Thông báo ngừng phát hành tại Việt Nam

Từ ngày 01/01/2027, Last Lantern sẽ ngừng phát hành tại Việt Nam trên Google Play và App Store. Người chơi đã cài vẫn có thể tiếp tục chơi. Cảm ơn bạn đã đồng hành cùng Last Lantern!

Quyển 1 · Bấc Đen

Chương 16: Mực trên trán

11 phút đọc·

Mục lục18 px

Trời chưa sáng Thất đã ngồi chờ ở bậc bếp, dải vải nâu cầm trong hai tay như cầm một sợi dây cương.

"Ta buộc không được," Thất nói khi thấy Mặc bước ra, "ngón tay ta to quá, nút nào thắt xong cũng tuột, ta thắt bảy lần rồi."

Mặc ngồi xuống sau lưng Thất, quấn dải vải một vòng quanh cái trán to bè, che kín vệt xám với mấy vụn son còn bám ở chân tóc, rồi thắt một cái nút dẹt sau gáy, loại nút người gánh nước ở Thanh Đăng vẫn thắt đầu đòn gánh cho khỏi tuột khi trời mưa. Thất đưa tay lên sờ dải vải, sờ rất lâu, từ thái dương bên này sang thái dương bên kia.

"Có thấy không," Thất hỏi.

"Không thấy gì cả, chỉ thấy một người quấn khăn."

"Thế thì người ta không gọi ta nữa," Thất nói, và lần đầu tiên từ hôm tỉnh, Mặc thấy đôi vai to bè ấy hạ xuống được một chút.

Cơm cho cả ngày Thất nấu một lần từ lúc gà rừng chưa gáy, bốn vốc, khê một mảng nhỏ ở đáy, đỡ hơn hôm qua. Mặc chia hai phần ăn sáng, hai phần gói lá mang theo, rồi đeo gùi lên. Cái sẹo bỏng trên vai trái kéo căng dưới quai gùi, đau nhói một cái, hắn chưa kịp nhăn mặt thì cái gùi đã được nhấc khỏi lưng, và Thất đeo nó lên vai mình như đeo một cái túi rỗng.

"Ngươi thấy ta nhăn mặt à," hắn hỏi.

"Không thấy," Thất nói, "ta thấy ngươi đeo gùi chậm hơn hôm qua."

Lão Khúc đã đứng chờ dưới mái kho từ sớm, con gà mái hôm nay buộc vào cột kho, mổ quanh chân lão. Lão không nhắc gì tới chuyện hôm qua, chỉ chìa ra một tờ giấy mới, mực còn chưa khô, rồi kéo hắn vào trong bóng râm như kéo một người cháu đi xem ruộng nhà mình.

"Giấy này khác," lão nói, "có chỗ ngồi hẳn hoi ở sạp đầu dãy, sạp đẹp nhất chợ, khách xuống bến lên bến đều phải đi ngang, tiền giữ chỗ sáu thôi. Ngươi không có sáu thì thôi khỏi trả, để ta cầm hai viên kia làm tin, mai bán được thì chuộc, ai lại làm khó người mới tới."

Mặc đọc tờ giấy. Hôm qua một chữ gửi đã lấy của hắn sáu linh thạch, nên lần này hắn đọc chậm, đọc cả những chữ mắt người ta hay trượt qua. Ở dòng cuối, viết sát mép giấy bằng nét nhỏ hơn hẳn mấy dòng trên, có ghi rằng quá ba ngày không chuộc thì người giữ được tự bán vật cầm. Bên cạnh tờ giấy lão đã đặt sẵn một cái nghiên mực nhỏ, mở nắp, chỉ chờ một đầu ngón tay cái chấm vào rồi in xuống.

Ngón tay cái của hắn dừng lại cách mặt mực đúng một đốt.

"Ba ngày," hắn nói. "Thuốc ta còn chưa mua, đan mới thì chưa biết bao giờ ra lò. Quá ba ngày thì hai viên này thành của ông, ông không cần lừa ai, chỉ cần ngồi đợi."

"Lệ chợ này người mới tới ai chẳng phải cầm đồ," Lão Khúc nói, không chối, chỉ cười. "Ngươi cứ hỏi khắp chợ xem."

Hắn không biết lệ chợ này có thật như thế không, cũng không biết sạp đầu dãy có thật là chỗ lão cho thuê được hay không, và những chỗ ấy thì đọc kỹ tới đâu cũng không ra.

Ở góc khuất nhất của mái kho, chỗ hai bức vách gặp nhau và nắng không bao giờ lọt tới, có một người đang ngồi mài mực. Người ấy mài chậm và đều, nghiên đặt trên đầu gối, cạnh chân là một cây cung bọc kín trong vải, và trên tấm giấy rộng trải dưới đất là một bức vẽ mà Mặc nhìn một lúc mới nhận ra là cái chợ này, dãy hàng thuốc, dãy kho, bến sông, gốc gạo, từng lối đi nhỏ giữa các quầy. Người ấy chấm bút sửa lại một nét đường cong chỗ bến, rồi chấm đầu ngón tay vào nghiên, đưa lên quệt một vệt mực ngang trán. Trước khi vệt mực phủ kín, Mặc kịp thấy bên dưới mép mực một đốm lửa Luyện Khí, vàng và gọn, rồi nó biến mất dưới một màu đen bóng còn ướt.

Người ấy đứng dậy, đi tới, rút tờ giấy ra khỏi chỗ ngay dưới ngón tay Mặc mà không hỏi một câu, liếc dòng chữ nhỏ ở mép giấy, rồi trả lại cho hắn.

"Ngươi đọc ra chỗ ba ngày rồi, thế là được một nửa," người ấy nói, giọng không lên không xuống. "Nửa kia không nằm trong giấy. Chợ này không có lệ người mới phải cầm đồ, mà cái sạp đầu dãy kia cũng không phải của lão."

"Thế sạp đầu dãy ấy là của ai," Mặc hỏi.

"Của bà bán cá, bà ấy ngồi đấy ba mươi năm rồi, lão mà đòi được cái sạp ấy thì lão đã chẳng phải ngồi xổm cạnh sọt chụp đèn." Người ấy chỉ ra phía ngoài mái kho, nơi có một tấm bảng gỗ đóng vào thân cây gạo, chữ đen viết to. "Sạp thuê theo ngày ghi ở kia, hai linh thạch, chủ sạp ghi giấy trước mặt ngươi, không ai cầm gì của ai."

Lão Khúc thở dài, thở to, rút tờ giấy khỏi tay Mặc, gập lại cất vào ngực áo, chẳng có vẻ gì xấu hổ.

"Ngươi lại phá việc ta," lão nói với người ấy, "tuần trước con gà nhà ta mang tên ngươi đấy."

"Thì nó còn sống không," người ấy hỏi, mắt nhìn theo tờ giấy vào ngực áo lão.

"Bán rồi, bán được giá hơn ngươi tưởng."

"Thế thì ta hết nợ," người ấy nói, rồi quay sang Mặc. "Hôm qua giấy viết chữ gửi mà miệng lão nói chỗ ngồi bán, hôm nay giấy viết đúng chữ cầm mà miệng lão rao cái sạp của bà bán cá. Chỗ nào có giấy thì lão viết đúng, lão chỉ nói dối ở những chỗ người mới tới không kiểm được."

Mặc mở sổ, nhìn tờ giấy hôm qua vẫn kẹp ở đó, rồi hỏi người ấy tên gì, và người ấy nhìn cái trán để trần của hắn một lúc lâu trước khi trả lời.

"Nguỵ Tranh."

"Ta trả công cho ngươi thế nào," hắn hỏi.

"Một thỏi mực," Nguỵ Tranh nói, "ở quầy bút giấy cạnh hàng muối, một linh thạch. Đừng mua của lão, mực của lão pha tro."

Mặc mua thỏi mực, đặt vào tay người ấy, không nói thêm câu cảm ơn nào cho dài vì hắn không biết nói câu cảm ơn cho dài. Rồi hắn thuê sạp ở dãy ngoài, hai linh thạch, nhìn chủ sạp ghi giấy trước mặt mình, đọc từng chữ, lần này không có chữ nào hắn không hiểu. Sạp là một tấm ván kê trên hai cái chõng, mái lợp lá cọ thủng hai chỗ. Hắn trải một tàu lá chuối, đặt hai viên đan lên giữa, rồi lấy than viết lên một mảnh gỗ, Tụ Khí Đan, mười hai.

"Ngươi đọc giá gạo còn kỹ hơn đọc giấy bán mình," Thẩm Chiêu nói lúc hắn dựng mảnh gỗ lên.

"Hôm qua sư tỷ có nhắc ta rồi."

"Ta nhắc một chữ, ngươi nghe nửa chữ, thế mà còn đem ra kể công cho ta."

Cả buổi sáng không có ai mua. Đám kéo bè hôm qua đã ngược sông từ sáng sớm, cái bến vắng tanh, và người đi chợ thì đi qua sạp hắn như đi qua một gốc cây, liếc cái trán, liếc tấm bảng mười hai, rồi đi tiếp về phía lá cờ xanh. Có một người đàn bà dừng lại cầm viên đan lên ngửi, hỏi sao đắt thế, nghe hắn nói uống trước trả sau thì đặt viên đan xuống như đặt một con nhái, và đi luôn.

Nguỵ Tranh không về mà kéo tờ bản đồ chợ ra ngồi ở đầu dãy sạp, chỗ có một mảng bóng râm của cây gạo, vẽ tiếp, thỉnh thoảng ngẩng lên nhìn dòng người như đếm.

"Ngươi ngồi chỗ sáng nhất chợ," người ấy nói, mắt không rời tờ giấy, khi Mặc mang bát nước qua. "Đan không ưa nắng, người bán đan càng không nên ưa."

"Sạp này còn trống, sạp chỗ ngươi ngồi thì có người thuê rồi."

"Thì mai thuê sớm hơn người ta. Ở chợ này người ta che trán vì có cái để giấu," Nguỵ Tranh nói, chấm bút, "ngươi để trần vì chẳng có gì. Hôm nào có gì thì nhớ mua mực của ta, ta bán rẻ hơn lão."

Mặc không đáp, và trong ngực hắn chỗ nóng của nàng nằm im dưới Liễm Tức, im như than vùi, và hắn không biết người ngồi dưới gốc gạo kia nói câu ấy vì đùa hay vì đã nhìn thấy một cái gì.

Trưa có một trận mưa rào đổ xuống từ phía sông, tạt ngang qua mái lá cọ, và Thất đứng dậy, không ai bảo, ra đứng ở phía mở của sạp, giang tấm chiếu cói ra sau lưng. Nước chảy ròng ròng từ đầu xuống chân, trên tàu lá chuối hai viên đan không ướt một giọt. Lúc mưa tạnh thì một thằng bé lội nước chạy tới, chính là thằng bé hôm qua chỉ tay vào trán Mặc, đứng cách sạp năm bước, ngửa cổ nhìn Thất như nhìn một cái cây vừa biết đi.

Thất mở gói lá phần cơm trưa của mình, bẻ một nắm, đưa ra.

Thằng bé ngần ngừ, rồi chạy tới giật lấy nắm cơm, nhét vào miệng, nhai, và nhăn mặt.

"Cơm khê," nó nói, miệng vẫn còn đầy.

"Ừ," Thất nói, rất nghiêm, "ta nấu, ta xin lỗi cái niêu rồi."

Thằng bé nhai tiếp, nuốt, rồi chìa tay ra xin nắm nữa. Thất đưa tiếp, không hỏi gì. Mặc nhìn gói cơm của Thất vơi đi một nửa và định nói rằng gạo bây giờ phải đếm từng vốc, nhưng thằng bé đã ăn xong, liếm tay, rồi chạy đi mà không chỉ vào trán ai cả.

"Cả buổi chưa bán được viên đan nào," Thẩm Chiêu nói, "mà nồi cơm của nó đã có một khách quen."

Tới chiều muộn vẫn không có ai mua, Mặc ngồi nhìn hai viên đan trên tàu lá, và tính. Hai linh thạch tiền sạp, một linh thạch thỏi mực, chín còn sáu, hai viên đan vẫn là hai viên, sáu linh thạch bị lừa hôm qua vẫn mất, cái dòng chữ nhỏ hắn tự đọc ra hôm nay chỉ giữ hắn khỏi mất thêm, không trả lại được cái đã mất. Hắn không hạ giá. Nếu hạ xuống tám thì đan của hắn đứng ngang đan cờ xanh, mà một cái đèn rỗng đứng ngang một cái tông có cờ thì người ta sẽ mua của tông có cờ.

Rồi trời tối, và chợ thắp đèn.

Mặc chưa thấy cảnh ấy bao giờ. Từ đầu chợ tới bến sông, dưới mái quán nào cũng có người kiễng chân châm một ngọn đèn dầu, ngọn này nối ngọn kia, chụp giấy đỏ, chụp giấy vàng, chụp đồng đục hoa, cho tới khi cả cái chợ là một dòng sông lửa nhỏ chảy song song với con sông thật, và mặt nước đen bên dưới bến cũng sáng lên theo. Người ta không về, người ta ngồi lại ăn bánh, uống rượu, cãi nhau to hơn ban ngày. Ở một quán nước gần bến có ai đó gảy một cây đàn đứt mất một dây.

Thất đứng sau lưng hắn, mắt nhìn dòng đèn không chớp. Bàn tay phải của Thất đã nắm chặt cổ tay trái từ lúc nào, nắm chặt tới mức khớp giáp kêu khẽ.

"Nó gọi ta," Thất nói, "nhiều quá, cái nào cũng gọi."

"Nhìn xuống chân," Mặc nói, "nhìn chân ta mà đi, đừng nhìn lên mái."

Hai người dọn sạp. Đúng lúc ấy, theo con đường đất chạy dọc bờ sông, một chiếc xe bò phủ vải dầu lăn qua rất chậm. Dưới tấm vải lộ ra những cái chụp đèn kê trên rơm, xếp sát nhau, mỗi cái treo một thẻ gỗ nhỏ, và đi bên cạnh xe là năm sáu người trẻ tuổi, không ai bị trói, không ai bị đẩy, nhưng người nào cũng đặt một bàn tay lên thành xe như sợ nó đi mất. Bánh xe vấp một hòn đá, cả chiếc xe xóc lên, và một bàn tay trong số ấy luồn vội xuống dưới mép vải, giữ lấy một vật gì đó, nhẹ nhàng như người ta đỡ đầu một đứa trẻ đang ngủ trên lưng.

Nguỵ Tranh đã cuộn xong tấm bản đồ, đi ngang qua sạp hắn, không dừng lại.

"Hàng đèn," người ấy nói, "đừng đứng chỗ sáng mà nhìn."

Rồi người ấy đi vào giữa hai dãy quán, chỗ đèn chưa thắp tới, và không thấy đâu nữa.

Chiếc xe rẽ vào con hẻm chạy dọc bờ sông phía sau dãy kho. Người đi cuối cùng là một đứa con gái chừng mười hai tuổi, tóc mái cắt ngang, vừa đi vừa ngoái lại một lần, nhìn đúng vào cái khung đèn rỗng trên trán Mặc, rồi quay đi. Lòng bàn tay phải của hắn, chỗ cánh bướm giấy đã khô thành da dưới lớp băng, tự dưng ngứa ran lên như có kiến bò.

Hắn đứng đó cho tới khi chiếc xe khuất hẳn trong con hẻm, hai viên đan chưa bán vẫn nằm trong ống tre, sáu linh thạch trong túi. Chín năm ghi sổ, hắn chưa từng ghi giá một ngọn đèn, vì ở Thanh Đăng đèn không phải thứ người ta bán. Ở chợ này đèn được chở đi trên xe bò, phủ vải dầu, có người trẻ đi kèm, và hắn không biết người ta chở chúng tới đâu, bán cho ai.

Hết chương 16

Tự tay đưa họ về nhà trong game

Thắp lại đèn, dựng lại tông môn trong Last Lantern.

Google PlayApp Store