Mặc đã bảo Thất ở lại giữ núi, nhưng đi được nửa con dốc thì hắn nghe sau lưng có tiếng sắt khẽ chạm vào đá.
Hắn quay lại. Thất đứng giữa lối mòn cách hắn chừng ba mươi bước, cái gùi rỗng trên lưng, tấm chiếu cói rách trùm từ đầu xuống tận gối như một cái áo tơi, và đứng im phắc, như thể cứ đứng im đủ lâu thì người ta sẽ thôi nhìn thấy mình.
"Ta bảo ngươi ở nhà giữ bếp," Mặc nói.
"Bếp không có gạo thì giữ cái gì," Thất nói mà không nhúc nhích, "ngươi đi mua gạo, gạo thì nặng, ta chỉ đứng đây thôi, ta không có đi theo."
"Ngươi đứng cách ta ba mươi bước, mà cứ ta quay lại là ngươi đứng."
"Hồi mới lên núi ngươi cũng nép sau cột mà nhìn người ta y như thế," Thẩm Chiêu nói trong ngực hắn, "giờ người ta học lại của ngươi, ngươi còn định trách ai."
Mặc nhìn tấm chiếu cói một lúc, rồi vẫy tay. Thất đi tới ngay, bước nhanh tới mức vạt chiếu bay phần phật, và dừng lại sau lưng hắn đúng một bước, như người ta dừng sau lưng người dẫn đường.
Tấm chiếu là ý của Mặc từ tối qua. Hắn lôi nó ra từ dưới đống ngói Thực đường, khoét một lỗ ở giữa cho Thất chui đầu, kéo mép trước xuống thấp cho che cái vệt xám trên trán và chữ 七 trên ngực giáp. Nhìn từ xa Thất giống một đống rơm biết đi, nhìn gần thì giống một người rất to đang cố hết sức làm một đống rơm. Còn trán mình thì hắn để trần. Cái khăn duy nhất của hắn đang đắp trên mặt người dưới khe tây, và nghĩ cả đêm hắn vẫn không tìm ra lý do nào để đi xin lại.
Dưới chân núi phía đông nam có một con sông chảy chậm, và nơi con sông gặp đường cái là một cái chợ. Người quanh đây không gọi tên ngọn núi sau lưng hắn, nhưng gọi tên cái chợ rất to, chợ đèn, vì chợ họp từ lúc trời chưa sáng tới lúc trời tối hẳn, và suốt hai quãng tối đầu ngày cuối ngày ấy mái quán nào cũng treo đèn dầu. Lúc hai người tới thì đèn đã tắt, chỉ còn những cái chụp giấy, chụp đồng đung đưa dưới mái, và mùi khói dầu lẫn với mùi bánh rán, mùi cá phơi, mùi phân trâu.
Mặc đứng ở đầu chợ rất lâu.
Ba tháng nay hắn chưa thấy một người sống nào ngoài Thất, mà ở đây người đông như kiến vỡ tổ, đàn bà gánh rau, trẻ con luồn qua giữa hai chân trâu, một ông lão ngồi vá lưới dưới gốc gạo, vừa vá vừa cãi chuyện giá muối năm ngoái. Tiếng người dội vào tai hắn như nước dội vào một cái chum rỗng. Thất đứng sau lưng hắn, cái đầu trùm chiếu nghiêng sang trái, nghiêng sang phải, rồi dừng lại ở một quán bánh rán đang xèo xèo trong chảo mỡ.
"Chỗ này là chỗ ăn cơm," Thất nói, giọng như vừa nhận ra một người quen.
"Chỗ ấy là chỗ bán bánh, mà bánh thì phải có tiền, ta chưa có đồng nào."
"Thế thì chỗ này là chỗ nhìn người ta ăn cơm," Thất nói, và đứng nhìn tiếp, rất chăm chú.
Hắn đi vào giữa chợ thì những cái đầu bắt đầu quay theo. Không phải vì Thất, người ta liếc đống chiếu biết đi một cái rồi thôi, mà vì cái trán của hắn. Ở chợ này ai cũng có tóc mái, khăn vấn hay nón rộng vành, người tu tiên đi qua thì che trán còn kỹ hơn người thường, và giữa bao nhiêu cái trán che kín ấy có một cái trán để trần, giữa trán là một khung đèn đen, rỗng. Một thằng bé đang ăn dở xâu bánh chỉ thẳng tay vào hắn.
"Mẹ ơi, đèn người kia không có lửa."
Người mẹ kéo tay con lại rồi bế xốc nó sang bên kia đường như bế con tránh một cái xác trâu trôi sông. Mấy người đứng quanh cười, và một người nói với người bên cạnh hai chữ mà chín năm nay Mặc nghe đã quen như nghe tên mình, Vô Tâm. Ở Thanh Đăng người ta gọi hắn như thế vì đã biết hắn, còn ở đây người ta chỉ cần nhìn một lần.
Cổ hắn nóng lên, rồi nguội đi, vì giữa ngực hắn có một chỗ nóng hơn vừa lên tiếng.
"Cả đời người ta cười cái trán của ngươi," Thẩm Chiêu nói, "hôm nay nó che cho ta kỹ hơn mọi cái khăn, vì ai đi chợ cũng chỉ liếc qua một cái đèn tắt, chẳng ai đứng lại soi."
Hắn biết nàng nói đúng. Liễm Tức tầng năm giữ đốm lửa của nàng chìm im ngay cả giữa đám đông, và ở một cái chợ ai cũng che trán thì cái trán để trần không có gì đáng giấu lại là cái trán không ai muốn nhìn lâu.
Ở cuối dãy hàng thuốc, chỗ con đường rẽ xuống bến sông, có một người ngồi xổm cạnh ba cái sọt đựng chụp đèn cũ, một tay gõ bàn tính, tay kia cầm sợi dây buộc chân một con gà mái đang mổ thóc dưới đất. Ông ta gõ bàn tính bằng đúng một ngón tay, nhanh tới mức hạt gỗ kêu lách cách như mưa đá rơi trên mái, mà mắt không nhìn bàn tính lấy một lần, chỉ nhìn người qua lại. Dưới mái tóc hoa râm vuốt sụp xuống trán, Mặc thấy đốm đăng ấn của ông ta, một đốm lửa Luyện Khí nhỏ và mờ, nằm lệch hẳn về một bên như cục than người ta gạt sang mép bếp cho khỏi tắt.
"Lão Khúc," một người gánh nước đi qua gọi, "con gà hôm nay tên gì đấy?"
"Tên thằng Tư bán vải đầu chợ," ông ta nói, mắt vẫn không rời con đường, "nợ ta hai tháng rồi, hôm nào nó trả thì con gà đổi tên."
Rồi Lão Khúc nhìn thấy cái gùi rỗng trên lưng Thất trước, cái trán của Mặc sau, và ngón tay trên bàn tính dừng lại. Mặc ngồi xuống, mở ống tre, đổ ra lòng bàn tay bốn viên đan gói lá. Lão cầm một viên lên ngửi, nhíu mày, ngửi lần nữa, rồi đặt xuống chỗ cũ chậm hơn lúc cầm lên.
"Tụ Khí Đan, mùi ngải còn tươi," lão nói. "Ba linh thạch một viên, ta lấy cả bốn, khỏi mất công ngươi đi khắp chợ."
"Ngoài kia người ta bán tám."
"Ngoài kia người ta có lò, có tông, có cái đèn sáng trên trán. Đan nằm trong tay một cái đèn rỗng thì chỉ có hai đường mà ra, nhặt của người chết hoặc lấy của người sống. Ta mua thì ta gánh luôn cái đường ấy, nên ba là thương ngươi lắm rồi."
Mặc gói bốn viên lại. Bốn viên ấy là một mẻ thuốc khô hái từ vườn hắn quỳ nhổ cỏ, là một ngày ngồi dưới hầm nghe tiếng nước trong lò, là một đêm cái bấc đen cạn tới mức hắn không vận nổi một vòng công, và hắn đếm những thứ ấy lại trong đầu một lượt trước khi đứng lên.
"Ta không bán ba," hắn nói.
"Thì cứ đi hỏi," Lão Khúc nói, ngón tay lại gõ lên bàn tính, "hỏi khắp chợ rồi quay lại đây, lúc ấy ta trả hai."
Dãy hàng thuốc có hai quầy bán Tụ Khí Đan. Quầy nhỏ là một bà già bày đan trong cái mẹt, quầy lớn có mái che bằng vải xanh, trước mái cắm một lá cờ thêu hai chữ Thanh Vân, trên tấm bảng gỗ viết giá tám. Người xếp hàng trước quầy lớn dài tới gốc gạo. Đứng gần cuối hàng là một gã râu quai nón, vai áo ướt sũng, một tay xoa ngực, miệng lẩm bẩm với người đứng trước.
"Uống đan tám vào thì ngực tức như có hòn đá đè cả buổi," gã nói, "mà không uống thì chiều nay không kéo nổi bè qua ghềnh, cả đám lại phải nằm chờ nước lên."
Mặc đi tới, đứng cạnh gã, không đứng vào hàng.
"Đan của ta mười hai," hắn nói. "Ngươi uống ở đây, ngồi ngay cạnh ta, uống xong mà không dùng được thì ngươi khỏi trả, ta cũng không đòi."
Gã kéo bè nhìn cái trán của hắn rồi bật cười, cười to tới mức mấy người trong hàng quay lại.
"Vô Tâm bán đan, đan ấy chắc cũng không có tim," gã nói, rồi nhìn viên đan trong tay Mặc, nhìn tiếp cái hàng người còn dài tới gốc gạo, và chép miệng. "Uống trước trả sau, thế thì ta có mất gì đâu."
Gã ngồi xuống một hòn đá cạnh bến, nuốt viên đan, nhắm mắt vận khí. Mặc ngồi xổm trước mặt gã, nhìn lồng ngực to bè phồng lên xẹp xuống, và đếm. Hắn đếm tới ba mươi thì thấy hơi thở gã dài ra, đếm tới sáu mươi thì thấy bàn tay xoa ngực buông xuống đặt lên đầu gối, đếm tới gần một trăm thì gã mở mắt, nhíu mày, đặt tay lại lên ngực như tìm một thứ vừa đánh rơi.
"Không tức," gã nói.
Mặc không lấy làm lạ. Hắn chỉ cho ngải vào lò khi đã nghe đủ ba tiếng nước, và lửa đi ra từ cái bấc đen thì không sáng, không liếm, nên mép thuốc không cháy sém như đan nấu vội bằng lửa sáng, mà khói của mép cháy thì đọng lại trong ngực người uống.
Rồi gã đứng phắt dậy, lội xuống bến, cầm lấy sợi chão buộc đầu một cái bè gỗ mà hai người bạn đang ngồi chờ, quàng qua vai, và kéo một mình. Cái bè trườn lên qua chỗ nước nông một sải, hai sải, ba sải, sóng vỗ vào thân gỗ, hai người bạn nhảy cả lên bờ đứng nhìn. Gã buông chão, quay lại, đặt xuống trước mặt Mặc mười hai viên linh thạch hạ phẩm, mặt đỏ gay, thở mạnh mà không ôm ngực.
"Viên kia cũng mười hai à," gã hỏi, "đưa ta."
Rồi gã quay ra phía bến, nói với hai người bạn, to tới mức người xếp hàng trước lá cờ xanh cũng nghe thấy, rằng đan của cái đèn rỗng này êm hơn đan tám bên kia. Sau quầy vải xanh, một đệ tử áo xanh đang ghi đơn ngẩng đầu lên nhìn về phía này, nhìn khá lâu.
Mặc đưa hai mươi bốn viên linh thạch cho Thất cầm. Thất đếm bằng những ngón tay to gấp đôi ngón tay người, đếm tới mười thì hai viên trượt qua kẽ ngón rơi xuống bùn, nhặt lên, đếm lại từ đầu, tới lần thứ ba mới xong.
"Hai mươi tư," Thất nói, rồi ngẩng lên. "Là bao nhiêu bữa cơm."
"Bốn trăm tám mươi vốc gạo," Mặc nói, không cần tính, "hai người ăn được một trăm hai mươi ngày."
Thất nhìn nắm linh thạch trong tay rất lâu, như nhìn một bát cơm đầy.
"Nhiều," Thất nói.
"Nhiều," Mặc nói.
Lão Khúc đã đứng sau lưng hai người từ lúc nào, con gà mái kẹp dưới nách, bàn tính giắt thắt lưng. Lão không nhắc tới giá ba nữa, chỉ chỉ tay về phía một dãy nhà kho mái thấp sát bến, nói nhanh như nước đổ rằng dưới mái kho ấy ngồi được cả buổi, đan để trong bóng râm không chảy, mưa không tới, mà cả chợ đi xuống bến đều phải đi ngang qua cửa kho. Sáu linh thạch, ngồi được tới khi hết đan. Lão rút ra một tờ giấy, viết vài dòng, đưa cho hắn.
Mặc đọc. Chữ là chữ nàng dạy hắn, hắn đọc được hết, nhưng đọc được chữ chưa phải là biết người ta dùng chữ ấy ở chợ này như thế nào.
"Chữ thứ ba là chữ gửi," Thẩm Chiêu nói.
"Thì gửi đan ở đó mà ngồi bán, gửi cũng là để ở đó."
"Ta chỉ đọc cho ngươi nghe chữ gì thôi," nàng nói, "giá chợ này ta cũng có biết gì hơn ngươi đâu."
Hắn trả sáu viên. Lão Khúc cuộn tờ giấy lại đưa hắn, quay đi, con gà kêu lên một tiếng dưới nách.
Bốn linh thạch hắn đổi được tám mươi vốc gạo ở hàng gạo đầu chợ, tự tay đong, khiến bà hàng gạo cười tới mức phải ngồi xuống, vì chưa ai mua gạo mà đếm từng vốc như đếm tiền. Bốn linh thạch nữa đổi một con dao sắt thường, cán gỗ, lưỡi dài hơn gang tay, hắn cầm lên thấy nặng đầu, cổ tay chưa quen, nhưng chẻ củi được, đào củ được, và mỗi sáng đâm một nghìn nhát được. Một linh thạch cuối hắn mua một dải vải nâu sẫm, đủ quấn một vòng quanh một cái trán rất to.
"Mua khăn cho người ta mà không mua cho mình," nàng nói.
"Trán ta không có gì để che."
Chiều xuống, hắn đặt cái gùi đựng hai viên đan cuối cùng vào bóng râm dưới mái kho, vừa ngồi xuống thì một người đàn ông cầm chùm chìa khoá từ trong kho bước ra, nhìn tờ giấy trong tay hắn, rồi lắc đầu.
"Gửi là gửi," ông ta nói, "đem đồ tới thì ta khoá vào kho, hôm sau tới lấy, có ai được bày bán dưới mái này bao giờ. Muốn bán thì ra dãy sạp ngoài kia, hai linh thạch một ngày, có người ghi giấy hẳn hoi."
"Người viết tờ giấy này bảo ta ngồi được cả buổi."
"Thì ngươi cứ ngồi," ông ta nói, "ngồi tới tối ta cũng không đuổi, chỉ có điều ai đi qua đây cũng là đi xuống bến, chẳng ai đi xuống bến để mua đan của một người ngồi trước cửa kho."
Mặc quay lại tìm thì Lão Khúc đang đi ngược từ bến lên, như thể đi ngang qua tình cờ.
"Ta nói ngồi được cả buổi," lão nói trước khi hắn kịp mở miệng, "có nói cho ngươi bán cả buổi đâu. Mai ngươi xuống, ta thu xếp cho tờ giấy khác."
Rồi lão đặt bàn tay lên miệng cái gùi, ngay chỗ ống tre, nhẹ như đặt tay lên đầu một đứa cháu.
"Hai viên này để ta giữ hộ cho, khỏi mang lên mang xuống mỏi lưng."
Mặc kéo cái gùi về phía mình. Thất đứng dậy sau lưng hắn, tấm chiếu cói rơi khỏi một bên vai, và Lão Khúc rụt tay về, cười, nói mai gặp, rồi đi.
Về tới núi thì trời đã tối. Thất xin nấu bữa cơm có gạo mua đầu tiên, và Mặc để Thất nấu. Cơm dưới khê, trên sống, ở giữa có một lớp vừa chín. Mặc xới lớp giữa vào bát Thất trước, đợi Thất cầm đũa rồi mới xới phần còn lại cho mình, đúng như dòng chữ còn nâu màu máu dưới chân bia, và Thất nhìn hắn xới mà không nói gì, chỉ gật đầu một cái như người ta đánh dấu vào sổ. Lúc đặt bát xuống, bàn tay Mặc tự đưa sang bên trái như mọi bữa suốt mấy tháng nay, rồi dừng lại giữa chừng trên mặt bậc đá trống, vì cái bát hắn vẫn đặt ở đó giờ đang nằm trong tay Thất. Hắn rút tay về. Trong ngực hắn nàng cũng không nói gì.
Hắn mở sổ, ghi dưới dòng ngày cũ. Gạo bảy mươi sáu vốc, tiền chín, đan hai, mất sáu vì chữ gửi. Rồi hắn ghi một dòng mới cho mùa sắp tới, hai trăm vốc gạo qua mùa mưa, lợp lại bếp, một con dao, và gạch luôn hai chữ con dao. Ngoài sân, trên khoảng trời phía đông, chấm son vẫn nằm cạnh ba ngôi sao mới, không to thêm, không nhạt đi.
Hắn trải tờ giấy của Lão Khúc ra cạnh bếp lửa, đọc lại chữ gửi lần nữa, rồi gấp nó vào trong sổ. Sáu linh thạch đã mua được một chỗ râm cho cái gùi ngồi, không mua được một chỗ cho người bán. Sáng mai hắn phải xuống lại chỗ ấy, gặp đúng người đã lừa mình, mang theo hai viên đan cuối cùng, mà dưới chân núi bây giờ đã có ít nhất hai người biết chúng đáng giá bao nhiêu.

