Thông báo ngừng phát hành tại Việt Nam

Từ ngày 01/01/2027, Last Lantern sẽ ngừng phát hành tại Việt Nam trên Google Play và App Store. Người chơi đã cài vẫn có thể tiếp tục chơi. Cảm ơn bạn đã đồng hành cùng Last Lantern!

Quyển 1 · Bấc Đen

Chương 4: Một mũi kim

12 phút đọc·

Mục lục18 px

Mặc đi vòng qua cái bóng giáp, cách nó đúng bảy bước như lúc sáng, rồi đứng ở góc sân nhìn ngọn núi lần đầu tiên bằng con mắt của người sẽ phải sống ở đây. Mái chỗ hắn định ngủ đã sập, cái vò hứng nước đã vỡ, tay nải không còn gì ăn, và cái bụng từ đêm qua đã thôi kêu, chỉ còn quặn lên từng cơn như có ai đang vắt.

Cái ăn đầu tiên hắn tìm được là nhờ cái mũi. Sau bức tường phía đông có mùi đất ẩm lẫn mùi lá đắng, thứ mùi chín năm nay hắn vẫn ngửi thấy mỗi lần mang tro ra đổ sau Dược đường. Qua một vòm cửa thấp phủ kín dây leo là một khu vườn đã hoang, cỏ lên tới đầu gối, nhưng những luống đá vẫn chạy thẳng tắp như có người vừa kẻ lại hôm qua, và lẫn trong cỏ là thứ dây lá hình tim hắn từng rửa cả rổ cho đệ tử Dược đường. Dưới mỗi gốc là một chùm củ non trắng bằng ngón tay.

Hắn bẻ đôi một củ, nhựa trắng ứa ra dính vào kẽ tay.

"Sư tỷ, thứ này Dược đường gọi là gì, ta chỉ nhớ mặt lá chứ không nhớ tên," hắn hỏi, giơ nửa củ lên trước mắt cho nàng nhìn.

"Hoài sơn, người dưới núi gọi là củ mài, ăn sống thì ngứa lưỡi, luộc hai lần và đổ nước đầu."

Giọng nàng không có gì ngoài mấy chữ ấy, phẳng như người đọc nhãn dán trên lọ thuốc. Mặc chỉ đào những gốc già, chừa lại gốc non cho lứa sau, rồi ôm củ ra giếng.

Gian bếp sau vườn còn một cái niêu đất sứt miệng mà đáy lành. Hắn nhóm lửa giữa ban ngày, lúc cái bóng ngoài sân còn đứng im như tượng, luộc củ, đổ nước đầu xuống rãnh, luộc lại lần nữa rồi ngồi ăn ngay trên bậc bếp. Củ bở và nhạt, để lại một lớp đắng dưới lưỡi, nhưng ăn hết ba củ đầu thì tay hắn thôi run. Củ thứ tư hắn bẻ đôi theo thói quen, đặt nửa to hơn lên chiếc lá bên cạnh, cách mình một khoảng vừa đủ cho một người ngồi.

"Đừng chia phần cho ta nữa," nàng nói. "Ngươi bày ra đấy rồi lại ăn, ta nhìn còn khó chịu hơn."

Hắn cầm nửa củ lên ăn, chậm, không cãi.

Chỗ ngủ mới hắn chọn trong chính gian bếp ấy, ở góc áp vào vách núi, nơi xà là một phiến đá liền chứ không phải gỗ. Góc ấy có một lối ra vườn thuốc, và một cái rãnh thoát nước luồn dưới chân tường ra tận sau giếng, đủ rộng cho một người bò. Lần này hắn gõ sống dao vào từng cây chống trước khi đặt tay nải xuống. Chín năm quét sân không dạy hắn được bao nhiêu về nhà cửa, nhưng một đêm nằm dưới cái xà mục thì đã dạy đủ.

Chiều đến, hắn làm cái việc duy nhất hắn biết làm cho một ngọn núi, là quét. Hắn bẻ một bó cành tre buộc làm chổi, quét từ cổng không cánh vào trong, dồn lá mục và ngói vụn ra hai bên, chừa một lối thẳng tới chính điện như mọi sáng hắn quét sân tổ đường trước giờ lễ. Cái bóng giáp đứng giữa lối ấy. Hắn quét vòng qua nó, cách bảy bước.

"Ta quét vòng qua, ngươi cứ đứng đấy," hắn nói với nó như nói với một vị trưởng lão khó tính, rồi lại quét tiếp.

Ngay sau cổng, đầu chổi cào phải những nét khắc nằm dưới lớp rêu. Mặc quỳ xuống bóc rêu bằng tay, lộ ra một phiến đá lát ngang mặt sân như một bậc thềm, trên đó có những hàng chữ ngắn, mỗi hàng kèm một mũi tên. Dưới chân cổng Thanh Đăng cũng có một phiến như thế, chỉ cho đệ tử mới lên núi biết đường nào nằm ở hướng nào. Hắn đặt ngón tay dưới hàng đầu tiên.

"Kiếm đường, hướng tây."

Hắn dời ngón tay xuống từng hàng, và nàng đọc theo ngón tay hắn, không sớm hơn một chữ.

"Tàng kinh các, hướng bắc, Đan phòng, hướng đông, Thực đường ở cạnh bếp."

"Hàng cuối còn nét nào không, ta thấy có một mũi tên chỉ xuống dốc."

"Còn một chữ Nam, phần sau vỡ mất rồi."

"Đan phòng ở hướng đông, mà bên ấy ta không thấy cái mái nào còn đứng."

"Bia chỉ ghi hướng, không ghi còn hay mất."

Nàng đọc tới đâu, hắn chép tới đó vào trang cuối cuốn sổ than, chữ nào không biết thì vẽ lại nguyên nét. Hàng thứ nhất làm hắn nhớ ra một câu trong cuốn sách mục ở Thanh Đăng, câu hắn từng đọc lướt qua vì nó chẳng nói gì về đèn. Người chép sách ghi rằng kiếm Vọng Tinh không dạy chém, chỉ dạy đâm vào một điểm. Hồi ấy hắn tưởng người chép đã chép nhầm, vì kiếm nào mà chẳng chém.

Kiếm đường nằm ở cuối dãy nhà phía tây, mái đã rơi hết vào trong, và một cây đa mọc từ giữa nền nhà đội cả mảng tường bật ra ngoài. Hắn mất trọn buổi chiều và cả buổi sáng hôm sau để bới đống ngói ấy, dùng một thanh gỗ làm đòn bẩy, dùng dao rựa chặt từng rễ con, và tới khi mặt trời lên cao thì vết bỏng trong lòng bàn tay phải đã nứt ra, máu thấm qua lớp vải băng, thấm cả vào mép cánh bướm giấy dưới đó. Phần củ để dành cho bữa tối, hắn ăn luôn vào giữa trưa, vì không ăn thì không nhấc nổi thanh gỗ.

Dưới gốc đa, rễ cây ôm lấy nửa dưới một tấm bia đá xanh như bàn tay ôm một vật quý. Hắn phải chặt đứt ba cái rễ to bằng cổ tay mới lôi được nó ra. Mặt bia khắc hình một người đứng chân trước chân sau, thân đổ về phía trước, cánh tay duỗi thẳng, và thanh kiếm trong tay người ấy chỉ là một đường mảnh như vết nứt, chạy ra tới tận mép đá thì dừng ở một cái chấm.

"Vọng Tinh Kiếm Kinh, thức thứ nhất, Châm, nghĩa là cây kim."

Nàng ngừng một lúc rồi đọc tiếp hàng chữ nhỏ bên dưới, chậm hơn, như đang dò từng nét đã mòn.

"Thu cả thân về một điểm, mũi kiếm nhỏ như kim, vật gì cũng có một chỗ để vào, ngươi tìm chỗ ấy chứ đừng tìm chỗ cứng mà chém. Phần dưới gãy rồi, các thức sau không còn ở đây."

Mặc ngồi xổm trước tấm bia rất lâu. Chín năm ở Thanh Đăng, mỗi sáng một nghìn nhát, hắn đã thuộc cách hạ vai, thu khuỷu, đặt chân trước thẳng hàng với chân sau, nhưng nhát nào của hắn cũng kết thúc ở khoảng không trước mặt. Trên tấm bia này, tất cả những thứ ấy dừng lại ở một cái chấm.

Hồi ở Thanh Đăng, gã sư huynh Kiếm đường có lần đứng xem hắn chém một lúc rồi cười.

"Vô Tâm, ngươi chém nghìn nhát mỗi sáng mà đèn vẫn không cháy, ngươi định chém tới lúc gió nó mỏi rồi tự dừng à?"

"Tới lúc tay ta biết nó đang đi đâu," hắn đã đáp thế, và cả bãi tập cười, vì chính hắn cũng không biết tay mình đang đi đâu.

Hắn lấy gai bồ kết chọc một lỗ nhỏ giữa chiếc lá bàng, treo chiếc lá lên sợi dây căng ngang cửa bếp, rồi ra giếng mài mũi con dao rựa. Hắn chỉ mài vừa đủ cho đầu dao nhọn lại, giữ nguyên phần bụng lưỡi để còn đào củ chặt củi, vì cả ngọn núi này hắn chỉ có đúng con dao ấy.

Nhát đầu tiên làm chiếc lá xoay tít trên dây. Nhát thứ hai xé toạc một mép. Nhát thứ ba trượt hẳn. Tới chiếc lá thứ năm, mũi dao vẫn chưa lọt qua cái lỗ lần nào, mà lỗ thủng nào cũng nằm lệch về bên phải lỗ gai, lúc xa lúc gần nhưng chưa bao giờ đổi phía.

"Lại bên phải," hắn lẩm bẩm. Hắn thay lá, đứng lại, đâm tiếp, cho tới khi băng tay lại đỏ và cánh tay phải rung lên như dây đàn.

Đến chiếc lá thứ chín, hắn không đâm nữa mà đứng nhìn cái bóng của chính mình đổ trên vách bếp. Bóng cánh tay duỗi ra, và ở cuối nhát đâm, cái bóng vai nhô lên một chút, như thể muốn với thêm.

"Vai, Mặc, tới cuối thì vai ngươi lại muốn đi trước cả kiếm."

Đó là câu nàng nói mỗi sáng trên bậc đá, suốt chín năm, sửa đúng một nhát ấy rồi mới ăn miếng cơm cháy. Có một lần hắn hỏi vì sao nghìn nhát mà nàng chỉ sửa có một.

"Vì chín trăm chín mươi chín nhát kia ngươi chém đều như nhau, sai thì cũng sai đều, chẳng có gì để sửa. Chỉ nhát cuối là ngươi muốn thắng, mà ngươi muốn thắng thì vai ngươi nhô lên."

Chín năm nàng sửa đúng một chỗ, chín năm hắn vẫn quên đúng chỗ ấy, vì lúc nào hắn cũng nghĩ phải thêm chút sức thì mới chạm được tới điểm xa nhất. Trong ngực bây giờ không có ai nhắc. Hắn đứng chờ cho bàn tay hết run, hạ vai xuống trước khi đưa dao lên, rồi để cánh tay đi nốt con đường nó đã đi chín năm, lần này không với thêm một chút nào ở cuối.

Chiếc lá không động đậy.

Mũi dao đã nằm ở phía bên kia, lấp kín cái lỗ gai, không có tiếng gió, không có kiếm khí, không có tiếng đá vỡ như trong những chuyện người ta kể về kiếm tiên. Chiếc lá vẫn treo trên dây, đứng yên, như chưa biết mình vừa bị xuyên qua. Mặc rút dao về thật chậm, chậm hơn cả lúc đâm, rồi gỡ chiếc lá xuống soi lên nắng. Cái lỗ vẫn tròn đúng như lỗ gai, không rách thêm một sợi.

"Không phải thêm sức," hắn nói, giọng nhỏ như sợ làm vỡ cái gì, "là bớt đi, sư tỷ sửa chín năm mà hôm nay ta mới hiểu."

Trong ngực không có tiếng đáp, chỉ có chỗ nóng nằm im như người đang ngủ quay lưng lại. Hắn treo lá lại, đâm tiếp tới khi trời xế, mười nhát trúng ba, rồi ba nhát liền sau đó đều trượt vì cổ tay đã run không giữ nổi. Tấm bia không cho hắn một giọt linh lực nào, hắn vẫn là Luyện Khí tầng ba, nhưng chín năm nghìn nhát mỗi sáng lần đầu tiên có một chỗ để tới.

Nắng còn chừng hai con sào thì hắn cầm dao ra sân.

Cái bóng giáp vẫn đứng nguyên chỗ cũ, đầu hơi cúi, vành mũ sắt che quá nửa trán, nắng phủ lên nó một lớp vàng như phủ lên một pho tượng.

"Ban ngày nó không động," nàng nói, "nhưng nắng tắt thì có."

Mặc đứng cách bảy bước, chờ rất lâu, không thấy bộ giáp động một ngón nào, rồi mới bước lại gần từng bước một. Dưới mép vành mũ, chỗ giữa hai hàng lông mày, ấn đỏ sẫm lại như máu khô, và chỗ sẫm nhất chỉ nhỏ bằng hạt gạo.

Vật gì cũng có một chỗ để vào.

"Ngươi có nghe được không," hắn hỏi cái mũ sắt, không biết vì sao mình lại hỏi, "ngươi có biết dưới ngực ngươi khắc tên ngọn núi này không?"

Không có tiếng đáp, không có cả một làn hơi làm mờ mặt sắt chỗ sát môi. Hắn hạ vai, đưa mũi dao tới. Đầu dao chạm đúng giữa chấm đỏ ấy, không lệch một sợi tóc, và bật ra một tia lửa nhỏ như khi người ta đánh đá lửa, khiến cả cánh tay hắn tê dại tới tận khuỷu. Ấn đỏ không xước một vạch, còn mũi dao vừa mài sáng nay đã mẻ đi một miếng bằng hạt tấm.

Mặc lùi lại hai bước, cúi nhìn mũi dao mẻ, rồi ngẩng lên nhìn cái trán dưới vành mũ. Nắng chạm tới đâu thì bộ giáp hoá tượng tới đó, và cái ấn cũng hoá đá theo.

"Ban ngày nó là đá," hắn nói, "muốn đâm vào thì phải đợi lúc nó sống, mà nó chỉ sống khi trời tối."

"Trời tối thì nó cầm đao."

Từ chỗ đứng gần như thế, hắn còn thấy một điều nữa. Từ chấm đỏ có một nét mảnh chạy ngược lên, chui vào dưới vành mũ, và vành mũ che kín, hắn không biết nét ấy dài tới đâu.

Hắn không đụng thêm vào nó nữa, vì con dao chỉ có một, mũi đã mẻ, đâm thêm lần nữa vào đá thì mẻ cả lưỡi.

Tối ấy không còn củ nào để ăn, hắn uống chỗ nước luộc thứ hai còn trong niêu cho đỡ cồn cào, trát bùn giếng kín trán, rồi nằm nghiêng trong góc bếp, áp mắt vào khe hở chừa sẵn ở chân vách. Tới khi trăng lên khỏi rặng núi phía đông thì ngoài sân có tiếng sắt kéo lê trên đá.

Cái bóng giáp đi một vòng quanh giếng, dừng trước chính điện, rồi đi chậm ra giữa sân, nơi không có mái nào che trời. Ở đó nó đứng lại, và lần đầu tiên từ lúc lên núi, Mặc thấy nó ngẩng đầu. Cái mũ sắt ngửa lên theo, chậm như một người già ngẩng nhìn trời, vành mũ nhích khỏi lông mày, và dưới ánh trăng lộ ra trọn chỗ mi tâm sẫm đỏ mà ban ngày hắn chỉ thấy được một nửa. Nó đứng như thế rất lâu, mặt hướng lên những vì sao, như đang tìm một ngọn lửa nào đó trên ấy mà không tìm ra.

Rồi nó cúi xuống. Vành mũ lại che kín mọi thứ.

"Sư tỷ thấy không," hắn thì thầm vào nền đất, "nó chỉ ngẩng lên lúc đi tìm sáng."

Nàng không đáp. Hắn biết vì sao, vì mỗi lần nàng cất tiếng là giữa khung đen trên trán hắn lại loé một đốm lửa bằng đầu kim, và đêm nay ngoài sân có kẻ đang đi tìm đúng thứ ấy.

Mặc nằm im, đưa ngón tay vạch lên nền đất một cái chấm. Ban ngày cái ấn cứng như đá. Ban đêm nó chỉ ngẩng đầu khi đi tìm ánh sáng. Muốn đâm trúng chỗ ấy, hắn phải để nó nhìn thấy mình.

Hết chương 4

Tự tay đưa họ về nhà trong game

Thắp lại đèn, dựng lại tông môn trong Last Lantern.

Google PlayApp Store