Miệng hắn đầy vị sắt.
Mặc gập người xuống sàn bếp, một ngụm máu trào qua kẽ răng bắn lên mép phiến bia Liễm Tức thành những chấm đen, đầu gối hất đổ bát bùn đặt sẵn bên cạnh. Ngoài sân, tiếng sắt kéo lê bỗng khựng lại, và hắn vục tay vào chỗ bùn đổ, trát bừa lên trán, rồi nằm ép bụng xuống sàn, không dám ho.
Hắn đã đọc chữ thu trên phiến bia thành chữ giữ. Suốt từ lúc trăng lên, hắn ngồi thở, và mỗi khi hơi nóng trong ngực bắt đầu rỉ ra phía trán, hắn lại dồn linh lực chặn nó lại, ép ngược về, như người ta lấy tay bịt miệng một cái ấm đang sôi. Lần đầu nó lùi, lần thứ hai nó lùi chậm hơn, tới lần thứ năm thì cái ấm vỡ, và thứ vỡ ra là một mạch máu nào đó dưới xương ức hắn.
"Buông ra," Thẩm Chiêu nói, "để nó tự tan, ngươi giữ nữa là vỡ thêm một mạch."
Hắn buông ra, tay chân rã rời như vừa gánh nước cả ngày, và đốm sáng giữa trán chớp lên một cái dưới lớp bùn vì câu nàng vừa nói, rồi tắt. Ngoài vách, cái bóng giáp đứng im rất lâu, mũi đao chạm đất cách lối rãnh đúng hai bước, rồi mới kéo lê đi về phía chính điện.
Hắn nằm như thế tới khi chân trời phía đông hửng xám, nghe tiếng sắt đi xa dần rồi tắt hẳn.
"Sách không bảo nín thở," nàng nói khi nắng đã chạm tới chân giếng, "ngươi đọc chữ thu thành chữ giữ rồi."
"Ta sợ buông ra thì nó chớp."
"Chớp thì ngươi còn chạy được, vỡ mạch thì chỉ nằm đấy chờ nó tới."
Hắn không cãi, vì cả ngực hắn đang đồng ý với nàng.
Ngày hôm ấy hắn không chém nổi nghìn nhát, vì cánh tay phải vừa đưa lên đã kéo theo một cơn đau buốt dưới ngực, hắn chỉ đứng theo hình người trên tấm bia kiếm mà đưa mũi dao qua lỗ lá thật chậm, được mười nhát thì phải ngồi. Hắn ngâm phiến bia Liễm Tức vào nước giếng, miết từng chấm máu đã khô trên những dòng chữ cho tới khi đá sạch, và nàng không nói câu nào.
Buổi chiều, không cầm nổi kiếm, hắn xuống hầm Ám Lô. Hắn không đụng tới hai phần thuốc trên bệ, chỉ đổ nước vào lò, rồi dẫn một sợi linh lực thật mảnh qua cái bấc đen mà nhóm, và ngồi nghe. Nước reo lăn tăn như mưa bụi là lửa nhỏ. Nước reo thành tiếng như gió lùa qua khe là lửa vừa. Tiếng reo bỗng im bặt mà hơi nóng vẫn phả lên mặt là lửa đã quá tay, chỉ một hơi nữa thôi là nước cạn. Hắn nghe đi nghe lại tới khi thuộc ba tiếng ấy như thuộc tiếng chân trưởng lão giữ hương ở Thanh Đăng, rồi mới lên khỏi hầm. Mẻ đan đầu cháy vì hắn đi tìm ánh sáng để đọc thẻ ngọc, còn mẻ sau hắn sẽ không cần nhìn gì cả.
Đêm thứ hai hắn không ngồi sát phiến bia nữa, vì những dòng nàng đọc cho hắn chép từ hôm có gạo, hắn đã thuộc lòng. Hắn đặt trước mặt một bát nước giếng, ngồi sao cho bóng trăng không lọt vào bát, cúi xuống nhìn cái khung đèn đen giữa trán mình in trên mặt nước. Lần này hắn không chặn gì cả, hơi nóng rỉ tới đâu hắn để nó rỉ tới đó, chỉ dẫn linh lực đi chậm hơn, mỏng hơn, cho tới khi trong bát nước không còn vệt sáng nào.
Hắn ngồi yên được rất lâu như thế, lâu tới mức tưởng đã được.
Rồi hắn thử nắm lấy chuôi dao, chỉ nắm thôi, như lúc sắp đâm. Một chấm vàng bật lên giữa khung đen trong bát nước, sáng tới mức hắn thấy rõ cả lông mày mình. Hắn buông dao, úp khăn bùn lên trán, lùi vào góc tối, và lần này không có máu, nhưng hắn đã hiểu ra một điều tệ hơn máu. Liễm Tức của hắn chỉ giữ được khi hắn ngồi im như một hòn đá, mà ngồi im thì không làm được gì, không tu, không luyện đan, không cầm kiếm. Một người phải ngồi im để không bị thấy thì cũng chẳng khác gì một người đã bị thu.
Sáng ngày thứ ba, ngực vẫn đau, hắn ra giếng gánh nước.
Dây gàu ngắn, giếng sâu, mọi khi gàu chạm mặt nước là hắn giật mạnh một cái cho nước tràn vào cho nhanh. Hôm nay ngực đau, hắn không giật nổi, chỉ thả gàu xuống thật chậm, để nó nằm nghiêng trên mặt nước rồi đứng chờ. Nước tự tràn qua miệng gàu, từ từ, lặng lẽ, tới khi gàu tự chìm xuống, đầy tới miệng, mà cổ tay hắn không phải dùng chút sức nào.
Mặc đứng bên thành giếng rất lâu, tay cầm sợi dây đã căng.
"Nước không bị ai ép mà vẫn tự về," hắn nói, không biết là nói với nàng hay với cái giếng.
"Ta thấy."
Thu nó về như nước rút về giếng, đừng ép. Chín năm nay hắn chỉ biết một cách làm mọi việc, là gắng thêm, chém thêm, đếm thêm, và hắn đã đọc dòng chữ ấy bằng đúng cách ấy. Nước về giếng không phải vì có ai kéo, mà vì giếng nằm thấp hơn mọi chỗ quanh nó.
Hắn không vội vào thử ngay, vì ngực còn đau và trời còn sáng, mà ngồi xuống bậc giếng kéo gàu lên, lần này cũng chậm như lúc thả.
Chiều ấy hắn nấu cháo, vì họng đau, nuốt cơm khô không trôi, mà gạo trong vò thì mỗi vốc là một ngày, nên hắn đong đúng phần của mình, đổ nước gấp ba mọi khi, nấu nhừ thành một niêu cháo loãng. Khi bưng niêu ra khỏi bếp, hắn nghiêng tay, cháo dồn hết sang một bên, và đáy niêu lộ ra rõ tới từng vết cạo.
"Cháo của ngươi trong tới mức đem soi trán cũng được," nàng nói. "Mai khỏi phải múc nước giếng, cứ đặt bát cháo trước mặt mà luyện."
Tay hắn dừng lại trên quai niêu, hơi nóng phả thẳng vào mặt mà hắn quên cả nghiêng đầu tránh.
Suốt những ngày đào bia, bới sách, thu lúa, ngồi giữ lò, nàng chỉ đọc chữ khi hắn hỏi, hoặc bảo dừng khi hắn sắp tự làm mình bị thương. Còn bây giờ nàng vừa chê bát cháo của hắn, đúng cái giọng ngày xưa ngồi trên bậc đá chê nhát kiếm của hắn, đúng cái giọng chê cơm cháy của hắn cháy chưa đều, và hắn đứng ngây ra giữa bếp với cái niêu trong tay, không nhớ mình định đặt nó xuống đâu.
"Gạo ít," hắn nói, "không phải ta nấu dở."
"Gạo ít thì ngươi nấu dở theo kiểu khác."
Hắn bật cười, cười tới mức ngực đau nhói phải đặt vội niêu xuống, vừa ôm ngực vừa cười, nước mắt chảy ra mà không biết là vì đau hay vì cái gì khác. Nàng không cười theo, nhưng cũng không bảo hắn im.
"Ngày xưa sư tỷ chê cơm cháy của ta cháy không đều," hắn nói khi đã thở lại được, "giờ lại chê cháo của ta trong quá, ta nấu thế nào thì sư tỷ mới vừa lòng."
"Nấu sao cho ngươi ăn no. Ta có ăn được đâu mà đòi vừa lòng."
Hắn với lên kệ lấy bát, và tay hắn tự lấy hai cái, như mọi bữa ở Thanh Đăng, rồi dừng lại giữa chừng, vì hôm đầu tiên lên núi nàng đã bảo đừng chia phần cho nàng nữa. Hắn định cất một cái lại.
"Lấy ra đi," nàng nói, "đừng đổ gì vào, cứ để đấy."
Hắn đặt cái bát rỗng xuống bậc bếp, bên cạnh mình, cách một khoảng vừa đủ cho một người ngồi, rồi múc cháo vào bát của mình. Hắn ngồi ăn hết bát cháo loãng ấy, chậm, từng thìa, bên cạnh cái bát không, và lần này không vạch một nét than nào để đếm câu nàng nói.
Ăn xong hắn mang bát ra giếng rửa, và lúc hắn đang lau miệng bát thì nàng lại nói.
"Ta vẫn nhớ con bé."
"Ta cũng nhớ," hắn nói, "sáng nay thay băng tay, ta vẫn không dám vò mạnh chỗ có cánh bướm."
"Đừng nghe ta nói một câu về cháo rồi tưởng mọi chuyện khác đã qua."
Hắn đứng im, cái bát ướt trong tay, nước lạnh nhỏ từng giọt từ miệng bát xuống chân.
"Ta không biết bao giờ mới thôi giận được ngươi."
"Ta biết," hắn nói, và không nói thêm gì nữa, vì hắn biết thêm câu nào cũng thành xin.
Hắn úp cái bát lên thành giếng cho ráo, rồi nhìn xuống lòng giếng, nơi mặt nước tối lặng soi một vệt trời chiều mờ mờ, nhỏ hơn nhiều so với vệt sáng từng làm cái bóng giáp đi thẳng tới chỗ hắn nằm.
Đêm thứ tư, hắn ngồi ở ngưỡng cửa thông ra vườn thuốc, chỗ chỉ cần ngả người là lăn được xuống rãnh. Bát bùn đặt bên trái, khăn ướt trải sẵn, còn trước mặt hắn là một bát nước, và sợi dây căng ngang với chiếc lá thủng lỗ gai treo ở giữa, vừa tầm một nhát đâm.
Hắn để hơi nóng trong ngực rỉ ra như mọi lần, nhưng không chặn, cũng không đuổi theo. Hắn chỉ hạ mình xuống thấp hơn nó. Dẫn linh lực đi qua cái bấc đen xong, hắn không đẩy ra ngoài nữa mà để nó lắng về đan điền, như cái gàu nằm nghiêng chờ nước, và chỗ sáng đang rỉ ra ở trán tự trôi ngược về theo, vì dưới ấy thấp hơn. Trong bát nước, đốm vàng run lên, mờ dần, rồi tắt.
Hắn cầm dao lên, bát nước vẫn tối.
Hắn đứng dậy, bát nước vẫn tối.
Hắn hạ vai, đưa mũi dao qua lỗ gai, chiếc lá không động đậy, và khung đen trên mặt nước vẫn trống rỗng như suốt chín năm Thanh Đăng gọi hắn là Vô Tâm. Một hơi, rồi hai hơi, tới hết hơi thứ ba hắn rút dao về, và mặt nước vẫn tối. Sang đầu hơi thứ tư, hắn thấy sợi linh lực bắt đầu run như dây đàn căng quá, một vệt vàng mờ nhòe trên mặt nước, và hắn úp khăn bùn lên trán trước khi nó kịp sáng hẳn.
Ngoài sân, tiếng giáp vẫn đi về phía chính điện, không đổi hướng.
Hắn ngồi nghỉ cho tới khi sợi linh lực thôi run, rồi đứng lên làm lại lần nữa, lần này đã định trước một việc khó hơn.
"Sư tỷ, lúc ta đâm thì nói một câu," hắn nói khẽ, "câu gì cũng được."
Hắn để chỗ sáng lắng về, đứng dậy, hạ vai, đưa mũi dao đi. Đúng lúc mũi dao lọt qua lỗ gai, giọng nàng vang lên trong ngực.
"Mai nấu đặc hơn."
Mọi lần nàng cất tiếng là giữa khung đen trên trán hắn lại loé một đốm lửa bằng đầu kim, không sai lần nào, từ đêm ở Thanh Đăng tới giờ. Lần này mặt nước trong bát vẫn tối, và hắn nhìn cái bát rất lâu như nhìn một thứ không tin được, vì cái đốm lửa ấy không phải lửa của hắn mà là của nàng, và hắn vừa giấu được nó.
Mặc ngồi xuống, tay trái chạm vào mép bát bùn, rồi để nguyên đó rất lâu. Đêm đầu lên núi, ở tầng ba, hắn chỉ ngồi thở thôi trán đã rỉ sáng hắt lên vách đá. Bây giờ vẫn ở tầng ba, hắn giữ được kín cả lúc đứng dậy, cầm dao, đâm một nhát, trong ba hơi thở. Muốn che hẳn, che cả lúc chạy, lúc đánh, lúc ngủ mê, thì phải lên tới tầng năm, chưởng môn đã nói thế từ đêm ở Thanh Đăng, và trăng ngoài kia cứ mỗi đêm lại tròn thêm một chút.
Nhưng ba hơi là ba hơi, và cả đời hắn chưa từng có nhiều như thế.
Hắn áp mắt vào khe vách, nhìn ra sân. Cái bóng giáp đã đi ra giữa sân, chỗ không có mái nào che trời, đứng lại, và ngẩng đầu nhìn những vì sao như mọi đêm, vành mũ ngửa lên, mi tâm lộ ra dưới trăng. Mặc nhìn nó, rồi nhìn khoảng sân trống quanh nó. Mười mấy ngày nay sáng nào hắn cũng quét vòng qua nó, cách đúng một khoảng không bao giờ đổi, và chân hắn thuộc khoảng ấy còn hơn mắt.
Bảy bước.
"Ngươi đang đếm gì," nàng hỏi, khẽ tới mức đốm lửa trên trán hắn chỉ chớp đúng một lần.
Hắn đếm lại lần nữa cho chắc. Ba hơi thở, ba bước rồi ba bước nữa, còn dư cho bước cuối, vừa đủ bảy bước.
"Đường tới cái trán của nó," hắn nói.

