Thông báo ngừng phát hành tại Việt Nam

Từ ngày 01/01/2027, Last Lantern sẽ ngừng phát hành tại Việt Nam trên Google Play và App Store. Người chơi đã cài vẫn có thể tiếp tục chơi. Cảm ơn bạn đã đồng hành cùng Last Lantern!

Quyển 1 · Bấc Đen

Chương 6: Lửa không sáng

11 phút đọc·

Mục lục18 px

Trận mưa đêm ấy chỉ quét qua đáy khe rồi trôi sang dãy núi bên kia, để lại trên ruộng nam một lớp gió ẩm và những đám mây cứ lởn vởn ở chân trời phía nam như đàn chó chờ chủ ngủ quên. Mặc biết mình chỉ còn mấy ngày, không biết là mấy, nên sáng hôm sau hắn xuống ruộng từ lúc sương còn chưa tan.

Lúa dại không thu như lúa nhà. Thân nó mảnh và đổ rạp vào cỏ, bông chín không đều, bông này đã rụng sạch thì bông bên cạnh còn xanh, và chỉ cần một cái chạm mạnh là hạt rơi hết xuống nước. Hắn không có liềm, mà có liềm cũng không dùng được. Hắn nhớ lão giữ bếp đứng trên bờ ruộng ma năm nào, nói với đám trẻ gánh nước như dạy một bài kiếm.

"Lúa này mà cắt bằng liềm thì về nhà ôm rơm. Phải đi lúc còn sương, hạt còn dính, kê rổ dưới bông mà cắt từng bông một, chậm như hái chè, nhanh tay là nó rụng cho chim."

Hắn kê cái rổ thủng đáy lót lá vào dưới từng bông, dùng dao rựa cắt cuống thật khẽ cho bông rơi gọn vào rổ, thửa này sang thửa khác, lưng cúi suốt từ sáng tới chiều. Lá lúa dại sắc như lưỡi cỏ tranh, tới trưa ngày đầu hai cánh tay hắn đã chằng chịt những vết xước mảnh như sợi tóc, mồ hôi chảy vào thì rát như xát muối. Hai ngón tay trái bị đè hôm trước không cầm được gì, nên mọi việc dồn cả sang bàn tay phải, bàn tay vẫn còn dính cánh bướm giấy dưới lớp băng.

Chiều nào hắn cũng gùi lúa về trước khi mặt trời chạm núi, rải lên mặt sân đá cho khô, rồi bốc một nắm thóc giã vội trong cái bát đá làm bữa tối, ăn lẫn cả cám, vì củ non trong vườn hắn đã nhổ tới gốc cuối cùng.

Ngày thứ ba thì cả cái sân trước chính điện đã phủ một lớp bông lúa đỏ sẫm, và cái bóng giáp đứng sừng sững giữa đám lúa ấy, bất động trong nắng. Lũ chim sẻ từ rừng bay về từng đàn, sà xuống đầu sân phía cổng, mổ được vài hạt rồi ngẩng lên thấy cái bóng sắt cao hơn người một cái đầu, lại vỗ cánh bay vụt đi. Chúng không dám đậu xuống chỗ nào trong vòng bảy bước quanh nó.

Mặc ngồi trên bậc chính điện nhìn cảnh ấy rất lâu, rồi bật cười, cười tới mức phải ôm lấy vết xước trên cánh tay.

"Cả núi này chỉ có nó là chịu canh lúa cho ta mà không đòi công."

Trong ngực không có tiếng đáp. Hắn vẫn cười thêm một lúc, một mình, giữa sân lúa phơi và ba trăm cái bấc nguội.

Chiều ngày thứ năm, mây phía nam đã dày lên thành một bức tường xám, gió đổi chiều, và Mặc sinh tham. Hắn ở lại thửa ruộng sát đáy khe, nơi lúa mọc dày nhất, cố cắt cho hết một thửa trước khi mưa. Khi ngẩng lên thì mặt trời đã lặn từ lúc nào, đáy khe tối đen, mà hắn còn cách sân chính điện hơn trăm bậc đá. Hắn gùi lúa leo lên, chân run, thở dốc, và tới bậc thứ bốn mươi thì nhận ra hơi thở của mình đã thành tiếng.

Trán hắn nóng lên. Trên mặt nước ruộng bên cạnh, một vệt sáng mờ đang hắt từ dưới lớp khăn ra.

Phía trên dốc có tiếng sắt kéo lê xuống từng bậc đá.

Mặc không nghĩ, hắn quăng gùi lúa sang bên, lăn xuống thửa ruộng ngập nước, úp cả mặt vào bùn. Nước lạnh tràn vào mũi, vào tai, hắn ngậm chặt miệng, hai tay bấu vào gốc lúa dưới bùn cho người khỏi nổi lên. Tiếng giáp dừng lại ngay trên bờ ruộng. Qua lớp nước đục, hắn nghe thấy tiếng sắt kêu khi cái bóng xoay đầu, xoay sang trái, xoay sang phải, rồi đứng im.

Hắn nín thở tới khi ngực như sắp nổ, mới nghiêng mặt ra đúng một kẽ mũi để hít, rồi lại úp xuống. Cứ thế, từng hơi một. Cái bóng giáp đứng trên bờ lâu tới mức nước ruộng ngấm qua áo vào tới xương. Khi nó đi, nó đi qua chỗ cái gùi, và hắn nghe tiếng thanh đao kéo lê qua những bó lúa, tiếng gót sắt giẫm lên, đều và nặng, rồi xa dần lên dốc.

Mặc nằm trong ruộng tới khi trời hửng mới dám bò lên. Gùi lúa của cả một ngày đã bị giẫm bẹp xuống nước, hạt rụng hết vào bùn, những bông còn lại nát như rơm.

Hắn không nhặt. Hắn đứng nhìn đống rơm nát ấy một lúc, rồi leo lên, run cầm cập, nhóm lửa trong bếp để hong người, và đó là lần đầu tiên từ khi lên núi hắn nhóm bếp mà không phải để nấu.

"Ngươi tham," nàng nói khi hắn đã ngồi sát bếp, hai đầu gối co lên tận cằm.

"Ừ."

"Một thửa lúa đổi một cái mạng, mà ngươi còn suýt đổi cả mạng ta."

Hắn không cãi được câu nào, chỉ đưa hai bàn tay lại gần lửa hơn.

Hai ngày sau mưa thật mới xuống, nhưng lúc ấy toàn bộ chỗ lúa còn lại đã khô và nằm trong bếp. Mấy ngày mưa dầm ấy hắn chỉ ngồi trong bếp mà giã. Cạnh bếp, dưới đống ngói của Thực đường, hắn đào ra được một cái cối đá lớn, lòng cối nhẵn bóng vì đã giã không biết bao nhiêu mùa gạo, và hắn chặt một khúc gỗ lim làm chày. Lão giữ bếp ngày trước cũng giã gạo trong một cái cối như thế, vừa giã vừa mắng bọn trẻ đứng xem.

"Giã bằng lưng chứ ai giã bằng tay, giã bằng tay thì tới trưa tay rụng, mà gạo vẫn còn nguyên vỏ."

Thóc lúa dại vỏ dày và dai, nện ba lần mới tróc một lớp, lòng bàn tay phải phồng lên rồi vỡ ra, hắn quấn thêm vải rồi giã tiếp. Tiếng chày nện xuống cối vang khắp sân, dội vào vách núi, đều đặn như tiếng tim, và hắn chợt nghĩ đã một trăm năm nay ngọn núi này không có tiếng chày nào.

Khi sàng xong mẻ cuối bằng cái nong rách, hắn đong lại bằng hai bàn tay. Bảy mươi vốc gạo đỏ, hạt nhỏ như hạt kê, vỏ cám còn bám. Tám ngày công, hai bàn tay, và một gùi lúa nằm dưới bùn đáy khe, đổi được chừng ấy. Ăn mỗi ngày hai vốc thì được ba mươi lăm ngày, mà tới trăng tròn thứ ba còn hơn hai tháng nữa. Hắn đổ gạo vào cái vò sành, đậy nắp, đè đá lên, rồi đứng nhìn cái vò rất lâu như nhìn một người vừa cứu mình nhưng chưa cứu đủ.

Đêm đó trời mưa, tiếng mưa đập lên mái bếp, và lần đầu tiên hắn nghe mưa mà không phải lo cho lúa.

Sáng hôm sau, Mặc đặt phiến bia Liễm Tức lên đầu gối, lật mặt sau lên, và hỏi nàng điều hắn để dành từ hôm ở tàng kinh các.

"Mặt sau ghi gì, sư tỷ?"

Nàng im một lúc lâu tới mức hắn tưởng nàng sẽ không đọc.

"Liễm Tức tới tầng năm thì xuống Ám Lô dưới Đan phòng mà thử. Lò chỉ nhận lửa không sáng. Lửa còn sáng là Liễm Tức chưa thành."

Đan phòng nằm ở phía đông, đúng như phiến đá chỉ đường, nhưng phía đông không còn mái nào đứng, chỉ có một bãi ngói vỡ trùm dây leo. Hắn bới hết một ngày mới tìm ra mép một cái cửa hầm lát đá, và cạnh viên ngói vỡ cuối cùng cứa một đường sâu vào ngón trỏ tay trái, một trong ba ngón còn lành của bàn tay ấy. Dưới cửa hầm là mười hai bậc đá dẫn sâu vào lòng núi. Ánh sáng ban ngày chỉ đi được tới bậc thứ chín.

Dưới ấy là một gian hầm thấp, mát và khô, giữa hầm có một cái lò tròn bằng đồng đen, cao chừng ngang thắt lưng, ba chân bám chặt vào bệ đá. Trên bụng lò nổi hai chữ, nàng đọc là Ám Lô. Cạnh bệ có một hộp đá, trong hộp là một xấp thẻ ngọc mỏng xâu dây, ghi phương thuốc, và hắn giơ thẻ đầu tiên ra phía cửa hầm cho có ánh sáng.

"Tụ Khí Đan, đệ tử Luyện Khí uống để linh khí vào người nhanh hơn. Ba vị, hoài sơn cho trước, lá ngải xanh cho khi hơi trắng tan, rễ đỏ cho sau cùng, lửa nhỏ và đều, không được ngắt."

Mặc nhìn hình vẽ lá và củ bên cạnh từng dòng, rồi nhận ra mình đã ăn một nửa phương thuốc này suốt mấy ngày qua. Vườn thuốc hoang sau bếp chính là vườn của Đan phòng.

Hắn bới lại khắp vườn, moi từng mẩu củ sót dưới gốc những dây hoài sơn hắn đã nhổ, hái thêm ngải và rễ đỏ, gom được đúng ba mẻ, không hơn, rồi xuống hầm nhóm lửa.

Củi khô cháy rất đều ở miệng hoả bên dưới lò, ngọn lửa vàng liếm lên đáy đồng rồi trượt sang hai bên như nước trượt trên lá sen. Hắn chờ hết một nén hương, đặt tay lên bụng lò thì đồng vẫn lạnh ngắt, lạnh như chưa từng có ai nhóm.

Lò chỉ nhận lửa không sáng.

Mặc dập củi, ngồi trong bóng tối, và nhớ tới một buổi ở Thanh Đăng, khi hắn bưng tro đi ngang Dược đường, đứng lại xem một sư huynh luyện đan lâu hơn một kẻ quét sân nên đứng.

"Vô Tâm, ngươi xem cũng vô ích," gã sư huynh nói mà không quay đầu. "Lửa luyện đan không phải lửa củi, là linh lực của ta đi qua bấc mệnh đăng mà thành lửa, bấc sáng thì lửa sáng. Bấc ngươi không có tim thì lửa ngươi ở đâu ra."

Bấc ai sáng thì lửa người ấy sáng, nên đệ tử Vọng Tinh phải luyện Liễm Tức tới tầng năm mới giấu được ánh sáng ra khỏi lửa của mình. Bấc của hắn thì chưa từng sáng một ngày nào. Nó chẳng làm được gì khác ngoài giấu.

Hắn dẫn một sợi linh lực từ đan điền lên, theo con đường chín năm nay vẫn đi mỗi tối, chậm, mảnh. Tới chỗ trong ngực có cái nóng của nàng, hắn nín thở.

"Đừng chạm vào lửa ta."

"Ta đi vòng."

Hắn đi vòng, cho sợi linh lực lách qua bên cạnh như người ta lách qua cạnh một người đang ngủ, chạm vào cái bấc đen, rồi đẩy nó ra cánh tay, ra đầu ngón tay đang đặt ở miệng hoả. Lần thứ nhất nó tản mất ở khuỷu. Lần thứ hai nó tới được cổ tay thì đứt. Lần thứ ba nó ra tới đầu ngón, và không có gì cả, không có ánh sáng, không có tiếng, không có hơi ấm.

Rồi bụng lò kêu một tiếng tách rất khẽ.

Mặc nhỏ mấy giọt nước trong bát lên lưng lò. Nước xèo lên, co lại thành từng hạt tròn, lăn đi, và biến mất thành hơi. Hắn đưa bàn tay lại gần thì hơi nóng ép vào da tới mức phải rụt về. Trong gian hầm vẫn tối đen như lúc trước, không một vệt vàng trên vách, không một cái bóng nào in xuống đất, chỉ có gò má phía quay về cái lò là bỏng rát lên.

Cái lò cả tông Vọng Tinh phải tới tầng năm mới nhóm được, kẻ Luyện Khí tầng ba vừa nhóm lên trong bóng tối, bằng cái bấc mà cả Thanh Đăng gọi là không có tim.

"Sư tỷ," hắn nói khẽ, "nó cháy rồi."

Nàng không đáp, nhưng hắn biết nàng thấy, vì nàng thấy mọi thứ hắn thấy, và lúc này hắn đang thấy một cái lò nóng rực mà không sáng.

Mẻ đan đầu tiên hỏng ở chỗ mà hắn không ngờ, là hắn không nhìn thấy lửa.

Ở Dược đường, người ta canh lửa bằng mắt, lửa xanh thì thêm, lửa đỏ thì bớt. Còn ở đây hắn chỉ có tiếng lò và hơi nóng phả vào mặt. Hắn cho củ vào trước như thẻ ngọc ghi, hơi trắng toả ra, mùi ngọt nhạt. Rồi hắn nghiêng người sang đọc thẻ tiếp theo dưới ánh sáng hắt từ cửa hầm, chỉ một lúc thôi, và sợi linh lực ở đầu ngón tay theo người hắn mà dồn mạnh lên một chút. Bụng lò kêu to hơn.

"Tiếng lò đổi rồi," nàng nói, giọng gấp lần đầu tiên từ khi xuống hầm, "ngươi rút tay về."

Hắn rút tay về, nhưng chậm mất một hơi, và cái lò im bặt.

Khi hắn mở nắp, trong lò chỉ còn một cục đen cứng như đất nung, mùi khét xộc lên cay mắt. Ba phần thuốc, một buổi sáng hái, một buổi chiều rửa, và toàn bộ chỗ linh lực hắn tích từ đêm qua, thành một cục than to bằng ngón cái.

Hắn cạy cục than ra, đặt lên lòng bàn tay, nhìn nó. Đầu ngón trỏ trái phồng lên một nốt bỏng ngay cạnh vết cắt, dù hắn chưa từng nhìn thấy ngọn lửa nào.

"Mẻ đầu của con bé cũng cháy đen như thế."

Giọng nàng vang lên trong ngực, không lạnh mà cũng không ấm, như người đọc lại một dòng trong sổ.

"Hồi đầu năm, nó lén xuống Dược đường luyện thử, cháy cả lò, khóc tới tối. Ta bảo nó lần sau sẽ được."

Mặc nắm chặt cục than trong tay.

Nàng không nói thêm câu nào nữa, và hắn cũng không hỏi. Hắn chôn cục than ở góc vườn thuốc, cạnh luống củ đã nhổ trụi, rồi quay xuống hầm, ngồi bên cái lò vẫn còn ấm trong bóng tối, đặt hai phần thuốc còn lại lên bệ đá trước mặt. Thuốc phơi khô thì để được lâu, nhưng vườn hoang phải hơn một tháng nữa mới mọc lại đủ một mẻ. Còn hai mẻ, và lần này không ai bảo hắn rằng lần sau sẽ được.

Hết chương 6

Tự tay đưa họ về nhà trong game

Thắp lại đèn, dựng lại tông môn trong Last Lantern.

Google PlayApp Store