," một sư huynh ở Kiếm đường nói, giọng hạ thấp như sợ chính ngọn đèn trên án nghe thấy.

"Ngọn thứ hai là Lưu sư huynh, cái đó cũng chắc rồi, sáng nay huynh ấy còn chưa dám ra khỏi phòng."

"Ngọn thứ ba thì Dược đường có ba người sáng ngang nhau, chiều nay mới biết. Còn tiểu sư muội, con bé sáng lên nhanh lắm, đứng gần là thấy chói mắt?"

"Nó mới mười hai, trời có thu cũng phải chừa lại mười năm nữa cho ngon, các ngươi đừng nói gở."

"Ngọn nào bị thu thì còn phải đoán, chứ ngọn nào chắc chắn không bị thu thì cả núi đều biết," có người hất cằm về phía hàng dưới cùng của án, "trời có mù cả hai mắt cũng không thu tới cái đèn kia."

Cả đám cười ồ lên, rồi cùng quay đầu nhìn về cuối sân, chỗ một thiếu niên áo vải xám đang cầm chổi quét lá trên bậc đá. Trần Mặc mười chín tuổi, quét sân tổ đường đã chín năm, đèn của hắn là ngọn duy nhất trên án chưa từng cháy, và giữa trán hắn, chỗ người khác có đốm lửa, chỉ có một khung đèn rỗng màu than. Cả núi gọi hắn là Vô Tâm, đèn không có tim lửa.

"Vô Tâm, đêm nay ngươi là người sướng nhất núi đấy," gã sư huynh lúc nãy gọi với sang, "cả tông run cầm cập, có mỗi ngươi được ngủ ngon."

"Hắn mà ngủ ngon thì sáng mai ai quét tro," người khác chêm vào, và tiếng cười lại nổi lên, to hơn lần trước, như thể cười được thì đêm nay sẽ bớt dài.

Mặc không ngẩng lên, chỉ quét nốt chỗ lá trước bậc, rồi đưa hai ngón tay ấn nhẹ vào giữa trán như mọi lần có ai gọi cái tên ấy, chỗ đó lạnh, không có gì đập dưới da. Chín năm, sáng chém một nghìn nhát kiếm, tối ngồi thở đúng cách người ta dạy, mà linh khí vào người hắn như nước rót vào cái hũ thủng đáy, nên Luyện Khí tầng ba ấy là trọn chín năm của hắn, ngang với đứa mười hai tuổi ở Dược đường.

Ngọn sáng nhất trên án là của người duy nhất từng quỳ xin cho hắn ở lại.

Chín năm trước hắn là thằng bé mười tuổi gánh nước thuê, bị bắt quả tang nấp sau cột tổ đường xem đệ tử luyện kiếm, trưởng lão đã sai lôi xuống núi, và chính Thẩm Chiêu, khi ấy mới mười hai, đã quỳ trên bậc đá này xin cho nó ở lại quét sân, được đứng nhìn. Từ hôm đó sáng nào hắn cũng chém một nghìn nhát bằng thanh kiếm gỗ, sáng nào nàng cũng ngồi bậc đá xem, sửa cho hắn đúng một nhát rồi ăn miếng cơm cháy hắn để dành. Nàng chưa bao giờ nhắc lại chuyện quỳ, còn hắn thì chưa ngày nào quên. Hắn không mong sáng nhất núi, chỉ mong có ngày đủ sức tự đứng ở hàng trên, để không ai phải quỳ thay hắn thêm lần nào nữa.

Tới bậc cuối, hắn thấy con mèo già của tổ đường nằm cuộn dưới chỗ sư tỷ vẫn ngồi, mình đã cứng, mũi vẫn quay về phía bếp. Nó chết đúng vào cái sáng chuông gõ chín tiếng, như thể nó nằm nghe đếm tới chín rồi thôi, không đợi nữa.

Sau lưng có tiếng dép lẹt xẹt. Thẩm Chiêu tới muộn như mọi ngày, tóc chưa chải, giữa trán rực một ngọn lửa có đế sáng nhất núi, tay cầm cái bánh bao không biết xin của ai. Đám đông tự dạt ra, không ai cười nữa. Nàng nhìn con mèo trong tay Mặc một lúc lâu, rồi ngồi xuống bậc đá, đúng chỗ cũ, như thể chỗ ấy còn ấm.

"Chôn ở đâu?"

"Gốc hồng sau bếp," Mặc đã tính sẵn từ lúc cúi xuống bế nó, "đất mềm, đào nhanh, kịp về quét tổ đường trước trưa."

"Không. Chôn trên mỏm đá phía đông, chỗ đó quay về phía biển."

"Từ mỏm đá không nhìn thấy biển."

"Thì thấy hướng biển. Cả đời nó nằm cạnh cái bếp, chết rồi cho nó nằm quay về chỗ nào xa một chút."

"Mỏm ấy toàn đá ong, đào tới trưa chưa xong, về trễ thì trưởng lão giữ hương trừ ba ngày gạo."

Sư tỷ đã đứng dậy phủi váy.

"Ba ngày gạo ấy ta nuôi ngươi, đi thôi."

Nàng đi trước, tay không, vừa đi vừa ăn bánh bao. Cái cuốc là hắn vác.

Đường lên mỏm đá đi qua đồi trà của Dược đường, qua bãi Kiếm đường phơi kiếm sau mưa, mấy trăm thanh xếp trên giàn tre loé nắng như một đàn cá. Mây nằm lưng chừng núi, trên đỉnh nắng, dưới chân mưa. Chín năm quét sân, hắn chưa chán ngọn núi này lấy một ngày.

Lên tới nơi nàng ngồi ngay vào bóng râm, nhặt hòn sỏi vạch bàn cờ lên tảng đá phẳng, rồi nói đúng cái câu chín năm nay hắn nghe đã thuộc lòng.

"Ta là sư tỷ, sư tỷ thì trông. Nghỉ một ván đã, ngươi thắng thì ta đào hộ mười nhát."

Chín năm nay nàng chưa đào hộ nhát nào, nhưng hắn vẫn ngồi xuống. Giữa ván, lúc hắn quay đi lau mồ hôi, một quân đen ở góc trái biến mất, chỗ ấy mọc ra một quân trắng, và Mặc chỉ nhìn xuống bàn chân nàng, nơi ngón cái đang đè lên một hòn sỏi đen.

"Sư tỷ, quân đen của ta vừa tự đi đâu mất rồi, lúc nãy nó còn nằm ở góc kia."

"Quân cờ cũng như người, thấy chỗ nào sáng thì muốn chạy ra xa, ngươi trách nó làm gì."

"Sư tỷ lại giấu quân dưới chân rồi!"

Tiểu sư muội leo lên từ lối mòn, một tay ôm bầu nước to gần bằng người, tay kia giữ khư khư cái chụp đèn giấy dầu vừa dán một con bướm giấy đỏ lên thân. Con bé mười hai tuổi, ngọn đèn sáng thứ tư trên án, đốm lửa giữa trán tóc mái che không hết, và còn chưa biết sáng như thế là đáng sợ.

"Sư tỷ xem này, đêm nay đèn muội phải đẹp nhất án, Kiếp Ma đi qua cũng phải ngoái lại nhìn."

"Gió," sư tỷ nói, mặt không đổi sắc, mắt vẫn nhìn bàn cờ, "gió trên núi to lắm, thổi bay cả quân cờ." Rồi nàng bẻ đôi chỗ bánh bao còn lại, dúi nửa to hơn vào tay con bé. "Cầm lấy rồi xuống bếp, con bướm này dán lệch cánh trái, nhưng thế mới giống bướm thật."

Con bé chạy xuống, vừa chạy vừa ăn, con bướm giấy rung rinh trên tay. Nửa cái bánh bao của sư tỷ dừng lại cách miệng một đốt ngón tay, cho tới khi con bướm khuất sau rặng trúc.

Mặc thua ván ấy hai quân, đúng bằng số quân nàng gian, rồi cầm cuốc đào tới gần trưa thì hố đủ sâu. Hắn đặt con mèo xuống, rồi lấy trong tay áo ra một cái hũ sành nhỏ, lòng bàn tay che kín như người ta che một ngọn lửa trước gió.

"Muội đèn," hắn nói, "ta cạo cả tháng ở hàng đèn dưới, mỗi đêm một ít, không ai biết. Bôi một lớp mỏng lên chụp đèn của sư tỷ thì tối nay đèn sư tỷ tụt xuống dưới ngọn thứ ba."

Sư tỷ không cầm hũ, chỉ nhìn nó một lúc, như nhìn một nước cờ đi đúng mà sai thế, rồi nói rất chậm, "Năm nay Thanh Đăng nộp ba ngọn sáng nhất. Ta tụt xuống thì ngọn thứ tư lên thay." Nàng hất cằm về phía lối mòn, chỗ một bóng nhỏ vừa khuất sau rặng trúc. "Ngọn thứ tư vừa cầm nửa cái bánh bao của ta đi xuống kia."

Mặc đứng im. Cả tháng cạo muội, hắn chỉ đếm một ngọn đèn.

"Ta chưa đếm tới con bé."

"Ta đếm rồi." Nàng cầm lấy cái hũ, nghiêng nó, rắc lớp muội đen lên lưng con mèo dưới hố. "Cho nó ấm."

Mặc lặng lẽ lấp đất, lông con mèo còn mùi khói bếp, cái mùi mà ba tháng trước bàn tay hắn đã nhớ trước cả cái đầu.

"Tay ngươi," sư tỷ nói, "vết bỏng ba tháng rồi, sao hôm nào trông cũng mới."

"Nồi cám."

"Ừ, nồi cám. Nồi cám nhà ngươi ngày nào cũng sôi." Nàng nhìn nấm đất, rồi nhìn mắt hắn, thấy có cái gì đó sắp tràn ra, liền nói, "Béo thế kia, chắc chắn nó ăn vụng cơm cháy của ngươi. Đừng khóc. Khóc là nhận mình để mèo ăn vụng."

Hắn không khóc, chỉ lấy trong ngực áo ra miếng cơm cháy để dành từ sáng. Nàng bẻ đôi, đưa lại cho hắn nửa nhỏ hơn, rồi ăn phần mình thật chậm, mặt vẫn như đang tính một nước cờ.

"Tối nay ta ngồi hàng đầu," nàng nói, giọng như nói chuyện trời mưa. "Có ngày ngươi dẫn ta đi xem biển nhé."

"Đèn sáng thì đi đâu trời cũng thấy."

"Thì đợi lúc ta không sáng nữa. Hứa đi. Ngươi hứa cái gì cũng giữ, nên ta mới bắt ngươi hứa, chứ bắt Lưu sư huynh hứa thì đến mai huynh ấy đã quên ta là ai."

"Hứa."

Hắn vác cuốc xuống núi, nàng đi trước, tay không như lúc lên. Con mèo đã nằm quay về hướng biển, lời hứa đã nói ra, ba ngày gạo coi như mất.

Nàng đã chọn. Hắn chưa từng hứa sẽ đứng yên.

Chiều xuống, tổ đường lại đông, nhưng không còn ai cười. Người ta đứng thành từng nhóm nhỏ dọc hành lang, nói bằng giọng của người đi viếng, có kẻ lén vuốt tóc mái xuống che trán như làm thế thì đèn sẽ tối đi một chút. Dưới bếp vẫn hấp bánh, vì đêm nay ai ở lại thì sáng mai vẫn phải ăn. Lưu sư huynh ngồi một mình trên bậc thềm, lau đi lau lại thanh kiếm đã sạch từ trưa, thấy Mặc quét ngang qua thì gọi lại, giọng bình thường tới mức nghe lạ tai.

"Mặc này, nếu sáng mai ta không còn ngồi đây thì thanh kiếm này cho ngươi, ngươi chém nghìn nhát mỗi sáng còn đều tay hơn ta, để nó nằm trong kho thì phí."

"Kiếm của sư huynh nặng tay, ta chém kiếm gỗ quen rồi," Mặc nói, "với lại chuôi nó còn bẩn kia."

Lưu sư huynh nhìn xuống chuôi kiếm, rồi lau tiếp.

Gã sư huynh Kiếm đường buổi sáng đi ngang qua Mặc, nhìn cái chổi, nhìn cái khung đen trên trán hắn, rồi nói nhỏ, lần này không có ai cười theo, "Vô Tâm, đêm nay ta đổi cho ngươi cái trán ấy, ngươi lấy bao nhiêu?"

"Một cái chổi," Mặc nói, "và sáng mai sư huynh quét tro."

Gã đứng sững một lúc, rồi bật cười khô khốc và đi tiếp.

Mặc cầm chổi quét tiếp, bắt đầu từ góc tro, nơi người quét sân vẫn đứng mỗi khi tông có lễ. Từ đó tới ngọn đèn sáng nhất là mười một bước. Hắn quét một vạt lá rồi nhích lên một bước, chậm tới mức không ai thấy hắn đã đổi chỗ, và mỗi bước lại nhớ thêm một đêm.

Ba tháng trước, lúc lau án đèn, hắn nghiêng đèn lão giữ bếp để cắt muội. Lão sáu mươi năm không lên nổi một tầng, lửa chỉ còn bằng hạt đậu. Hạt lửa ấy nhảy như con dế sang sợi bấc đen của hắn, chui theo cổ tay vào tận ngực, và lần đầu tiên trong đời, giữa khung đen trên trán hắn có một đốm lửa. Hắn đếm được chín hơi thở thì nó lụi, không để lại cho hắn chút sức nào. Sáng hôm sau người ta khiêng lão ra khỏi bếp, bảo đèn lão hết dầu. Hắn không biết lão chết vì hết dầu hay vì hắn, chỉ biết từ hôm ấy hắn thề không bao giờ chạm vào đèn của người còn sống nữa. Đêm nay hắn sẽ phá lời thề ấy.

Hắn lục tàng thư suốt mười hai đêm, cuốn nào có chữ đèn cũng mở, vì muốn biết mình đã làm gì lão. Đêm thứ mười ba, trong một cuốn sách mục chép lại từ một tông đã bị trời thu sạch, hắn đọc được điều trưởng lão chưa giảng bao giờ. Kiếp Ma đọc tên ngọn đèn nào thì gió đen phải quấn quanh lửa của ngọn ấy đủ ba hơi thở mới mang được nó đi. Nếu trong ba hơi ấy lửa đã rời khỏi đèn, trời chỉ nhận cái bấc không, sách gọi là nộp bấc, xoá nợ. Đọc tới đó hắn gấp sách lại. Cả đời hắn chưa từng thấy cánh cửa nào hé ra rõ như thế, mà lại hé vừa đủ một người lách qua.

Từ hôm ấy, đêm nào cắt muội xong hắn cũng giữ lại mấy đầu bấc còn đỏ, mang ra sau bếp tập kéo lửa vào sợi bấc đen trên trán. Tháng đầu, lửa chỉ đốt thủng da tay. Tới tuần này hắn kéo được trong hai hơi, mười lần thì được bốn. Đêm nay hắn phải kéo lửa của nàng vào cái bấc đen trước khi gió quấn đủ ba hơi. Bôi muội đèn thì sổ chưa gọi, ngọn thứ tư lên thay, nàng đã nói thế. Còn khi sổ đã gọi đúng tên nàng mà trời chỉ nhận về cái bấc, thì nợ đã xoá, sổ phải khép lại. Hắn tin hai chuyện ấy khác nhau, vì nếu không khác thì chẳng còn đường nào. Còn giữ lửa trong người được bao lâu thì hắn không biết. Lửa lão giữ bếp ở trong hắn được chín hơi rồi lụi, nhưng lửa lão chỉ bằng hạt đậu, còn lửa của nàng sáng nhất núi. Hắn chọn tin lửa lớn thì sống lâu hơn, vì không tin thì đêm nay hắn chỉ còn cách đứng nhìn.

Có một đêm hắn hỏi nàng chữ "xoá" trong câu "nộp bấc, xoá nợ". Nàng lấy hạt cơm vạch lại từng nét trên mặt bàn, rồi gõ ngón tay vào cái khung rỗng trên trán hắn. "Đừng chỉ học chữ nợ, học cả chữ trả nữa." Hắn không nói cho nàng biết vì sao hắn hỏi.

Tới khi mặt trời chạm đỉnh núi phía tây, chân hắn đã cách hàng đầu của án bốn bước. Còn hai bước nữa là vừa một sải tay.

Sư tỷ đi vào lúc ấy, tóc đã chải, áo đã thay, ngồi xuống hàng đầu như ngồi xuống bậc đá mỗi sáng, lưng thẳng hơn mọi ngày một chút, và không nhìn hắn lấy một lần. Ở hàng thứ hai, cái chụp đèn dán con bướm giấy đỏ đã được úp lên ngọn đèn thứ tư, cánh trái vẫn lệch, ánh lửa xuyên qua lớp giấy làm con bướm như đang thở.

Mặc cúi xuống buộc lại dây giày, kéo thật chặt, như mỗi sáng trước nhát kiếm đầu tiên. Ở chân trời phía tây, sau rặng núi, có một vệt đen đang dâng lên, không phải mây, vì mây trôi theo gió còn nó thì đi ngược gió, kéo thẳng về phía Thanh Đăng, nuốt dần từng mảng trời đỏ. Trong tổ đường có ai đó đánh rơi một cái chén, và không ai cúi xuống nhặt.

"Tới rồi," một giọng run run cất lên ở hành lang, "chưa tắt nắng mà đã tới rồi, năm nay trời đói thật."

Hắn đứng thẳng dậy, nắm chặt cán chổi, và bắt đầu đếm hơi thở như đã tập suốt ba tháng nay sau bếp, đếm tới hơi thứ hai thì lạc mất, phải đếm lại từ đầu.

Trên án, ngọn đèn sáng nhất khẽ nghiêng về phía tây, dù trong tổ đường không có gió.

Hết chương 1

Tự tay đưa họ về nhà trong game

Thắp lại đèn, dựng lại tông môn trong Last Lantern.

Google PlayApp Store