Sáng hôm ấy Thất xin được đong gạo, và Mặc đứng bên cạnh nhìn, một tay cầm cuốn sổ than.
Thất thò bàn tay vào bao, vốc lên một vốc, đổ vào niêu, rồi vốc thêm ba lần nữa cho đủ bốn, cẩn thận như người ta đếm tiền chuộc mạng. Lúc nhìn vào niêu thì Mặc biết có chuyện. Bốn vốc của Thất đầy tới gần miệng niêu, nhiều gấp đôi bốn vốc của hắn, vì bàn tay ấy to gấp đôi bàn tay hắn, mà hắn ghi sổ gạo bằng tay mình từ ngày lên núi.
"Ta đong sai à," Thất hỏi, nhìn nét mặt hắn.
"Ngươi đong đúng bốn vốc, chỉ có điều vốc của ngươi là hai vốc của ta."
Thất nhìn bàn tay mình rất lâu như nhìn một vật vừa phạm lỗi, rồi lặng lẽ vốc trả một nửa vào bao, vốc tới đâu cũng nhìn Mặc một cái như hỏi đã đủ chưa.
"Từ nay sổ nhà ngươi phải ghi hai thứ vốc," Thẩm Chiêu nói, "vốc người với vốc Thất, mà kiểu gì cũng có ngày ngươi cộng nhầm."
Mặc không cãi, chỉ lấy cái bát của Thất ra, đong đầy hai vốc của mình vào bát, gạt bằng miệng, rồi đưa cho Thất. Từ nay một bát gạt bằng là phần của một người một ngày. Thất cầm cái bát lên ngang mắt, gạt đi gạt lại cho thật bằng, tới mức mấy hạt rơi ra ngoài phải cúi xuống nhặt từng hạt, rồi mới đổ vào niêu.
Lúc hai người xuống tới bến thì đám kéo bè đã ở đó. Gã râu quai nón hôm trước nhận ra Mặc từ xa, đứng dậy vẫy, kéo theo một người bạn gầy hơn, tóc buộc túm, cánh tay chằng chịt sẹo dây chão.
"Hai hôm nay ta kéo bè ngược thác mà ngực không tức lần nào," gã nói, chưa tới nơi đã nói, "thằng này không tin, ta bảo xuống đây mà hỏi người bán."
Người bạn gầy nhìn cái trán của Mặc, rồi nhìn gã râu quai nón, như muốn hỏi gã có bị lừa không, nhưng vẫn móc túi đếm ra mười hai viên linh thạch. Mặc đổ từ ống tre ra một viên, gói lá, đặt vào tay người ấy, và trong ống tre còn lại đúng một viên.
"Viên kia nữa," người bạn gầy nói, "để mai kéo chuyến nữa."
"Viên ấy không bán."
"Ta trả mười ba, thêm một đồng cho ngươi khỏi phải vác nó lên núi."
"Viên ấy không bán," Mặc nói lần nữa, buộc lại miệng ống tre, "mấy hôm nữa ta có đan mới, khi ấy ngươi mua bao nhiêu cũng được."
Gã râu quai nón cười, vỗ vai bạn, nói rằng thằng bán đan này keo hơn cả bà hàng gạo, rồi hất hàm chỉ ra con hẻm sau dãy kho, chỗ chiếc xe bò phủ vải chiều qua rẽ vào. Gã bảo dưới ấy người cần hồi khí nhiều lắm, toàn người giữ đèn thức đêm, chỉ tiếc là chẳng ai còn tiền.
Trước khi đi, gã kéo bè lôi hai người xuống ngồi trên bè uống bát nước chè, vì trên sông này mua bán xong mà không ngồi uống với nhau một bát thì gã bảo là xui cả con nước. Cái bè ấy là nhà của cả đám. Giữa bè có một cái lều lợp mái giang, trước lều một người đàn bà đang nướng cá trên bếp đất kê trong cái chậu sành, hai đứa trẻ con buộc dây ngang lưng nối vào cột lều, bò quanh như hai con cún, và trên nóc lều phơi một hàng quần áo rách bay phần phật như cờ. Người đàn bà đưa cho Thất một con cá nướng, Thất cầm bằng hai tay, nhìn Mặc, đợi Mặc gật rồi mới bẻ đôi, đưa nửa có đầu cho hắn. Mặc ngồi trên mặt bè gỗ dập dềnh, nghe nước vỗ dưới chân, nghe gã râu quai nón kể chuyện con nước năm ngoái cuốn mất nửa cái bè, và lần đầu tiên từ đêm gió đen hắn ngồi giữa một nhà người khác mà không phải đếm xem lối nào để chạy.
Con hẻm chạy dọc bờ sông, một bên là lưng dãy kho, một bên là nước. Dọc theo lưng kho người ta dựng một cái mái dài lợp tranh, dưới mái là những cái kệ gỗ ba tầng, và trên kệ là đèn.
Không phải đèn dầu treo quán, Mặc nhận ra ngay, vì chín năm hắn đã lau những ngọn đèn như thế mỗi sáng. Đĩa đồng nhỏ, bấc to bằng que tăm, ngọn lửa đứng thẳng không cần gió, mỗi ngọn úp một cái chụp riêng, có cái chụp đồng, có cái chụp giấy dầu, và trên mỗi chụp treo một thẻ gỗ nhỏ ghi tên một tông mà hắn chưa nghe bao giờ. Cạnh mỗi kệ có người ngồi, không ai nằm, không ai ngủ, người nào cũng ngồi bó gối nhìn một ngọn đèn trên kệ, và lúc gió sông lùa vào làm một ngọn đèn rạp xuống, Mặc thấy cái trán của một cậu trai ngồi dưới kệ ấy lóe lên rồi tối đi đúng một nhịp với ngọn lửa.
Hắn đứng lại ở đầu hẻm, còn Thất đứng sau lưng hắn, bàn tay phải đã nắm chặt cổ tay trái.
"Đứng đấy làm gì, đi vào mà xem," Lão Khúc nói từ trong bóng mái tranh. Lão ngồi trên một cái chõng tre giữa hẻm, sổ mở trên đùi, bàn tính đặt bên cạnh, con gà mái ngủ gật dưới gầm chõng. "Hôm nay ta không bán gì cho ngươi đâu, ngươi có ba đồng thì mua được ngọn nào."
Lão lật sổ cho hắn xem, chẳng giấu giếm gì, như người ta khoe ruộng. Mỗi dòng một tên tông, một con số, và hai chữ lặp đi lặp lại ở cuối dòng nào cũng có, nhận đèn, nhận nợ. Tông trên thượng nguồn mất mùa, cần gạo, cần thuốc, đem đèn xuống đây gửi lão, lão ứng tiền trước. Rồi có người tới nhận đèn, trả tiền, lão trừ nợ, lấy công ở giữa.
"Người nhận đèn là ai," Mặc hỏi.
"Người có tiền," Lão Khúc nói, gõ một hạt bàn tính, "ta chỉ hỏi người ta có tiền không, ai lại đi hỏi người ta là ai."
"Còn những người ngồi dưới kệ kia thì sao."
"Đèn đi đâu thì chủ đèn đi đấy, lệ xưa nay vẫn thế. Đèn mà đi một mình thì ai cắt bấc, ai che gió cho nó, mà nó tắt thì ai chịu." Lão nhìn hắn qua mép sổ, nhìn lâu một chút. "Người như ngươi thì khỏi lo cái lệ ấy, đèn ngươi có cháy đâu mà phải theo."
Ở kệ cuối cùng, sát mép nước, đứa con gái tóc mái cắt ngang chiều qua đang ngồi cắt bấc. Nó cắt bằng một cái trâm cài tóc mài dẹt đầu, cắt rất khẽ, nín cả thở, và cái chụp trên ngọn đèn của nó là một cái chụp giấy dầu có dán một bông hoa giấy đỏ, cắt vụng, một cánh dán lệch. Nó cắt xong, ngẩng lên, thấy hắn đứng nhìn thì nhìn lại, nhìn thẳng vào khung đèn rỗng giữa trán hắn, không sợ, chỉ tò mò.
"Đèn huynh tắt rồi à," nó hỏi. "Ở đây không ai mua đèn tắt đâu, huynh mang về đi."
Lòng bàn tay phải của Mặc ngứa ran lên, chỗ cánh bướm giấy đỏ đã khô thành một lớp với da. Hắn nắm tay lại, nắm chặt, cho tới khi hết ngứa.
Trong ngực hắn nàng im lặng rất lâu, lâu hơn mọi lần, lâu tới mức hắn tưởng nàng sẽ không nói gì cả.
"Nhìn cả người ngồi sau ngọn đèn," cuối cùng nàng nói, giọng không run mà cũng không mềm, "đừng nhìn mỗi cái chụp. Cái chụp không phải con bé, ngươi nhìn nó như nhìn con bé thì người ngồi đây là ai, ngươi có biết không."
Hắn không biết, và hắn nhìn xuống đứa con gái, nó đã cúi xuống nhìn ngọn đèn của nó rồi, và hắn thấy trên trán nó một đốm lửa Luyện Khí nhỏ, hồng, nằm giữa hai hàng tóc mái, và đốm lửa ấy đang run nhè nhẹ theo ngọn bấc vừa cắt.
Thất kéo nhẹ tay áo hắn, kéo rất khẽ, như sợ làm rách.
"Mua về thì họ được về nhà mình chứ," Thất hỏi.
Mặc thò tay vào túi, trong ấy có mười tám linh thạch, mười hai của người kéo bè gầy, sáu còn lại từ hôm qua. Hắn đếm tới chín thì ngừng, không đếm tiếp nữa. Hai hôm trước hai mươi bốn viên linh thạch làm hắn thấy mình giàu, giàu tới mức một trăm hai mươi ngày cơm, mà lúc này cả nắm tiền trong túi không trả lời được câu hỏi của Thất.
"Ta chưa biết họ đang bán cái gì," hắn nói, "mà chưa biết thì chưa được gật."
Lão Khúc gấp sổ lại, đứng dậy, phủi đít quần, đi tới đứng cạnh hắn như hai người quen lâu ngày.
"Ngươi không có tiền mua thì có cách khác mà kiếm tiền," lão nói, hạ giọng. "Ngươi biết đếm, ngươi có người to xác đi theo, trên thượng nguồn còn mấy tông nhỏ năm nay mất mùa mà chưa ai lên hỏi. Ngươi đi với ta một chuyến, chỗ nào thiếu gạo thì bảo họ mang đèn xuống đây, mỗi ngọn ta chia ngươi hai linh thạch. Mười ngọn là hai mươi, đủ lợp cái mái bếp nhà ngươi, khỏi phải ngồi bán đan cả ngày cho người ta chỉ trỏ."
Mặc không trả lời ngay mà nghĩ tới cái bếp sập dưới trận mưa sắp tới, tới hai trăm vốc gạo trong sổ, tới con số hai mươi, và cái quãng hắn nghĩ ấy dài đúng một hơi thở.
"Không nộp ai," Thất nói.
Giọng Thất không to, chậm rãi, từng chữ một, như một đứa trẻ đọc bài.
"Ai về thì có bát. Người giữ tông ăn sau cùng."
Lão Khúc quay sang nhìn Thất, nhìn dải vải nâu quấn quanh cái trán to bè, rồi cười khẩy, nói người to xác này đọc kinh gì mà nghe như đọc văn tế. Mặc không cười, chỉ nhìn Thất, và Thất đứng thẳng lưng nhìn lại hắn, mặt nghiêm như lúc báo đêm qua hắn ngủ không sáng lần nào, nhưng hai bàn tay thì đang bấu chặt vào nhau, như sợ mình vừa nói sai.
"Ngươi nhớ đúng," Mặc nói với Thất, rồi quay sang lão, "còn ta thì không đi."
"Thì thôi," Lão Khúc nhún vai, chẳng có vẻ gì phật ý. "Đèn thì kiểu gì cũng xuống, có ngươi hay không có ngươi."
Lúc ra khỏi hẻm, hắn quay lại nhìn một lần. Đứa con gái vẫn cúi nhìn ngọn đèn của nó, và chiếc xe bò chiều qua đã chất thêm năm cái chụp đèn mới.
Buổi chiều hắn đi một vòng hàng thuốc, đứng trước mỗi quầy rất lâu, ngửi từng bó, bẻ thử từng củ, khiến bà bán thuốc đầu dãy mắng rằng ai cũng bẻ thử như hắn thì bà lấy gì mà bán. Hoài sơn với ngải thì quầy nào cũng có, rẻ như rau, nhưng rễ đỏ phơi đủ tuổi cả chợ chỉ bà có, mỗi phiên vài bó từ thượng nguồn xuống, và bà không bán cho ai quá hai mẻ vì còn phải để phần cho quầy cờ xanh. Hắn mua đủ hai mẻ, tám linh thạch, rồi một linh thạch nữa mua một xấp giấy dầu và cuộn lạt để gói đan cho tử tế, không gói bằng lá chuối như người đi rừng. Trong túi còn lại chín đồng, hắn đếm hai lần. Hai mẻ là tám viên, nhưng mỗi mẻ cũng là một ngày cái bấc đen bị rút tới cạn, đêm ấy hắn không vận nổi một vòng công, nên dù có tiền mua mười mẻ thì mười ngày hắn cũng chỉ đứng lò được vài ngày.
Về tới núi, hắn trải thuốc ra hong trên mái hầm cho kịp nắng muộn, lật từng củ. Thất gánh nước đổ đầy ba cái chum quanh cửa hầm mà không ai bảo, vì hôm trước Mặc kể cho Thất nghe chuyện cái đêm con thú sợ nước giếng hơn sợ đao, mà chuyện gì Mặc kể thì Thất nhớ. Bữa tối Thất lại đong bằng cái bát, gạt bằng, và lần này không rơi hạt nào. Mặc xới cho Thất trước, ăn sau. Thẩm Chiêu không nhắc gì về chuyện trong hẻm, chỉ chê cơm hôm nay nhão như cháo, mà nhão thế này thì cái niêu xem ra cũng đã tha cho Thất rồi.
Tối, lúc hắn ngồi ghi sổ, Thất đi một vòng quanh sân rồi quay vào, đứng ở cửa bếp như có việc muốn báo, đứng một lúc lâu mà không nói.
"Có chuyện gì thì nói đi," Mặc bảo.
"Lúc ta về," Thất nói, "có một người đi sau ta từ bến. Người ấy đi tới chỗ cây gạo cụt, chỗ người dưới chợ không ai đi qua nữa, thì đứng lại. Đứng lâu lắm, rồi mới quay về."
"Người ấy trông thế nào," Mặc hỏi.
"Trời tối, ta không thấy áo," Thất nói. "Ta chỉ thấy cái trán, trán người ấy sáng, sáng hơn cái đèn nào trong hẻm, mà người ấy không che."
Mặc đặt cục than xuống. Ngoài sân, ở chân trời phía đông, chấm son vẫn nằm yên cạnh ba ngôi sao mới, nhưng thứ làm hắn ngồi im lúc này không ở trên trời. Hai hôm nay hắn bán ba viên đan, mỗi viên mười hai, và người ta đã đi theo mùi tiền tới tận chỗ con đường thôi không dám đi tiếp.

