Thông báo ngừng phát hành tại Việt Nam

Từ ngày 01/01/2027, Last Lantern sẽ ngừng phát hành tại Việt Nam trên Google Play và App Store. Người chơi đã cài vẫn có thể tiếp tục chơi. Cảm ơn bạn đã đồng hành cùng Last Lantern!

Quyển 1 · Bấc Đen

Chương 10: Người dưới khe

11 phút đọc·

Mục lục18 px

Những đêm sau đó lại là những đêm trát bùn.

Mặc nằm sau cái xà chặn bậc, áp mắt vào khe hở, và lần này hắn không đếm hơi thở mà đếm bước chân của cái bóng giáp. Ở tầng bốn, hắn giữ Liễm Tức được lâu hơn hẳn, đủ để không phải nín thở mỗi lần nó đi ngang, nên hắn có thì giờ mà nhìn cho trọn một vòng đi của nó, điều suốt hai mươi đêm trước hắn chưa từng dám làm. Nó đi từ giếng tới chính điện, từ chính điện ra cổng, từ cổng vòng sang dãy nhà phía tây, và tới đó thì hắn mất dấu.

Nó biến khỏi khe nhìn chừng hai khắc rồi mới quay lại giếng, đứng ngẩng đầu tìm sao.

"Bên phía tây có gì mà đêm nào nó cũng phải ra tận đấy," hắn hỏi.

"Kiếm đường, cây đa, rồi tới mép khe," nàng nói. "Ngươi đào ở đấy hai ngày mà không nhớ à."

"Ta nhớ cây đa, ta không nhớ có cái gì đáng để nó đi ra đấy đêm nào cũng đi."

Sáng hôm sau hắn mài lại con dao. Phần lưỡi còn lại sau đêm bếp sập chỉ dài bằng một gang tay, hắn mài vát đầu gãy thành một mũi mới, ngắn và dày hơn mũi cũ, rồi thử Châm vào lỗ lá trước cửa hầm. Mười nhát lọt bảy, và hắn biết ba nhát hỏng là tại mũi dao chứ không phải tại vai mình.

Rồi hắn đi theo đường của cái bóng giáp ra phía tây.

Qua Kiếm đường, qua gốc đa đã bị hắn chặt mất ba cái rễ, có một vệt mòn chạy trên nền đá lát, rộng bằng hai bàn chân, lõm xuống tới mức nước mưa đọng thành một rãnh nông. Hắn đã đi qua chỗ này cả chục lần mà tưởng đó là rãnh thoát nước của tông. Vệt mòn dẫn thẳng ra mép khe tây rồi dừng lại ở một phiến đá nhô ra như cái bậc, và trên phiến đá ấy có hai vết lõm hình gót chân sắt, sâu tới mức một trăm năm đêm nào cũng có kẻ đứng đúng chỗ đó.

Mặc quỳ xuống mép đá, nhìn theo hướng hai vết gót quay mặt về.

Dưới đáy khe, cách chừng mười trượng, giữa một bãi đá lở phủ rêu xanh, có một bộ giáp nằm ngửa.

Nắng đang phủ lên nó.

"Nó ra đây nhìn người kia," hắn nói, giọng nhỏ hẳn đi.

"Hoặc nhìn chỗ người kia rơi xuống," nàng nói, "ngươi đừng nghĩ hộ nó, nó có nghĩ được gì đâu mà ngươi nghĩ hộ."

Ba ngày đầu hắn chưa xuống được. Chân trái còn kéo lê, sợi dây tay nải thì ngắn, mà vách khe lại dựng đứng, đá rêu trơn như mỡ. Hắn bóc vỏ cây gai ở bờ suối ngâm nước rồi bện thành dây, mỗi buổi chiều bện được dài một sải tay, buổi sáng thì đi đào củ ở sườn bắc. Tới ngày thứ tư dây đủ dài, hắn buộc một đầu vào gốc đa, thả một hòn đá to bằng cái đầu xuống thử, kéo lên, thả xuống, đủ mười lần mà dây không xơ một sợi.

Sáng ngày thứ năm hắn nấu một niêu cơm, ăn hết, rồi xuống khe.

Người dưới khe nằm ngửa giữa những tảng đá, một phiến đá phẳng to như cánh cửa đè ngang ngực và chân trái, chỉ có tay phải và đầu là còn ló ra. Cái mũ sắt đã bị đá đập bẹp một bên, vành mũ gãy văng đi đâu mất, nên cái trán nằm trơ ra dưới nắng, trọn vẹn, không gì che. Trên ngực giáp, phần còn thấy được bên mép phiến đá, chỉ sót lại một nét ngang khắc sâu, phần dưới đã bị đá nghiền phẳng.

Mặc đứng cách ba bước, nhìn cái trán ấy rất lâu.

Giữa mi tâm là một chấm đỏ sẫm bằng hạt gạo, giống hệt chấm trên trán cái bóng ngoài sân. Từ chấm ấy có một nét mảnh chạy ngược lên, cong như cái móc câu, đi qua chỗ mà ở người kia vành mũ vẫn che, chui vào chân tóc, và dừng lại ở một cái nút nhỏ thắt tròn như nút chỉ khâu. Lần đầu tiên hắn thấy cả cái ấn từ đầu tới cuối. Nó không phải một cái chấm. Nó là một mũi kim đã xâu chỉ, chấm đỏ là lỗ kim, còn nét quặp là sợi chỉ, đầu kia thắt nút trong chân tóc.

"Ngươi chép lại đi," nàng nói, "ta nhìn không đủ lâu để nhớ thay ngươi."

Hắn chép lại vào sổ, nét than run run, từng chỗ cong một.

Ban ngày cái ấn cứng như đá, hắn đã biết từ hôm mẻ mũi dao. Muốn biết nó làm gì khi bị đâm thì phải chờ tới lúc nó sống, mà người dưới khe này chỉ sống khi trời tối. Hắn ngồi chờ ở chỗ cao hơn ba bước, lưng tựa vào vách, cho tới khi vệt nắng cuối cùng rời khỏi đáy khe.

Lúc trời chạng vạng, những ngón tay phải của người dưới khe co lại, cào lên đá một tiếng khô. Rồi đôi mắt mở ra, xám đục, nhìn thẳng lên khoảng trời hẹp giữa hai vách khe, nơi ngôi sao đầu tiên vừa hiện.

Mặc tới gần từ phía tay trái bị đá đè, hạ vai, và đâm vào mi tâm.

Mũi dao mới lún vào như lún vào sáp, một đường nứt trắng chạy ngang chấm đỏ, y như đêm bên thành giếng. Nhưng hắn chưa kịp rút dao về thì nét quặp ở chân tóc đã đỏ rực lên, và đường nứt bắt đầu liền lại từ hai đầu vào giữa, như hai mép vải bị ai đó rút chỉ khép lại. Chưa hết nửa hơi, chấm đỏ đã lành như cũ, đẩy mũi dao bật ra khỏi trán.

"Đêm ở giếng mũi dao gãy mắc lại trong vết nứt," hắn nói, giọng run, "mũi dao kẹt ở đó nên nó không lành được, phải mười ngày mới đẩy ra nổi."

"Còn không có mũi dao thì nửa hơi."

"Nửa hơi."

Hắn trèo lên khi trời đã tối hẳn, vì cái tay phải của người dưới khe đã bắt đầu quờ quạng trên đá.

Ngày thứ hai xuống khe hắn thử ngược lại. Lúc chạng vạng hắn đâm vào nét quặp trước, ngay chỗ nó cong nhất, tính rằng cắt được sợi chỉ thì lỗ kim cũng hết đường khép. Nhưng mũi dao vừa chạm, cả cái ấn đanh lại như ban ngày, chấm đỏ cứng như đá, nét quặp cứng như sắt. Mũi dao trượt đi. Cánh tay phải của người dưới khe vung lên, chẳng nhắm vào đâu, nhưng mép cổ tay giáp đã quét qua cẳng tay trái hắn, rạch một đường từ cổ tay gần tới khuỷu.

Hắn lăn ra khỏi tầm với, ép vết rạch vào ngực, máu thấm ướt cả vạt áo.

"Lên ngay," Thẩm Chiêu nói, "đừng nhìn nữa, ngươi nhìn thêm một lúc thì nó vung tay thêm một lần."

Hắn leo lên bằng một tay rưỡi, mất gấp đôi thời gian lúc xuống, tới mép khe thì trăng đã mọc. Hắn nằm sấp trên phiến đá có hai vết gót sắt, máu từ cẳng tay rỉ xuống đúng một trong hai chỗ lõm ấy, và nghe tiếng sắt kéo lê từ phía giếng đang đi về phía mình, theo con đường đã mòn suốt một trăm năm.

Hắn chỉ kịp lăn vào bụi gai sau gốc đa, trát đất lên trán. Cái bóng giáp đi tới mép khe, đặt hai gót chân vào đúng hai vết lõm, đứng im, nhìn xuống. Nó đứng rất lâu, lâu hơn mọi lần hắn đếm ở khe xà, rồi mới quay về.

Bốn ngày sau đó cẳng tay trái hắn sưng tấy, không cầm nổi cái gì nặng hơn bát nước. Mưa dầm, củ rừng không đào được, hắn ăn những củ dự trữ đã luộc sẵn rồi nằm trong hầm nghe mưa. Tới chiều ngày thứ hai thì nằm cũng chán, hắn lấy than kẻ chín đường ngang chín đường dọc lên nền đá trước lò, nhặt hai nắm sỏi, một nắm trắng một nắm xám.

"Sư tỷ đánh một ván," hắn nói. "Sư tỷ đọc nước, ta đặt hộ."

"Ngươi đặt hộ thì ngươi thua chắc rồi."

"Sao lại chắc, tay ta đặt quân còn khéo hơn tay sư tỷ."

"Vì ngươi sẽ đặt đúng chỗ ta bảo, còn ta thì không bao giờ bảo đúng chỗ ta nghĩ."

Nàng nói đúng, vì tới nước thứ hai mươi, hắn phát hiện ra viên sỏi xám nàng bảo hắn đặt ở góc trái từ mười nước trước đã thành ra góc phải, và nàng thề rằng từ đầu nàng đã nói góc phải, là tại tai hắn bị mưa làm ướt. Ở Thanh Đăng, trưởng lão giữ hương thua nàng mười ván thì tám ván vì đúng cái trò ấy. Hắn thua ván đầu, thua ván thứ hai, tới ván thứ ba thì hắn lấy than ghi từng nước nàng nói lên vách hầm.

"Ghi thì còn gì là cờ," nàng nói.

"Ghi thì còn là cờ, không ghi thì là sư tỷ."

Nàng không đáp, nhưng tới cuối ván thứ ba, khi hắn thắng được hai quân, nàng bảo hắn đặt nốt viên sỏi cuối vào một chỗ vô nghĩa ở góc bàn, rồi bảo thôi, ván này ngươi thắng, giọng y hệt như ngày xưa nàng chịu thua trưởng lão giữ hương mỗi khi ông sắp phát cáu.

Hắn vui miệng bảo ván sau phải chừa một góc bàn cho con bé, vì con bé đánh cờ còn tệ hơn hắn. Cái bát nước cạnh bàn cờ tối đi và không chớp lại nữa. Hắn bày lại sỏi, gọi nàng ba lần, rồi ngồi nhìn bàn cờ tới khi trời tối hẳn, sau cùng lấy tay áo xoá chín đường than trên nền đá.

"Ngươi đứng nhìn người ta đọc tên nó," nàng nói khi hắn đã nằm xuống, "thì đừng nhắc nó như nhắc một đứa đi chợ sắp về."

Cẳng tay vừa đỡ sưng thì hắn lại đong gạo nấu một bữa, rồi xuống khe lần thứ ba. Lần này hắn không mang dao.

Hắn mang một hòn sỏi nhỏ, chờ tới chạng vạng, ngồi ngoài tầm cánh tay phải, rồi ném hòn sỏi trúng chấm đỏ giữa mi tâm. Chấm đỏ không nứt. Nhưng nét quặp ở chân tóc vẫn đỏ rực lên như lần trước, như người ngủ vừa bị chạm vào lỗ tai thì lập tức đưa tay lên. Hắn ném hòn thứ hai vào nét quặp. Cả cái ấn đanh lại như ban ngày.

"Lỗ kim gọi thì sợi chỉ tới vá," hắn nói, nhặt sỏi trong lòng bàn tay, "đâm sợi chỉ trước thì cả cái ấn khoá lại. Phải đâm lỗ kim trước, rồi đâm sợi chỉ lúc nó đang chạy tới vá, trong nửa hơi."

"Hai nhát trong nửa hơi."

"Phải, mà ở trên kia nét quặp nằm dưới vành mũ, đứng trên cao thì mắt thấy được mà mũi dao không với tới, vành mũ chắn ngang, như đêm ở giếng. Phải đứng thấp hơn nó, đâm từ dưới lên."

Thẩm Chiêu im một lúc lâu, trong khi ngoài khe ngôi sao đầu tiên đã hiện, và đôi mắt xám đục của người dưới phiến đá đang nhìn lên đó.

"Ngươi đâm được hai nhát vào người này bây giờ," nàng nói, "thì người này tỉnh dậy, rồi sao nữa."

Mặc nhìn phiến đá to như cánh cửa đè trên ngực người ấy, nhìn cái chân trái đã mất hút dưới đá lở.

Hắn không trả lời được.

"Ngươi gọi người ta dậy để người ta biết mình đang bị đá đè à."

Hắn cởi cái khăn trên đầu, cái khăn hắn vẫn quấn che trán từ Thanh Đăng, đắp lên mặt người dưới khe, chèn hai hòn sỏi vào hai mép cho gió khỏi lật. Rồi hắn cúi đầu một lần, như hôm đầu tiên cúi chào ba trăm cái bấc.

"Bao giờ ta nhấc được phiến đá này," hắn nói, không rõ với nàng hay với người nằm dưới, "ta quay lại."

Hắn trèo lên lúc trăng chưa mọc, về tới vườn thuốc thì đã muộn. Trong bóng tối hắn bước hụt chân vào một cái hố, ngã sấp xuống đất ẩm, mùi khét xộc lên mũi. Hắn sờ quanh miệng hố và nhận ra chỗ này. Góc vườn, cạnh luống củ đã nhổ trụi, nơi hắn chôn cục than đen của mẻ đan cháy hôm đầu tiên xuống Ám Lô.

Cục than không còn, đất bị bới tung lên tận đáy, quanh miệng hố là những dấu chân to hơn bàn tay hắn xoè hết cỡ, mỗi dấu có bốn móng cắm sâu, và những dấu chân ấy không đi về phía rừng. Chúng đi một vòng quanh vườn thuốc, rồi dừng lại trước cửa hầm Ám Lô, giẫm đi giẫm lại ở đó, như có thứ gì đã đứng rất lâu đánh hơi qua kẽ cái xà chặn bậc, chỗ đêm nào hắn cũng nằm ngủ.

Hết chương 10

Tự tay đưa họ về nhà trong game

Thắp lại đèn, dựng lại tông môn trong Last Lantern.

Google PlayApp Store