Mặc đi tới khe suối đầu tiên thì trời sáng. Hắn ngồi xổm bên nước, gỡ lớp vải trên bàn tay phải, và thấy cánh bướm giấy đã khô dính vào lòng bàn tay thành một lớp với da. Hắn không gỡ nó ra, chỉ rửa quanh mép giấy thật chậm rồi băng lại.
Hai cái bánh trong tay nải đã bị con dao rựa ép dẹt một bên. Từ Thanh Đăng tới dãy núi mà người dưới chân núi không dám gọi tên là bốn ngày đường, nên mỗi ngày nửa cái, không hơn. Hắn dùng sống dao cắt đôi một cái bánh, rồi lấy miếng cơm cháy gói riêng ra, đặt cạnh nửa bánh của mình, cách một khoảng đủ cho một người ngồi.
"Phần này của sư tỷ," hắn nói.
"Ngươi để tới mười năm thì ta cũng không với tay lấy được."
Giọng nàng vang lên trong ngực, khàn và phẳng như người vừa khóc xong mà không muốn ai biết. Mặc mở cuốn sổ than, vạch một nét nhỏ ở góc trang cuối. Từ lúc cổng sơn môn đóng lại sau lưng tới giờ, đó là câu đầu tiên nàng nói với hắn.
"Ta tưởng bấc rỗng được nhận thì con bé không phải lên thay," hắn nói tiếp, mắt nhìn xuống nước.
Không có tiếng đáp, và hắn ngồi chờ tới khi dòng suối cuốn trôi hết một chiếc lá từ khúc trên xuống khúc dưới, rồi hiểu rằng nàng sẽ không đáp, ít nhất là không phải hôm nay. Hắn gói miếng cơm cháy lại, cất vào ngực áo, ăn nửa cái bánh của mình bằng ba miếng rồi đứng dậy đi ngược dòng, rời con đường dẫn xuống nơi có người.
Đêm đầu hắn ngủ dưới một vòm đá, con dao đặt ngang đầu gối, khăn buộc qua trán che kín cái khung đèn đen. Hắn thử ngồi thở theo cách người ta dạy suốt chín năm, vì Luyện Khí tầng ba của hắn không cho phép bỏ một đêm nào, nhưng mới tới hơi thứ năm thì chỗ nóng trong ngực cựa mình, và qua lớp vải trên trán có một vệt sáng mờ hắt lên vách đá.
"Thở chậm thôi, trán ngươi đang sáng."
Hắn nín thở cho tới khi vệt sáng tắt hẳn, rồi vạch nét thứ hai, rồi ngồi thở thật chậm, chậm tới mức linh khí chẳng vào được bao nhiêu, cho tới khi trời hửng.
Ngày thứ hai, đường rừng hết lối, hắn buộc phải men xuống một quán nước bên đường cái để hỏi đường. Bà bán nước nhìn cái khăn trên trán hắn, tưởng hắn bị thương, rót cho đầy bát mà không lấy tiền.
"Đi tiếp lên phía mây xám kia là Núi Chết," bà nói, tay vẫn khuấy nồi chè, "cháu đi buôn thì rẽ trái, đường ấy chẳng ai đi."
"Sao lại gọi là Núi Chết?"
"Trăm năm trước trên ấy có cả một tông môn, đèn đông như sao. Một đêm trời thu sạch, sáng ra cả núi không còn ai đốt nổi cái bếp." Bà hạ giọng, quệt ngang trán mình như người ta làm dấu. "Ban ngày thì lặng như tờ, đêm xuống có lính giáp đi tuần, ngực đánh số, thấy chỗ nào có ánh lửa là chém. Người ở đây đi qua chân núi còn phải tắt cả đèn lồng."
Gã gánh hàng ngồi bàn bên cười khẩy. "Được cái thuế má trên ấy chẳng ai thu. Trời thu một lần sạch rồi thì cũng chẳng thèm nhìn lại."
Mặc uống hết bát nước, cảm ơn bà, rồi đi về phía mây xám. Cuốn sách mục ở góc tàng thư, cuốn đã dạy hắn chuyện ba hơi thở, có một dấu triện mờ ở trang cuối, và hắn nhớ trong dấu triện ấy có hai chữ Vọng Tinh. Một tông đã bị thu sạch, một ngọn núi trời không thèm nhìn lại. Với người đang mang một ngọn lửa trời chưa nhận được, chẳng có chỗ nào tốt hơn.
"Ngươi định đem ta lên chỗ người ta gọi là Núi Chết thật à."
"Chỗ ấy trời không nhìn lại," hắn nói.
"Thế thì chọn đúng."
Hắn vạch nét thứ ba và thứ tư, viết thêm bên cạnh một chữ "đúng" bằng nét than run run, rồi lại gạch nó đi vì thấy mình trẻ con.
Chiều ngày thứ ba hắn tới cây cầu đá. Cầu đã gãy mất nửa, chỉ còn một dải đá sát vách, dưới chân nước trắng cuộn như sôi. Hắn tháo tay nải ném sang trước, rồi áp bụng vào vách mà nhích, và nửa chừng thì cúi xuống nhìn ngực mình như thể có ai đang nằm trong ấy cần được giữ cho khỏi rơi.
"Nhìn chân, đừng nhìn ngực."
Hắn bật cười, suýt trượt, phải đè cả bàn tay phải lên đá mới giữ được thân. Tới bờ bên kia máu đã thấm qua lớp vải, nhưng hắn vẫn vạch nét thứ năm trước khi thay băng.
Đêm ấy chỉ còn lại nửa cái bánh cuối cùng. Hắn để dành nó cho ngày mai, nằm nghe bụng mình kêu.
"Mai tới nơi, việc đầu tiên là tìm nước, việc thứ hai là vá một chỗ mái cho sư tỷ khỏi ướt," hắn nói với khoảng tối trên đầu, rồi tự bật cười vì nghe ra cái vô lý trong câu ấy, "à, sư tỷ thì đâu có ướt được nữa, vậy cho ta khỏi ướt."
Không có tiếng đáp, hắn lại nói.
"Tới nơi ta sẽ khắc tên con bé, đặt cạnh chỗ ta để tên sư tỷ."
"Ngươi khắc tên nó để nó được nhớ, hay để ngươi dễ ngủ?"
Hắn không trả lời được, chỉ vạch nét thứ sáu trong bóng tối, đè than mạnh tới mức gãy ngòi.
Sáng ngày thứ tư, hắn ăn nửa cái bánh cuối cùng trong ba miếng, uống nước cho đầy bụng, rồi leo những bậc đá mà cỏ đã phủ kín hai mép, chỉ còn giữa bậc lõm xuống vì những bàn chân đã đi qua từ rất lâu. Trên đỉnh bậc có một tấm bia nghiêng vào sườn núi, rêu dày như lớp áo bông. Hắn lấy vạt áo lau từng chữ. Hai chữ đầu hắn đọc được, đúng là Vọng Tinh, giống hệt dấu triện trong sách. Chữ thứ ba nhiều nét hơn những chữ nàng từng vạch bằng hạt cơm trên mặt bàn.
"Chữ cuối là Phong, ngọn núi, không phải gió."
Mặc vạch nét thứ bảy, đứng nhìn tấm bia một lúc, rồi đi qua cái cổng không còn cánh, nơi khoảng trời giữa hai trụ đá rộng hơn cổng Thanh Đăng nhiều lắm.
Bên trong là một khoảng sân lát đá bị rễ cây đội lên từng mảng, bên trái có giếng, bên phải là dãy phòng còn giữ được nửa mái. Gian chính điện mất cửa, nhưng cái án dài thì vẫn nằm đó, và khi hắn bước vào, ánh sáng từ lỗ mái rọi xuống đúng mặt án như người ta cố tình để dành chỗ ấy cho hắn nhìn.
Trên án là những đĩa đèn xếp sát nhau, hàng nối hàng, mỗi đĩa giữ một sợi bấc nguội. Hắn lấy khăn lau đĩa gần nhất. Bấc khô và giòn, không còn một hạt muội đèn nào, như chưa từng cháy, hoặc đã cháy hết từ trước khi người ta kịp cắt. Dưới lớp bụi, mép đĩa có khắc một cái tên mà hắn không đọc nổi. Hắn lau thêm một đĩa nữa, cũng một cái tên, rồi một đĩa nữa.
Hắn bắt đầu đếm, thói quen có từ hồi gánh nước thuê, đếm bước để biết còn bao xa, đếm hơi để biết còn bao lâu, và tới cuối án thì hắn đếm được ba trăm. Ba trăm cái bấc, ba trăm cái tên, không một ngọn lửa. Cả một tông bị thu trong một đêm, trời chỉ để lại cho núi những thứ trời không cần.
Hắn đứng đó lâu tới mức vệt nắng từ lỗ mái trượt khỏi mặt án. Rồi hắn cúi xuống, định dồn mấy đĩa đèn ở đầu án sang bên cho có chỗ đặt tay nải.
"Để đồ dưới đất."
Hắn vạch nét thứ tám, đặt tay nải xuống chân án, và cúi đầu trước ba trăm cái bấc một lần, như người đến muộn chào những người đã ở đây trước.
Buổi chiều trời đổ mưa, nước chảy qua một khe ngói ở góc phòng phía tây, nhỏ đúng vào chỗ hắn vừa quét làm chỗ ngủ. Hắn trèo lên bệ đá, nhặt những viên ngói lành trong đống ngói vỡ úp lại khe dột, và khi trèo xuống thì thấy cái xà ngang trên cửa hông đã mục mất một đầu, cả sức nặng mái ghì xuống một cây chống xiên kê trên miếng đá vỡ. Hắn gõ sống dao vào cây chống, gỗ rơi xuống thành bột. Cái xà ấy mà đổ thì đổ đúng vào chỗ hắn nằm.
Chín năm chẻ củi sau bếp dạy hắn hai điều: cây sẽ đổ về phía nào, và không bao giờ được đứng gần lúc nó đổ. Hắn dùng dao khía chân cây chống tới nửa thớ, định để sáng mai kéo đổ hẳn rồi thay. Rồi hắn tháo sợi dây buộc tay nải, buộc một đầu vào thân cây chống, kéo đầu kia ra tận ngoài cửa trước, để mai đứng ngoài sân mà giật. Tay phải hắn run tới mức phải nghỉ hai lần mới thắt xong nút.
Đêm xuống thì hết mưa, hắn ngồi dựa cột dưới mảng mái vừa vá, sổ đặt trên đầu gối, ghi vào trang có hình trăng ba dòng: trăng tròn thứ ba, Luyện Khí tầng năm, gạo. Dòng thứ ba hắn ghi rồi nhìn rất lâu, vì từ trưa nay tay nải của hắn đã không còn gì để ăn ngoài miếng cơm cháy của nàng, mà miếng ấy thì hắn không ăn.
Hắn nhắm mắt thở thật chậm như nàng dặn đêm đầu, nhưng bụng rỗng làm hơi thở cứ hụt, phải hít bù, và tới hơi thứ tư thì chỗ nóng trong ngực tự cựa mình, không theo ý hắn.
"Mặc, trán."
Hắn mở mắt thì đã muộn, ngoài sân có tiếng sắt kéo lê trên đá, đều đặn từ phía bậc thang đi lên.
Hắn lấy bàn tay trái úp chặt lên trán, áp mắt vào một khe tường. Dưới ánh trăng có một bóng giáp đứng giữa sân, cao hơn người thường một cái đầu, mũ sắt che quá nửa mặt. Trên ngực giáp đánh một chữ 七 đã bong mất một nét, giữa trán, ngay dưới vành mũ, có một vệt ấn đỏ sẫm như máu khô. Cái bóng đứng im một lúc, rồi quay đầu đúng về phía khe ngói mà vệt sáng trên trán hắn vừa hắt qua.
Tiếng giáp đi thẳng về phía hắn.
Mặc nắm lấy con dao rựa, lùi về phía cửa hông. Lưỡi đao của cái bóng xuyên qua vách đất như xuyên qua giấy, quét ngang tầm ngực. Hắn không kịp nghĩ, tay tự làm cái việc nó đã làm chín năm mỗi sáng: hạ khuỷu xuống, nghiêng lưỡi dao, đừng đỡ thẳng, cho lưỡi kia trượt đi. Đó là nhát duy nhất mỗi sáng sư tỷ ngồi trên bậc đá sửa cho hắn, và nó cứu hắn. Lưỡi đao trượt qua sống dao rựa, xé toạc vai áo, cánh tay hắn tê tới tận bả vai.
Một nhát thì đỡ được, còn nhát thứ hai thì không, hắn biết rõ như biết mình đang ở tầng ba.
Hắn chui qua cửa hông, chạy vòng ra trước, cố tình giẫm mạnh lên vũng nước cho tiếng chân thật rõ. Cái bóng giáp quay theo tiếng, cúi người lách qua cửa trước, vành mũ cọ vào khung gỗ. Mặc đã đứng ngoài sân, ở đúng chỗ hắn định đứng sáng mai, cầm đầu dây bằng tay trái, và giật.
Cây chống trượt khỏi nửa vết dao. Cái xà mục rơi xuống vai kẻ mặc giáp, kéo theo cả mảng mái hắn vừa vá, ghì cái bóng xuống bậc cửa giữa một trận ngói đổ ầm ầm.
Mặc không đứng lại xem mà lăn tới chân giếng, bốc một vốc bùn lạnh trát kín trán, rồi ép người vào hõm tường tối nhất, ngậm chặt mép áo cho hơi thở khỏi thành tiếng. Trong đống ngói, cái bóng giáp chống đao đứng dậy, hất cái xà sang bên như hất một cành củi. Nó chưa chết, nó xoay đầu về phía giếng, đứng im, rồi xoay sang phía chính điện, đứng im. Không còn ánh sáng nào để theo nữa, nó chỉ đứng đó giữa sân, như một người quên mất mình định đi đâu.
Mặc ngồi trong hõm tường suốt phần còn lại của đêm, đếm hơi thở, lần này không đếm sai một hơi nào. Có lúc hắn đưa ngón tay vạch lên vách đất một nét, nét thứ chín, cho câu nàng kịp nói trước khi mọi thứ đổ xuống.
Khi nắng đầu tiên chạm xuống sân, cái bóng giáp vẫn đứng nguyên chỗ cũ. Nắng bò lên tới đâu, nó cứng lại tới đó, như một pho tượng người ta quên khiêng đi. Mặc chờ thêm một nén hương nữa mới dám bò ra. Mảng mái vá chiều qua đã sập hết, cái vò hứng nước vỡ dưới chân xà. Trong đống ngói, miếng cơm cháy hắn để dành cho nàng đã văng khỏi ngực áo lúc hắn lăn, bị cái xà đè nát thành vụn.
Hắn quỳ xuống nhặt từng vụn cho vào lòng bàn tay.
"Phần của ta, ta cho con mèo rồi."
Hắn vạch nét thứ mười, và lần đầu tiên từ đêm Hắc Kiếp, hắn cười được một cái thật.
Cái bóng giáp đứng cách hắn bảy bước, nắng đã phủ lên ngực nó. Lớp gỉ chỗ cái xà cào qua bong ra từng mảng, để lộ dưới chữ 七 một hàng chữ nhỏ, khắc nông, nét giống hệt những nét trên tấm bia đầu bậc. Mặc nheo mắt nhìn, chữ thứ nhất hắn đọc được, chữ thứ hai cũng đọc được, vì sáng nay hắn vừa lau chúng trên tấm bia.
"Chữ thứ ba vẫn là Phong."
Mặc vạch nét thứ mười một vào góc sổ. Từ cổng Thanh Đăng tới sáng nay, nàng nói với hắn đúng mười một câu.
Dưới số 七 trên ngực kẻ vừa định giết hắn là tên của ngọn núi này, Vọng Tinh Phong.
Mặc quay đầu nhìn vào chính điện, nơi ba trăm cái bấc nằm trên án không có lấy một ngọn lửa, rồi nhìn lại cái thân giáp không có tên đang đứng giữa nắng. Hắn chợt thấy lạnh hơn cả lúc nằm trong hõm tường đêm qua. Nắng tắt thì nó sẽ lại đi, mà hắn thì đã không còn mái để trốn.

