Đêm ấy Mặc không xuống hầm.
Một gian hầm chỉ có mười hai bậc đá dẫn lên một cửa, ngồi trong đó mà có thứ gì chặn ở cửa thì chẳng còn đường nào để chạy, kể cả đường bò. Hắn trèo lên cây đa giữa nền Kiếm đường, ngồi kẹp mình vào chạc ba cao nhất, trát một lớp bùn dày lên trán, để con dao trên đùi, và giữ Liễm Tức. Ngủ thì không được, vì ngủ là hơi thở tự đi theo ý nó, mà hơi thở tự đi thì cái chỗ nóng trong ngực lại rỉ ra như ngày đầu lên núi.
"Ngươi định ngồi trên cây tới sáng," nàng nói.
"Tới khi biết nó là cái gì."
Trăng lên được nửa con sào thì cây cối phía rừng bắc xào xạc. Một con thú bước ra khỏi bóng tối, thấp và dài, to bằng con bê, lưng phủ lông thưa xơ như cỏ cháy, từ cổ xuống ngực là những mảng vảy chồng lên nhau. Mỗi lần nó thở ra, kẽ vảy lại hé ra một vệt đỏ âm ỉ như than ủ dưới tro, rồi tắt khi nó hít vào. Cái mõm dài sát đất, mắt nhỏ híp lại gần như nhắm, nó không nhìn đường mà ngửi đường.
Nó đi thẳng tới cửa hầm, thò mõm qua kẽ cái xà chặn bậc, đánh hơi rất lâu, rồi liếm lên phiến đá cạnh cửa, chỗ hơi nóng của lò vẫn thoát lên mỗi lần hắn nhóm. Rồi nó quay đầu, mõm hếch lên trong gió, và bắt đầu đi về phía Kiếm đường.
Mặc ngồi im như một cục gỗ trên chạc cây. Hắn giữ Liễm Tức kín tới mức tự hắn cũng không còn thấy hơi ấm ở ngực mình, và con thú vẫn đi tới. Nó dừng ngay dưới gốc đa, đúng chỗ hắn đã đứng trát bùn lúc chiều, ngửi đi ngửi lại cái vũng đất ấy, rồi ngẩng mõm lên, hít một hơi dài về phía chạc cây.
Ngoài sân, cái bóng giáp đang đứng cạnh giếng ngẩng đầu tìm sao, bỗng quay mũ về phía Kiếm đường.
Con thú hạ mõm xuống, đứng thêm một lúc, rồi quay đi theo lối rừng bắc, không vội.
Mặc ngồi trên cây tới sáng, không chợp mắt. Khi trời hửng hắn mới tụt xuống, chân tay tê dại, và việc đầu tiên hắn làm là quỳ xuống nhìn vũng đất dưới gốc đa. Trong bùn có dấu bốn móng, dấu mõm, và một chỗ đất đã bị liếm sạch.
"Bùn che được mắt," Thẩm Chiêu nói, "không che được mũi. Nó không đi tìm ánh sáng như cái bóng ngoài sân, nó đi tìm lửa. Cục than mẻ đan cháy, hơi nóng của lò, cả cái chỗ trong ngực ngươi mỗi lần ngươi thở hở ra một chút, với nó đều là một mùi."
"Lúc ta ngồi im giữ Liễm Tức thì nó dừng lại."
"Lúc ngươi ngồi im thì nó dừng lại, tới đêm ngươi ngủ thì sao, ngươi định ngồi trên cây cả đời à."
Hắn không có câu trả lời, vì Liễm Tức của tầng bốn giữ được khi hắn ngồi, khi hắn đi, khi hắn cầm dao, nhưng tới lúc hắn ngủ mê thì không giữ được gì. Phải lên tầng năm mới che được cả lúc ngủ, mà tầng năm thì còn ở phía bên kia trăng tròn thứ hai.
Hai ngày sau đó hắn không đào củ mà đi tìm hiểu con thú. Chiều thứ nhất hắn đặt ở bìa rừng bắc hai thứ cách nhau mười bước, một mẩu than nguội và một mẩu củi đang cháy dở, rồi trèo lên cây ngồi xem. Con thú tới lúc chạng vạng, đi ngang qua mẩu than nguội như đi ngang hòn đá, đớp mẩu củi đang cháy nuốt chửng. Ngay sau đó cả mảng vảy ở cổ nó sáng bừng lên, đỏ như lò rèn, và sáng như thế lâu tới mức hắn đếm được hai mươi hơi thở mới tắt dần.
Chiều thứ hai trời mưa lâm râm, và hắn thấy nó đi một đường vòng rất xa để tránh mấy vũng nước đọng trên nền đá lát. Có một lúc giọt nước từ mái Kiếm đường nhỏ trúng lưng nó, xèo một tiếng, nó giật nảy người như bị roi quất.
Đêm ấy hắn lại ngồi trên cây, và lại thấy cái bóng giáp ngoài sân quay đầu về phía vệt đỏ trên cổ con thú.
"Nó sáng thì cái bóng ngoài sân nhìn nó," hắn nói khẽ.
"Ngươi định làm gì, ta nghe giọng ngươi là biết ngươi vừa tính xong."
"Ta cho con thú ăn lửa ngay cạnh giếng, vào lúc cái bóng giáp đi tới giếng tìm sao."
Nàng im một lúc lâu, lâu tới mức hắn tưởng nàng không định nói gì nữa.
"Ngươi định để hai thứ muốn giết ngươi gặp nhau."
"Ta định để cái thứ đi tìm ánh sáng gặp cái thứ vừa ăn lửa xong."
"Còn ngươi, lúc hai thứ ấy gặp nhau thì ngươi đứng ở đâu."
"Dưới giếng."
Hắn đã tính chuyện ấy từ đêm thứ nhất ngồi trên cây. Con thú sợ nước lạnh, mà nước giếng là thứ lạnh nhất ngọn núi này. Đêm nằm úp mặt dưới ruộng nam, ngực hắn lạnh tới mức chỗ nóng của nàng co lại thành một hạt nhỏ, hắn còn nhớ rõ. Ngâm mình dưới nước giếng thì lửa trong ngực hắn sẽ co lại như thế, mùi cũng co lại theo.
Ngày thứ ba hắn chuẩn bị, buộc sợi dây gai bện từ hôm xuống khe vào trụ giếng, đầu kia vẫn để nguyên cái gàu cho nặng, thả xuống tới mặt nước, rồi thả chính mình xuống theo dây, dùng mũi dao khoét vào khe đá vách giếng ba chỗ đặt chân, hai chỗ bám tay, chỗ thấp nhất nằm dưới mặt nước một gang. Dây có thể đứt, có thể cháy, có thể bị một nhát đao quét qua, còn những hõm đá thì không. Hắn mất trọn ngày, ngâm nửa người trong nước lạnh tới mức răng đánh vào nhau thành tiếng, và cẳng tay trái vừa khép miệng lại rách ra một chút.
Lúc trèo lên, hắn ăn một củ luộc nguội, đặt cái bát rỗng cạnh mình trên thành giếng như mọi bữa. Rồi hắn đi nhóm một bếp củi to ngay dưới chân giếng, đốt cho thật đượm, tới khi chỉ còn một lớp than hồng dày, phủ tro lên để giữ lửa.
"Nếu nó tới trước cái bóng giáp thì sao," nàng hỏi.
"Thì ta ngâm mình dưới nước lâu hơn."
"Nếu cái bóng giáp tới mà không nhìn nó."
"Thì ta ngâm lâu hơn nữa, sư tỷ cứ kể chuyện cho ta nghe, chuyện gì dài dài một chút."
"Ngươi ngâm dưới ấy mà ta kể chuyện thì trán ngươi sáng như cái đèn lồng, con thú khỏi cần ngửi."
"Vậy sư tỷ kể thầm."
Trời tối thì hắn gạt lớp tro đi cho than hồng lộ ra, rồi xuống giếng. Nước lên tới ngực, lạnh như có ai ép một tấm băng vào xương ức. Hắn bám vào sợi dây, chân đặt lên hõm đá thứ hai, giữ Liễm Tức và đếm hơi thở. Tới hơi thứ ba trăm thì chỗ nóng trong ngực đã co lại nhỏ bằng hạt đậu.
Con thú tới sớm hơn hắn tính.
Hắn nghe thấy nó trước khi thấy, tiếng đất bị móng cào và tiếng than nổ lách tách khi nó ngoạm vào bếp lửa. Rồi miệng giếng phía trên đầu hắn đỏ rực lên như ai vừa mở cửa lò. Con thú đã ăn hết bếp than, cả mảng vảy cổ sáng bừng, và nó không đi. Nó cúi mõm xuống miệng giếng.
Hơi thở nóng hổi phả xuống, mặt nước ngay trước mặt hắn bốc lên một làn khói trắng. Con thú gầm gừ trong họng, thò một chân trước xuống quờ quạng vào lòng giếng, móng vuốt cào lên vách đá ngay trên đầu hắn, rồi cào trúng vai hắn, rạch qua lớp áo, nóng như một cái que cời than.
Mặc buông dây, tụt xuống hõm đá thấp nhất, ngập tới cằm. Một cục than từ mõm con thú rơi trúng sợi dây gai, dây cháy đứt ngang trụ, cả sợi dây lẫn cái gàu rơi tõm xuống nước ngay cạnh vai hắn rồi chìm mất.
Rồi có tiếng sắt.
Tiếng sắt kéo lê trên đá không còn chậm và đều như mọi đêm. Nó đi nhanh, thẳng, về phía miệng giếng đang đỏ rực, và trước khi con thú kịp rút chân khỏi lòng giếng thì thanh đao đã bổ xuống. Hắn nghe tiếng vảy vỡ như sành, tiếng con thú rú lên chói tai, rồi cả miệng giếng tối sầm lại khi một thân hình đỏ rực lăn ra xa. Ánh than đỏ và ánh lửa trắng từ lưỡi đao chiếu lên vách giếng chập chờn, tiếng gầm, tiếng sắt va vào sắt, tiếng đá vỡ, rồi tiếng chân bốn móng chạy, rất nhanh, xa dần xuống phía dốc nam.
Sau đó chỉ còn tiếng sắt kéo lê, chậm, nặng, quay lại giếng, đứng ngay trên đầu hắn.
Mặc ngâm mình dưới nước giếng tới khi trời hửng. Cái bóng giáp đứng trên miệng giếng suốt đêm, có lúc ngẩng lên tìm sao, có lúc cúi xuống nhìn vào lòng giếng tối om, và lần nào nó cúi xuống thì hắn lại nín thở. Tới khi nắng chạm miệng giếng, hắn đã không còn cảm thấy hai bàn chân mình nữa.
Hắn trèo lên bằng những hõm đá đã khoét, đúng như đã tập. Cái gàu và sợi dây nằm dưới đáy giếng, còn hắn thì không còn sức để nghĩ cách vớt lên.
Cái bóng giáp đứng cạnh giếng, đông cứng trong nắng, quay mặt về phía dốc nam. Nửa bên trái bộ giáp cháy đen từ vai xuống hông, lớp gỉ bong tróc từng mảng, bàn tay trái cầm đao còn bám mấy mảnh vảy đỏ đã nguội thành màu gạch. Dưới chân nó là những vệt máu đen của con thú, chạy một mạch xuống dốc.
Ba ngày sau đó Mặc sốt.
Hắn nằm trong hầm, run cầm cập dưới mấy tấm vải, vai bỏng rát, và ngày thứ hai thì hắn đong một vốc gạo nấu thành một niêu cháo loãng, ngày thứ ba một vốc nữa. Hai ngày ấy Thẩm Chiêu nói nhiều hơn mọi ngày, toàn chuyện vớ vẩn, về cây lê sau tổ đường năm nào cũng ra hoa mà chẳng bao giờ ra quả, về con mèo già.
"Con mèo ấy ăn vụng cá khô của trưởng lão giữ hương ba năm liền, ông ấy cứ đinh ninh là ngươi," nàng nói vào buổi chiều thứ hai, đúng lúc mắt hắn bắt đầu díp lại. "Năm nào ông ấy cũng trừ của ngươi nửa bát gạo, ta biết mà không nói."
"Sao sư tỷ không nói."
"Vì nói ra thì người ta đuổi con mèo, còn ngươi thì bị trừ gạo cũng chẳng biết đường mà kêu."
Hắn cười tới mức ho sặc sụa, cơn sốt kéo theo cái ho đau tận vai. Hắn biết nàng nói để hắn khỏi ngủ li bì, để hắn tỉnh mà giữ Liễm Tức, và hắn cũng biết nàng sẽ không bao giờ thừa nhận chuyện ấy.
Sáng ngày thứ tư hắn đã đứng dậy được, việc đầu tiên là ra suối gánh nước bằng cái niêu nứt, vì giếng không còn gàu. Việc thứ hai là ra giếng, nhúng một mảnh vải vào nước, và lau bộ giáp cháy đen của cái bóng đứng trong nắng.
Hắn lau từ vai xuống, những mảng nhọ cháy đen bám trên gỉ sắt, lau xung quanh cái chữ 七 trên ngực, lau cả những ngón tay sắt còn bám vảy con thú.
"Ngươi lau giáp cho nó như ngày xưa lau đèn cho người ta," nàng nói.
"Đêm ấy nó đứng giữa ta với con thú."
"Đêm ấy nó đứng giữa con thú với ánh sáng. Ngươi đừng nghĩ hộ nó."
"Ta biết," hắn nói, vắt mảnh vải, nhúng nước, lau tiếp. "Lau thì có mất gì đâu."
Nàng không nói nữa, và hắn lau tới khi nửa bên trái bộ giáp chỉ còn màu sắt cũ, rồi đứng lùi lại một bước, nhìn lên cái trán dưới vành mũ, chỗ chấm đỏ và cái nét quặp chui vào bóng tối.
Hắn đã biết cái ấn được làm như thế nào, biết phải đâm đâu trước, đâm đâu sau, đứng ở đâu, và hắn đã có một cái giếng với năm hõm đá khoét sẵn ngay dưới chân kẻ đứng đây đêm nào cũng ngẩng đầu tìm sao. Gạo trong hũ đã vơi quá nửa, trăng ngoài cửa hầm chỉ còn thiếu một mép là tròn lần thứ hai, và con dao trong tay hắn chỉ còn đủ cho một lần đâm thật nữa.

