Tiếng sắt dừng ở đầu bậc hầm.
Mặc nằm co dưới chân lò, hai tay ôm cái hũ sành, nghe bàn chân giáp đặt xuống bậc thứ nhất rồi bậc thứ hai, nặng tới mức bụi trên vòm hầm rơi lấm tấm xuống má hắn. Tới bậc thứ tư thì vành mũ sắt cọ vào trần đá kêu một tiếng ken két dài, và cái bóng phải gập người xuống mới đi tiếp được. Gian hầm này người ta đào cho đệ tử Đan phòng ngồi canh lò, không đào cho kẻ cao hơn người thường một cái đầu.
Thanh đao vung lên thì vướng vòm. Lưỡi sắt chém vào đá tóe ra một chùm lửa vàng, soi sáng cả mười hai bậc, soi cả cái lò đồng và người đang nằm dưới chân nó, nhưng cái mũ sắt không cúi xuống nhìn. Nó chém tiếp vào vách bên trái, rồi vào bậc đá dưới chân mình, như một người say đánh nhau với chính cái bóng của mình, mỗi nhát lại kéo theo một trận đá vụn.
"Nó không thấy ngươi," Thẩm Chiêu nói rất khẽ. "Nó quên cả cách nhìn rồi."
Đốm lửa giữa trán hắn vừa chớp lên theo câu ấy mà cái mũ sắt vẫn quay về phía vách, nên hắn biết nàng nói đúng. Nhưng hắn vẫn úp tay lên trán, vì một kẻ say cầm đao thì không cần nhìn thấy ai cũng chém trúng được người ấy.
Cái bóng đứng trên bậc thứ tư rất lâu, rồi lùi lên từng bậc, lưng vẫn còng. Tiếng sắt kéo lê qua vườn thuốc, xa dần, rồi gần lại, rồi lại xa, không theo một vòng nào, cho tới khi trời hửng thì im hẳn.
Mặc chờ thêm một nén hương mới dám bò lên. Cái bóng giáp đứng giữa vườn thuốc, mũi đao cắm ngập vào luống củ đã nhổ trụi, đầu nghiêng hẳn sang một bên như người ngủ gục trên ghế. Nắng đã phủ lên nó, và giữa vết nứt trắng trên trán, cái mũi dao rựa gãy của hắn vẫn còn cắm ở đó, lấp lánh như một cái gai.
Gian bếp chỉ còn là một gò đá trộn ngói. Hắn bới cả buổi sáng bằng hai bàn tay và con dao cụt, cái chân trái buộc vải cứ phải duỗi thẳng ra sau như chân một con cò què. Phiến bia Liễm Tức nằm úp dưới ba hòn đá kê kiềng, sứt một góc mà chữ còn nguyên. Xấp phiến gỗ sổ gạo đứt dây xâu, văng ra khắp đống đổ nát, hắn nhặt từng phiến lên lau rồi đếm lại, vẫn đủ. Cái niêu sứt miệng nứt thêm một đường từ miệng xuống tận đáy mà chưa thủng. Cái bát rỗng thì nằm dưới cùng, dưới cả cái kệ gỗ gãy làm ba, và không vỡ.
"Bát không đựng gì thì nhẹ," nàng nói, "đá đè lên cũng chẳng biết đường mà vỡ."
Hắn lau cái bát bằng vạt áo, lau cả những chỗ không có bụi.
"Ngươi định đem nó xuống hầm à," nàng hỏi.
"Dưới hầm cũng phải ăn cơm, ăn một mình thì ta quen tay để thêm một cái bát rồi."
"Tuỳ ngươi, đừng đổ gì vào là được."
Còn số gạo trong vò thì hắn không nhặt lại nổi, vì gạo đã ngấm nước rãnh cả đêm, trộn với tro và đất vách thành một thứ cháo xám. Hắn vốc từng nắm rải ra góc sân phía cổng, chỗ lũ chim sẻ trước kia không dám sà xuống. Cái bóng giáp giờ đứng tận vườn sau, chúng kéo về từng đàn, mổ lấy mổ để, không con nào ngẩng lên sợ hãi gì.
Hầm Ám Lô thành chỗ ở mới. Hắn đặt bia và sổ gạo lên bệ đá cạnh hai mẻ thuốc khô, đặt cái bát cạnh chỗ mình ngồi, rồi kéo cái xà mục còn lành nhất của gian bếp xuống chặn ngang bậc thứ ba, chèn đá hai đầu. Một kẻ cúi người mà đi thì không bước qua được một cái xà ngang tầm đầu gối, và nếu nó có chém thì nó chém vào gỗ trước.
Chiều ấy hắn mở trang có hình trăng, viết thêm một dòng dưới chữ gạo, rằng gạo chỉ nấu vào ngày nhóm lò và ngày phá tầng, những ngày còn lại ăn củ rừng.
"Ngươi viết sổ cho cái bụng," nàng nói, "mà cái bụng ngươi thì không biết chữ."
"Nó không biết chữ, nhưng nó biết đếm, mỗi ngày một bữa củ là nó đếm ra ngay."
Củ rừng không như củ vườn. Phải lên tận sườn bắc, nơi những dây hoài sơn mọc hoang leo kín thân cây, củ già cắm sâu xuống đất đá như rễ một cây cổ thụ, và muốn moi được một củ dài bằng cánh tay thì mất trọn nửa buổi sáng. Mặc đào bằng một khúc gỗ vót nhọn, để dành con dao cụt cho việc khác, và tới trưa ngày thứ hai hắn đã thuộc mùi đất ở chỗ có củ, ẩm hơn và hơi ngái, như mùi bếp tro sau mưa.
Đêm đầu tiên nằm trong hầm, hắn nghe tiếng đao chém vào cái xà chặn bậc một lần, rồi tiếng sắt đi xa. Đêm thứ hai không có nhát nào. Tới đêm thứ ba hắn hiểu ra một điều làm hắn ngồi bật dậy trong bóng tối. Từ lúc lên núi, đêm nào hắn cũng phải trát bùn lên trán mà nằm đếm hơi thở, không ngồi tu được một đêm trọn vẹn. Bây giờ kẻ đi tìm ánh sáng đã quên mất mình tìm gì.
"Sư tỷ," hắn nói vào bóng tối, "nó không theo sáng nữa."
"Ta thấy rồi, một nửa cái ấn của nó nằm dưới mũi dao của ngươi."
"Vậy những đêm này là của ta."
"Những đêm này là của một kẻ say cầm đao đi lang thang ngoài kia. Ngươi chỉ mượn được thôi, đừng tưởng đã mua."
Hắn ngồi tu tới sáng mà không trát bùn.
Sáng hôm sau hắn nấu hai vốc gạo, ăn no lần đầu kể từ đêm bếp sập, rồi mới nhóm Ám Lô. Thẻ ngọc Tụ Khí Đan hắn đã nhờ nàng đọc ba lần từ hôm ở hầm, đọc tới khi thuộc từng chữ như thuộc lời cầu khấn trước giờ lễ, nên lần này hắn không cần ánh sáng nào cả. Xâu thẻ trong hộp đá còn mấy thẻ hắn chưa nhờ đọc tới, và thẻ cuối cùng mỏng hơn cả, chữ khắc nhỏ và dày như kiến bò, nét khác hẳn những thẻ trên, nhưng hắn chỉ nhìn qua rồi buộc xâu thẻ lại, vì không có gạo thì phương thuốc nào cũng chưa tới lượt. Hắn dẫn linh lực đi vòng qua chỗ nóng của nàng, chạm vào cái bấc đen, đưa ra đầu ngón tay, và đọc khẽ một lần cho chắc.
"Hoài sơn cho trước, lá ngải xanh cho khi hơi trắng tan, rễ đỏ cho sau cùng, lửa nhỏ và đều, không được ngắt."
"Ngươi đọc thiếu hai chữ, thẻ khắc là tuyệt đối không được ngắt, hai chữ tuyệt đối người viết đục sâu hơn hẳn những chữ khác."
"Lần trước ta ngắt vì phải đi tìm chỗ sáng mà đọc thẻ, lần này ta thuộc rồi, cả hai chữ ấy ta cũng thuộc rồi."
Rồi hắn ngồi nghe.
Nước trong lò reo lăn tăn như mưa bụi thì hắn cho củ vào. Hơi trắng bốc lên, mùi ngọt nhạt, rồi tan dần, tới khi tiếng reo đổi sang tiếng gió lùa qua khe thì hắn thả ngải. Có một lúc bụng lò kêu to hơn nửa nhịp, giống hệt cái nhịp ở mẻ đầu ngay trước khi nó im bặt, và bàn tay hắn rụt về trước cả khi hắn kịp sợ. Tiếng reo dịu xuống, hắn thở ra. Rễ đỏ cho vào sau cùng, lửa nhỏ và đều, không ngắt, từ lúc nắng còn ở bậc thứ chín cho tới khi vệt sáng ở cửa hầm ngả màu cam.
Hắn mở nắp bằng vạt áo, và dưới đáy lò có bốn viên tròn màu nâu sẫm, to bằng hạt đậu, nằm cách nhau như có ai cố ý đặt.
Mặc đổ chúng vào lòng bàn tay phải, bàn tay có cánh bướm giấy dưới lớp băng. Bốn viên còn ấm, không sáng, không có hào quang như những viên đan người ta kể trong chuyện, chỉ nặng hơn hắn tưởng một chút, và thơm mùi ngải.
"Bốn viên," Thẩm Chiêu nói. Nàng im một lúc rồi nói tiếp, giọng phẳng như đọc sổ. "Mẻ thứ hai của con bé chỉ được một viên, mà nó mang đi khoe khắp tông."
Hắn khép tay lại, không cười được, cũng không buồn được, chỉ ngồi đó với bốn viên đan ấm trong lòng bàn tay và một đứa bé mười hai tuổi đi khoe một viên đan khắp tông mà hắn chưa từng được nhìn thấy.
Đêm sau trăng tròn lần thứ nhất. Hắn tô kín hình trăng đầu tiên trong sổ, để trắng hai hình còn lại.
Viên thứ nhất hắn uống vào ngày thứ năm sau mẻ đan, sau sáu đêm tu liền không phải trát bùn. Dược lực tan ra trong bụng như một bát nước nóng, chảy theo đường kinh mạch chín năm nay hắn vẫn đi, đầy hơn, nhanh hơn, và lần đầu tiên trong đời hắn chạm tới chỗ tắc giữa tầng ba và tầng bốn mà vẫn còn sức. Chỗ ấy giống một cánh cửa gỗ đóng chặt, hắn biết bên kia có gì, hắn nghe được gió lùa qua khe cửa, và hắn dồn sức vào.
Cửa không mở. Linh lực dội ngược lại, ào lên cánh tay trái, chỗ kinh mạch nóng rực như ai đổ than vào trong da, rồi trào lên mũi thành hai dòng máu nóng chảy xuống cằm.
"Vai," nàng nói.
"Ta có nhấc vai đâu," hắn nói, ngửa cổ cho máu khỏi chảy vào miệng.
"Ngươi không nhấc vai, ngươi nhấc cả cái người lên. Cánh cửa người ta mở bằng tay, ngươi lại định húc bằng đầu."
Hắn ngồi đó, máu nhỏ từng giọt xuống mu bàn tay, và hiểu ra nàng không nói về cái vai thật. Tới cuối một nhát kiếm hắn muốn thắng thì vai hắn nhô lên. Tới cuối một con đường kinh mạch hắn muốn qua thì hắn cũng làm y như thế, dồn thêm, với thêm, chín năm vẫn một tật. Hắn đã hiểu chuyện ấy trên chiếc lá treo trước cửa bếp, vậy mà tới lúc cánh cửa này hiện ra trước mặt, cả người hắn lại quên sạch.
Viên đan ấy mất, kèm hai ngày tay trái không nhấc nổi bát nước. Hai vốc gạo nấu nhừ cho ngày hôm ấy hắn ăn trong ba bữa, nhai thật chậm, vừa nhai vừa nhìn ba viên còn lại trong ống tre.
Viên thứ hai hắn uống vào sáng ngày thứ chín, sau một bát cơm hai vốc nấu từ lúc trời chưa sáng, để bụng không réo giữa chừng. Lần này tới trước cánh cửa thì hắn dừng, không đẩy, chỉ để dòng linh lực dồn lại ở đó, đầy lên, như nước dồn trước một cái đập đất, và hắn ngồi chờ, đếm hơi thở, đếm tới hơi thứ hai trăm thì thôi không đếm nữa. Không có tiếng nổ nào. Chỉ có một lúc hắn nhận ra cánh cửa ấy đã không còn ở đó, còn dòng khí đã đi sang bên kia từ lúc nào mà hắn không biết, chảy chậm và rộng như một con sông vừa ra khỏi khe núi.
Mặc mở mắt thì gian hầm vẫn tối, cái lò vẫn nguội, nhưng mọi thứ trong người hắn như vừa được kê lại cho ngay ngắn.
Hắn lần ra trang đầu cuốn sổ than, chỗ mỗi năm sau lễ đếm đèn hắn ghi một dòng. Có chín dòng giống hệt nhau, nét than của thằng mười tuổi, rồi mười một tuổi, rồi mười tám tuổi, chữ nào cũng là tầng ba. Hắn viết dòng thứ mười, ấn mạnh tay tới mức đầu than gãy làm đôi ngay giữa chữ bốn.
"Sư tỷ nói một câu đi," hắn nói, cúi xuống bát nước đặt trước mặt. "Câu dài một chút."
"Chín năm ngồi bậc đá xem ngươi chém, ta đã tính sẵn tới năm ngươi ba mươi tuổi sẽ phải nói với ngươi thế nào cho đỡ buồn, mà giờ ta lại phải nghĩ câu khác."
Nàng nói hết câu, và mặt nước trong bát vẫn tối từ đầu tới cuối, không chớp lấy một lần. Ở tầng ba hắn chỉ giữ được ba hơi. Hắn úp mặt vào hai bàn tay, vai rung lên mà không có tiếng, và nàng để yên cho hắn như thế một lúc lâu.
"Thế năm ba mươi tuổi sư tỷ định nói gì," hắn hỏi khi đã ngẩng lên được.
"Định bảo ngươi thôi ghi sổ, ghi mãi một chữ thì nó cũng chẳng tự đổi thành chữ khác."
Hắn cười khan một tiếng rồi nằm ngửa ra nền đá, tay vẫn nắm cái ống tre đựng hai viên đan còn lại.
Sáng ngày thứ mười hắn trèo lên vườn sau để lấy lại thứ thuộc về mình. Hắn định đứng trong nắng, lấy một khúc gỗ dài khều cái mũi dao gãy ra khỏi vết nứt trên trán cái bóng giáp, vì không có mũi dao ấy thì Châm cũng chỉ còn là một cây gậy.
Nhưng mũi dao không còn cắm trên trán nó nữa, mà nằm dưới đất, ngay giữa hai bàn chân sắt, như có ai đã rút ra rồi thả xuống.
Mặc nhặt nó lên, rồi ngẩng nhìn. Vết nứt trắng chạy ngang mi tâm đã biến mất. Chấm đỏ sẫm bằng hạt gạo nằm nguyên chỗ cũ, liền lặn như chưa từng có ai đâm vào, còn cái nét mảnh quặp ngược lên chân tóc thì đỏ tươi như vừa được tô lại. Mười ngày hắn ngồi tu trong bóng tối không phải trát bùn, mười ngày ấy cái ấn cũng ngồi tự vá mình.
"Đêm nay nó hết say rồi," Thẩm Chiêu nói.
"Vậy là cái ấn tự lành được, mà lành từ chỗ nào thì ta không biết, đâm vào mi tâm rồi thì còn phải đâm vào đâu nữa."
"Ta cũng không biết, ta chỉ thấy những gì ngươi thấy, mà ngươi thì chưa thấy cái ấn ấy lành lúc nào."
Hắn về hầm, buộc kín ống tre đựng hai viên đan, trát bùn lên trán, chèn thêm hai hòn đá vào chân xà, rồi ngồi chờ trời tối như những đêm đầu lên núi.
Trăng lên quá ngọn cây thì tiếng sắt bắt đầu kéo lê trên đá. Nó không chém vào giếng, không chém vào cột hiên, không đi lạc qua vườn thuốc như mười đêm trước. Nó đi một vòng quanh sân, đều và chậm, rồi dừng lại cạnh giếng, ngẩng đầu tìm sao, y hệt cái đêm đầu tiên hắn đặt chân lên núi.
Mặc áp mắt vào khe xà, nắm chặt mũi dao gãy trong tay tới mức nó cứa vào lòng bàn tay. Hắn đã đâm trúng, đã trả bằng nửa số gạo, một gian bếp và một mũi dao, và cái ấn chỉ mất mười ngày để xoá hết. Lần sau có đâm trúng thêm một lần y như thế, nó cũng sẽ lại xoá.

