Sáng hôm sau Mặc dậy trước nắng, cầm cái chổi tre đi vào chính điện, và quét.
Chín năm nay ngày nào hắn cũng bắt đầu như thế, quét tro dưới án trước, lau đĩa đèn sau, rồi mới tới nghìn nhát kiếm. Ở đây không còn ai bắt hắn quét, không còn trưởng lão giữ hương nào trừ gạo, nhưng hai tay hắn cứ tự cầm lấy chổi. Hắn quét lớp bụi trăm năm dưới chân án, rồi lấy vạt áo lau từng đĩa đèn, lau quanh mép, chỗ khắc tên, không chạm vào sợi bấc giòn bên trong. Ba trăm cái đĩa, hắn lau tới khi nắng chiếu xiên qua lỗ mái thì mới hết một hàng.
"Ngươi lau làm gì," nàng hỏi, "họ có nhìn thấy đâu."
"Ở Thanh Đăng ta cũng lau đèn của người ta chín năm, có ai nhìn thấy ta lau đâu."
Nàng không nói nữa. Tới đĩa cuối hàng, hắn dừng tay, nghiêng mép đĩa ra phía nắng cho nàng nhìn rõ mấy nét khắc đã mòn.
"Sư tỷ đọc giúp ta tên này, ta muốn biết mình đang lau cho ai."
"Đọc rồi ngươi làm gì, khắc thêm ba trăm cái tên nữa cho dễ ngủ à?"
Hắn đặt cái đĩa xuống đúng chỗ cũ, ngay ngắn như lúc chưa nhấc lên, rồi lau sang hàng thứ hai. Ra tới sân, hắn thấy đêm qua gió đã dồn một đống lá khô vào chân cái bóng giáp, phủ kín lên tận mắt cá. Hắn đứng nhìn một lúc, rồi cầm chổi gạt đống lá ấy đi, cách bảy bước, bằng cán chổi dài, như người ta phủi bụi cho một pho tượng ở cổng chùa.
Bữa sáng là mấy gốc củ non hắn chừa lại hôm trước. Hắn ngồi xổm giữa luống rất lâu mới nhổ, vì nhổ hôm nay thì mười ngày nữa luống này không còn gì, mà không nhổ thì hôm nay không có sức để đi tìm thứ khác.
Tàng kinh các nằm ở phía bắc, đúng như mũi tên trên phiến đá chỉ đường. Mái đã sập xuống tầng dưới, những giá sách đổ chồng lên nhau thành từng gò, giấy mục dính vào đất như lá ủ, và cuốn nào hắn nhấc lên thì gáy rời ra ngay trong tay, để lại một vệt nâu trên vải băng. Hắn đặt cuốn sách ấy xuống thật nhẹ, như đặt một con chim đã chết, rồi không nhấc cuốn nào nữa.
Ngay cửa vào có một phiến đá dựng, khắc chữ chi chít theo hàng ngang. Ở Thanh Đăng, tàng thư cũng có một bảng như thế, ghi ngăn nào giữ loại sách nào để đệ tử khỏi lục bừa. Mặc đặt ngón tay lên hàng đầu.
"Kiếm phổ ở ngăn tây, tâm pháp nhập môn ở ngăn bắc, sổ việc của tông ở ngăn đông."
"Liễm Tức có nằm trong tâm pháp nhập môn không, hay phải là sách của người đã lên cao?"
"Ngăn bắc, hàng thứ ba, có hai chữ Liễm Tức."
Ngăn bắc nằm dưới chỗ sập nặng nhất. Hắn mất trọn hai ngày để bới tới đó, chống những thanh xà gãy bằng cây, buộc dây vào từng tấm ván mục rồi đứng ra ngoài mà kéo, vì người đã nằm một đêm dưới xà mục thì không chui đầu vào chỗ như thế lần thứ hai. Có một lần sợi dây cọ vào cạnh đá sắc, xơ ra từng sợi mà hắn không để ý.
"Dây sắp đứt."
Hắn buông tay đúng lúc, sợi dây bật tung ra như roi quất, tấm ván rơi xuống chỗ hắn vừa đứng. Dây thì giữ được hắn khỏi bị đè, nhưng không giữ được hai bàn tay.
Đêm giữa hai ngày ấy, hắn nằm trong góc bếp với lớp bùn trên trán, mở sổ dưới khe mái, vạch thêm một nét dưới hình trăng. Tính từ đêm Hắc Kiếp đã hơn mười đêm, trăng đã khuyết mất một nửa, rồi sẽ tròn lại, tròn ba lần, và tới lần thứ ba thì trời đếm sao. Tới lúc ấy hắn phải lên tới tầng năm, mà hắn ở tầng ba đã chín năm. Hắn gấp sổ lại, nghe tiếng sắt kéo lê ngoài sân, và tập ngủ trong khi bụng đói.
Chiều ngày thứ hai, một tấm ván kê giá trượt xuống khi hắn đang gạt đất bằng tay trái, đè lên hai ngón giữa. Hắn cắn mép áo cho khỏi kêu thành tiếng, rút tay ra thì móng ngón giữa đã đen lại, còn ngón kế bên sưng tím lên như một khúc củ.
Hắn ngâm tay trong nước giếng tới khi không còn thấy đau mà chỉ thấy lạnh, rồi quay lại bới tiếp bằng tay phải.
Dưới đáy ngăn bắc có một hộp đá to bằng cái gối, nắp đã rạn. Bên trong, những cuốn sách giấy đã thành bột, chỉ còn một phiến đá mỏng bằng hai lòng bàn tay đặt cạnh nhau là nguyên vẹn, hai mặt đều khắc chữ. Ở hai bên hai chữ lớn đầu phiến, mặt đá đã bị tay người miết tới nhẵn bóng, như có ai từng cầm nó rất lâu, ngày này qua ngày khác.
"Liễm Tức," nàng đọc. "Sáng là của đèn, không phải của người. Thu nó về như nước rút về giếng, đừng ép."
"Còn gì nữa không, ở dưới hàng ấy chữ nhỏ dày lắm."
"Ngươi cầm ngược."
Hắn xoay phiến đá lại, mặt nóng lên, chờ nàng đọc tiếp, nhưng nàng không đọc nữa, và hắn hiểu hôm nay chỉ được chừng ấy. Hắn gói phiến bia vào vạt áo, đặt riêng một chỗ, rồi lết sang ngăn tây tìm kiếm phổ. Ngăn ấy khô hơn mà lại tệ hơn, những thứ trong đó đã thành bụi mịn như bột gạo, hắn bốc một vốc lên thì gió lùa qua kẽ tay mang đi hết. Các thức sau thức Châm từng nằm ở đây, và giờ không còn chữ nào.
Ngăn đông là sổ việc của tông, mà sổ việc của một tông thì phần lớn không viết lên giấy. Hắn kéo ra được một chồng phiến gỗ mỏng xâu dây, loại phiến người ta treo trong bếp để ghi gạo xuất gạo nhập, mặt gỗ đen bóng vì tay người cầm, mực đã ngả màu nâu. Gỗ để trong hộp kín nên còn đọc được. Hắn mang chồng phiến ra chỗ có nắng, ngồi xuống bậc, và nhờ nàng đọc.
Phần đầu là những dòng khô khốc như mọi cuốn sổ bếp trên đời, ngày nào thu bao nhiêu thúng, ngày nào chia bao nhiêu phần, người nào nhận thay người nào ốm. Có một chữ lặp đi lặp lại ở đầu mỗi mùa, và nàng đọc nó mà không chờ hắn hỏi.
"Gạo ruộng nam. Năm nay ruộng nam được hai trăm tám mươi thúng, mất một thửa vì lở."
"Ruộng nam là ruộng ở dưới mũi tên chỉ xuống dốc trên phiến đá ngoài cổng."
Nàng không đáp mà đọc tiếp, tới phiến cuối cùng thì chậm lại. Nửa trên vẫn nét chữ quen, nhỏ và đều, ghi phần gạo của buổi sáng hôm ấy. Nửa dưới đổi sang một bàn tay khác, hoặc vẫn bàn tay ấy mà đang run, chữ to, nghiêng, có chỗ mực đọng thành giọt.
"Chiều nay gió đen tới sớm, đen hơn mọi lần, phủ kín cả trời nam. Kho chia hết gạo. Phần sáng mai phát luôn bây giờ, để sáng mai không ai phải tới nhận."
Bên dưới là một hàng dài những cái tên, xếp sát nhau tới tận mép phiến, lật sang mặt sau vẫn chưa hết, và cạnh tên nào cũng có một nét gạch nhỏ bằng mực, nét của người nhận đã nhận. Mặc không cần đếm cũng biết có bao nhiêu cái tên, nhưng hắn vẫn đếm, vì không đếm thì hắn không biết làm gì với hai bàn tay. Tới cuối mặt sau thì hắn đếm được ba trăm. Cái tên sau cùng nằm sát mép gỗ, nét gạch bên cạnh đậm hơn những nét khác, như người chia gạo xong cho mọi người rồi mới tự đánh dấu phần mình.
Hắn nghĩ tới ba trăm người xếp hàng trước cửa bếp trong một buổi chiều trời tối sớm, mỗi người ôm phần gạo của hai bữa, và không ai hỏi vì sao phải nhận phần sáng mai ngay từ chiều nay. Hắn nghĩ tới người viết, đã đứng ở đây cho tới khi người cuối cùng nhận xong, rồi mới cúi xuống gạch tên mình.
"Hắc Kiếp chỉ thu ba ngọn sáng nhất," hắn nói, "sao ở đây trời lấy cả ba trăm?"
"Ta không biết."
Nàng nói câu ấy không lạnh, cũng không giận, chỉ là không biết, và cái không biết ấy làm hắn sợ hơn mọi câu trả lời. Một lúc sau nàng nói thêm, giọng thấp hơn.
"Lão giữ bếp ở Thanh Đăng mà gặp ngày ấy chắc cũng làm y như thế, chia hết cho người ta rồi mới gạch tên mình."
Mặc không đáp. Lão giữ bếp mà nàng nhắc là người có hạt lửa đã nhảy sang bấc hắn ba tháng trước, và sáng hôm sau người ta khiêng lão ra khỏi bếp. Nàng không biết chuyện ấy, và hắn chưa bao giờ kể. Hắn ngồi im với phiến gỗ trên đùi cho tới khi nắng trôi khỏi bậc, rồi gói nó chung với phiến bia Liễm Tức, cột chặt, ôm vào ngực mà về.
Về tới bếp hắn mở sổ, ở trang có hình trăng, viết thêm hai chữ Liễm Tức cạnh dòng tầng năm. Dòng thứ ba, chữ gạo, hắn nhìn rất lâu, rồi đặt ngón tay lên dòng chữ trên phiến gỗ, hai trăm tám mươi thúng.
Ở Thanh Đăng, có năm ruộng dưới chân núi bỏ hoang vì người cày đi lính, sang năm sau vẫn có lúa lên giữa cỏ, thưa thớt, hạt lép, ấy là thóc rụng từ vụ trước tự mọc lại. Lão giữ bếp đứng trên bờ ruộng ấy, bóc một hạt lép cắn thử rồi nhổ ra.
"Lúa ma đấy, không ai trồng mà vẫn mọc, ăn thì ăn được, chỉ tội tốn công gấp ba lúa nhà."
Một năm thì lúa ma thưa, nhưng một trăm năm, mỗi năm rụng xuống rồi mọc lên một lần, thì ruộng sẽ thành thế nào, hắn không biết. Hắn chỉ biết nếu có lúa thì giờ là lúc lúa chín, vì sáng nay cỏ ven giếng đã ngả vàng ở ngọn.
Hắn đi xuống dốc nam khi mặt trời còn cách rặng núi chừng một sải tay.
Lối mòn đã mất từ lâu, hắn phải lần theo những bậc đá xếp, những bờ đất đắp, và tới chỗ khe núi mở ra thì hắn đứng sững. Cả sườn dốc phía nam là ruộng bậc thang, hàng trăm thửa nối nhau chảy xuống tận đáy khe như một cái thang khổng lồ ai bỏ quên. Bờ ruộng đã vỡ nhiều chỗ, cỏ tranh và cây dại mọc lút đầu người, nhưng giữa đám cỏ ấy, thửa nào cũng có những khóm lúa mọc thành đám, thân mảnh, lá hẹp, bông cong trĩu xuống, hạt đỏ sẫm như gỉ sắt.
Hắn lội xuống thửa gần nhất, nắm một bông lúa. Hạt rụng lả tả vào lòng bàn tay ngay khi tay hắn khép lại, không cần tuốt. Lúa đã chín tới mức chỉ chạm vào là rơi.
"Lúa dại," nàng nói. "Hạt nhỏ hơn lúa trồng, vỏ dày, chín là rụng."
Mặc đếm số hạt trong lòng bàn tay, hai mươi bảy hạt, đủ cho một con chim sẻ ăn một bữa. Hắn ngẩng lên nhìn những thửa ruộng chạy xuống đáy khe, đếm không hết, và lần đầu tiên từ đêm Hắc Kiếp hắn thấy trong đầu mình có một con số lớn không phải là số người chết.
Rồi hắn nhìn về phía nam, phía cuối khe núi.
Mây đã đùn lên đen kịt cả một góc trời, mép mây xám chì, gió mang theo mùi đất ướt từ xa thổi ngược lên dốc, rạp những bông lúa xuống. Lần này không phải gió đen của trời, chỉ là mây mưa thật. Nhưng lúa đã chín tới mức chạm vào là rụng, thì một trận mưa to sẽ đánh hết chỗ hạt ấy xuống bùn trước khi hắn kịp cúi xuống nhặt.
Hắn đứng giữa thửa ruộng, hai mươi bảy hạt thóc nằm trong bàn tay trái sưng tím, nghe tiếng sấm đầu tiên lăn qua đáy khe.

