Trước khi xuống núi, Mặc vào chính điện đứng trước tấm ván treo ở án một lúc.
Ba trăm bấc. Về: 0. Hắn không sửa gì trên ấy, chỉ đứng nhìn, như mỗi sáng ở Thanh Đăng hắn đứng nhìn hàng đèn trước khi cầm chổi, rồi lấy tay áo lau lớp bụi mỏng đã bám trên mặt ván sau mấy ngày hắn mải xuống chợ. Thất đứng ở cửa chính điện chờ, cái gùi trên lưng, tấm bảng gỗ có dấu ngón tay cháy kẹp dưới nách, gói cơm ngày buộc trên quai gùi. Phần cơm của Mặc trong gói nhỏ hơn phần của Thất, lần này là Mặc tự gói.
"Gói của ngươi nhỏ," Thất nói.
"Gói của ta là gói của người ngồi bán, ngồi thì ăn ít. Gói của ngươi là gói của người gánh gạo về, gánh thì phải ăn nhiều."
Thất nhìn hai gói một lúc, nhẩm lại câu ấy trong miệng như nhẩm một dòng sổ, rồi gật đầu, không cãi.
Trong túi hắn có ba linh thạch. Trong gói giấy dầu bên ngực có bảy viên đan để bán, một viên để thử. Viên thứ chín nằm dưới bệ lò, sau một hòn đá chèn.
Xuống tới chợ thì sạp dưới gốc gạo đã có người chờ. Hắn trả hai linh thạch tiền sạp, còn một, dựng tấm bảng lên, cái dấu ngón tay cháy đen nằm ngay cạnh hai chữ mười hai, bên dưới là chữ bảy. Gã râu quai nón tới trước, rồi người bạn gầy, rồi bà bán cá khô hôm trước đã xin gạch tên, đứng hơi xa, mắt cứ nhìn sang quầy cờ xanh, nơi bà đã đặt tiền từ sớm. Và phía bên kia đường, trước lá cờ xanh, hàng người hôm nay không dài tới gốc gạo, mà ai đứng trong hàng cũng ngoái đầu nhìn sang phía này.
Tần Hưởng tới khi mặt trời vừa lên khỏi mái kho. Gã không nói gì, chỉ đặt lên mặt sạp của Mặc một viên Tụ Khí Đan của quầy cờ xanh, viên đan tròn và bóng, gói trong giấy đỏ in chữ Thanh Vân, đặt ngay cạnh gói giấy dầu không chữ của hắn.
"Bên này tám," gã nói, giọng không to mà vang khắp dãy sạp, "bên kia mười hai. Chư vị nhìn cho rõ."
"Thì nhìn cho rõ," Mặc nói, "ta không cần ai tin ta, ta cần một người sáng nay đã uống đan tám, kéo bè cả buổi, giờ đang tức ngực."
Đám kéo bè nhìn nhau, rồi một người bước ra, chính là người hôm trước đã xin hắn gạch tên, một gã thấp và chắc, hai bàn tay chai dây chão, mặt xám đi vì mệt.
"Sáng nay ta uống một viên bên cờ xanh," gã nói, xoa ngực, "kéo hai chuyến thì tức tới giờ. Ta không mất gì thì ta thử."
Mặc bóc gói viên thử, đặt vào tay gã. Gã thấp ngồi xuống bậc đá đầu bến, nuốt, nhắm mắt vận khí, và cả chợ kéo xuống bến xem. Mặc ngồi xổm trước mặt gã, đếm hơi thở. Hắn đếm tới ba mươi thì vai gã chùng xuống, đếm tới sáu mươi thì bàn tay xoa ngực buông ra, đếm tới gần một trăm thì gã mở mắt.
Bến chợ có một hàng cọc tre cắm dọc mép nước để buộc bè, cách nhau đều chừng năm sải. Gã thấp lội xuống, quàng sợi chão của cái bè nhà mình qua vai, và bắt đầu kéo ngược dòng, dọc theo hàng cọc.
"Một," gã râu quai nón đếm to khi gã thấp đi qua cái cọc đầu tiên.
"Hai," mấy người đứng trên bờ đếm theo.
Tới cọc thứ ba thì cả bến đếm. Đàn bà gánh rau, trẻ con, ông lão vá lưới đứng dậy khỏi gốc gạo, bà hàng xôi một tay vẫn cầm cái muôi, và ở cuối bến, Mặc thấy cả đệ tử áo xanh của quầy cờ xanh môi cũng đang mấp máy đếm theo. Gã thấp đi qua cọc thứ ba mà không buông chão. "Bốn," cả bến hô, lúc nước đã lên tới đùi gã thấp, gã nghiêng người về phía trước, cái bè trườn theo.
"Năm, năm rồi, sáu đi," bà hàng xôi vung cái muôi lên mà hét, như thể chính bà đang kéo.
Tới cọc thứ sáu gã dừng lại, quay đầu về phía bờ, không phải để thở, mà để giơ một tay lên vẫy.
Cả bến ồ lên một tiếng, rồi ai cũng nói cùng một lúc.
"Chư vị đếm nhầm rồi," Tần Hưởng nói, và tiếng ồn lặng xuống như nước rút. "Sáng nay hắn uống một viên tám của quầy ta, giờ uống thêm một viên của cái đèn rỗng. Đan uống nối thì cộng dồn, hai viên dồn lại thì trâu cũng kéo được bè. Cái chư vị vừa đếm là hai viên, mà một nửa trong ấy là của Thanh Vân."
Mấy người trên bờ nhìn nhau. Bà hàng xôi hạ cái muôi xuống. Gã thấp đứng dưới nước, chão còn trên vai, há miệng mà không biết cãi thế nào.
"Thế thì đếm thêm một lần cho đủ," Mặc nói, và cầm viên đan gói giấy đỏ trên mặt sạp lên. "Viên này của quầy ngươi, ngươi đặt lên sạp ta từ sáng. Ai sáng nay đã uống một viên tám thì uống thêm viên này, kéo đúng cái bè ấy, chở đúng chừng ấy đồ, từ đúng cái cọc đầu tiên. Nếu đan uống nối mà cộng dồn, hai viên tám cũng phải tới được cọc sáu."
Một gã trai trẻ trong đám kéo bè, sáng nay cũng xếp hàng bên cờ xanh, nhìn viên đan giấy đỏ, nhìn Tần Hưởng, rồi nhìn gã râu quai nón. Gã râu gật đầu. Gã thấp kéo bè về lại cái cọc đầu, buông chão, lên bờ, và không ai bước xuống bè, không ai bốc thêm hay dỡ bớt cái gì. Gã trai trẻ bóc giấy đỏ, nuốt viên đan của Thanh Vân, ngồi vận khí đủ một trăm hơi như gã thấp, rồi quàng chão lên vai.
"Một," cả bến đếm, lần này đếm chậm.
"Hai."
Tới cọc thứ ba gã buông chão, chống một tay lên đầu gối, tay kia ôm ngực, thở như cái ống bễ thủng. Mấy người đếm "ba" rồi thôi, không ai đếm tiếp.
Bên kia đường, người đệ tử áo xanh đi tới tấm bảng giá dưới lá cờ, lấy tay áo xoá chữ tám, đứng nghĩ một lúc, rồi viết vào đấy chữ bảy. Không ai bảo cậu ta làm thế. Cả bến nhìn thấy, rồi cả bến quay sang nhìn Tần Hưởng, và tiếng cười bật ra từ chỗ bà hàng xôi trước, lan dọc bờ sông, lần này không phải cười cái trán của Mặc.
Tần Hưởng không nói gì. Ngón tay gã búng vào mép tấm ván sạp, một cái, hai cái, ba cái, như người ta gõ một cái chụp đồng xem nó nứt ở đâu, mà tai gã thì không nghiêng xuống nghe.
"Hắn nghe đồng giỏi thế," Thẩm Chiêu nói, "mà không nghe ra đan của chính quầy mình."
Gã thấp lên bờ, đặt mười hai viên linh thạch xuống trước mặt Mặc, rồi đặt thêm hai mươi tư.
"Ta trả viên vừa uống," gã nói, "và lấy hai viên. Viên vừa rồi coi như ta mua, ngươi khỏi mất."
"Viên thử là viên thử," Mặc nói, đẩy lại mười hai viên, "ngươi lấy hai viên, trả hai mươi tư."
Rồi người ta bước sang. Gã râu quai nón lấy hai viên, người bạn gầy lấy hai viên, và gã râu vừa đếm tiền vừa nói to cho cả quầy cờ xanh nghe.
"Ta đã bảo rồi mà không ai tin, cái đèn rỗng này luyện đan còn có tâm hơn khối đèn sáng." Bà bán cá khô đi ngang qua quầy cờ xanh, nơi bà đã đặt sẵn tiền từ sáng mà chưa nhận đan, nói gì đó với người đệ tử áo xanh, cầm lại túi tiền của mình, rồi đi thẳng sang gốc gạo. Mặc chỉ còn một viên.
"Viên cuối cho ông nhà tôi," bà nói, đặt tiền xuống, đếm đủ mười hai, "hôm trước tôi gạch tên ông ấy vì sợ, hôm nay tôi đứng xem đếm cọc rồi, tôi hết sợ." Từ gốc gạo nhìn sang, Mặc thấy người cầm tiền đi từ phía lá cờ xanh sang phía bảng mười hai, cho tới khi trên mặt sạp dưới gốc gạo không còn gì ngoài tấm bảng gỗ, còn trên mặt quầy cờ xanh bên kia đường đan vẫn bày đầy trong những mẩu giấy đỏ.
Hắn gạch chữ bảy trên bảng, viết bên cạnh một chữ hết.
"Đan này ngươi bán hộ ai," Tần Hưởng nói, vẫn đứng nguyên chỗ cũ, mảnh giấy đỏ bóc ra còn nằm trên mặt sạp. "Một cái đèn rỗng thì không luyện ra được viên nào, ai đứng sau ngươi, chư vị có biết không."
Mặc ngẩng lên nhìn gã, rồi nhìn bà bán cá khô đang đứng ngay cạnh.
"Ngươi mua đan hay mua cái trán của ta," hắn hỏi bà.
Bà bán cá khô không trả lời, chỉ bỏ viên đan gói giấy dầu vào túi áo, cài khuy lại, vỗ lên túi một cái, rồi quay đi gánh cá. Mấy người đứng quanh lại cười, nhưng lần này không ai cười cái trán của hắn.
"Đếm chậm thôi," Thẩm Chiêu nói khi hắn cúi xuống đếm tiền trên mặt sạp. "Tiền không chạy đâu, người nhìn ngươi thì đang đông thêm."
Tám mươi tư viên linh thạch, cộng với một viên còn trong túi từ sáng, hắn đếm chậm như nàng bảo, xếp thành từng chồng mười. Trong lúc hắn đếm, Lão Khúc từ đầu hẻm đi ra, ngồi xổm xuống cạnh sạp, mắt nhìn đống linh thạch như nhìn một con gà béo.
"Nghe đâu ngươi còn giấu một viên," lão nói, "ta trả mười lăm."
"Viên ấy không bán," Mặc nói, không ngẩng lên, "mười lăm hay hai mươi cũng thế."
Gã lái đèn vẫn chưa đi. Gã cúi xuống nhặt một mảnh giấy dầu khách vừa bóc vứt dưới chân sạp, đưa lên mũi ngửi, ngửi rất lâu, rồi gấp nó làm tư, nhét vào tay áo. Mảnh giấy ấy không có chữ, không có dấu gì, chỉ có mùi ngải và mùi một cái lò không ai ở chợ này từng thấy, nhưng Mặc nhìn nó biến vào tay áo gã mà thấy lạnh hơn lúc nhìn cái dấu ngón tay cháy.
"Hắn ngửi mảnh giấy như con thú ngửi cửa hầm," Thẩm Chiêu nói.
"Con thú đứng ngoài vòng đất ướt," Mặc nói, nhìn theo tay áo gã, "còn gã này thì ta chưa biết phải dội nước ở chỗ nào."
"Thì từ mai gói đan bằng lá như cũ, ngươi tưởng giấy dầu là sang, giấy dầu chỉ giữ mùi lâu hơn thôi."
Chiều ấy hắn mua gạo, tám linh thạch, một trăm sáu mươi vốc, tự tay đong, và bà hàng gạo không cười nữa.
"Nghe nói sáng nay ngươi làm cả bến đếm cọc," bà nói, đong thêm vào bao một vốc của bà, "vốc này ta biếu, mai có đan thì để cho thằng con ta một viên, nó cũng kéo bè. Mà mua gạo bây giờ là khôn, mưa xuống là năm mươi ngày bè nằm bến, chợ còn một nửa, gạo lên gấp đôi." Hắn mua hai mẻ thuốc, tám linh thạch, đúng hai mẻ bà bán thuốc chịu để, vì mưa xuống thì rễ đỏ trên thượng nguồn không phơi được, mà bè nằm bến thì người mua đan cũng nằm theo. Trong túi còn sáu mươi chín, và Thất gánh gạo, hai bao đầy treo hai đầu đòn gánh, đi trước hắn mấy bước trên con đường đất dẫn ra khỏi chợ.
Ở mép đường, ngay chỗ con đường rẽ khỏi chợ để đi về phía núi, Lão Khúc đã trải sẵn một tấm chiếu rách, bày lên đó mấy món đồ cũ, một cái chụp đèn sứt, một cái nghiên vỡ, một con dao cùn, và một mảnh đá xám to bằng cái mâm, mặt đá khắc mấy đường nét đã mòn. Lão ngồi xổm cạnh tấm chiếu, gõ bàn tính, con gà mái buộc dưới chân.
Mặc liếc qua mảnh đá, rồi dừng lại.
Những nét khắc trên đá là nét kiếm. Không phải chữ, mà là đường đi của một mũi kiếm, như trên tấm bia ở Kiếm đường trên núi, cũng một tay khắc sâu ở đầu, nông dần về cuối, và cuối mỗi đường là một chỗ xoáy nhỏ như mũi kim xoay dưới lớp vải. Nhưng tấm bia ở Kiếm đường chỉ dạy đâm vào một điểm, còn nét trên mảnh đá này đi tới điểm ấy rồi không dừng, mà vạch tiếp một đường ngang, ngắn và gắt, chỗ đường ngang bị vỡ mất nửa.
Trong ngực hắn, chỗ nóng của nàng im phắc.
"Nét này," nàng nói rất lâu sau, "cùng một tay khắc với tấm bia ở Kiếm đường."
"Kiếm được tiền rồi thì xem thử thứ này," Lão Khúc nói, chẳng ngẩng đầu khỏi bàn tính. "Đá thì không ăn gạo, nhưng người giữ nó thì có."
Mặc đưa tay vào túi tiền, và đúng lúc ấy sau lưng hắn có tiếng gỗ kêu răng rắc.
Tần Hưởng đứng cạnh cái sạp dưới gốc gạo mà hắn vừa trả lại cho chủ sạp, một bàn tay đặt hờ lên mép tấm ván, đúng chỗ ban sáng gã búng móng ba cái. Gã không ấn, ít ra là Mặc không thấy gã ấn, nhưng tấm ván dày hai đốt ngón tay đang lún xuống dưới lòng bàn tay ấy, lún chậm rãi như sáp gặp lửa, cho tới khi nứt toạc một đường từ mép này sang mép kia.
"Mai ngươi còn dựng sạp ở đây chứ," gã hỏi, giọng vẫn ôn tồn như sáng nay.
Mặc nhìn đường nứt trên tấm ván, nhìn bàn tay chưa rời khỏi gỗ, và biết rằng cả cái đêm hai nhát trong giếng, cả nghìn nhát mỗi sáng chín năm, cả tầng năm hắn ộc máu mới qua được, đặt hết lên tấm ván ấy cũng không làm nó lún được nửa đốt. Hắn rút tay ra khỏi túi tiền.
"Ngươi đừng nhìn tấm ván," Thẩm Chiêu nói, "ngươi nhìn mảnh đá kia kìa, tấm ván thì mai người ta thay cái khác, mảnh đá thì không ai khắc lại được."
"Mai ta quay lại hỏi giá," hắn nói với Lão Khúc.
"Mai thì giá khác," lão nói, kéo mép chiếu phủ lên mảnh đá.
Về tới núi thì trời đã tối. Hai người đổ gạo vào hũ, hũ đầy, phải đổ cả sang cái vò sứt góc. Thất đong gạo nấu bữa tối bằng cái bát, hai bát gạt bằng, rồi đứng nhìn cái vò đầy, nhìn mãi không chịu đi nhóm bếp. Mặc mở sổ, ghi gạo hai trăm mười ba vốc. Mùa mưa năm mươi ngày, mỗi ngày bốn vốc là hai trăm, còn dư mười ba vốc cho những ngày mưa dai hơn người ta nói. Tiền sáu mươi chín, đan một viên dưới bệ lò, thuốc hai mẻ. Rồi bên dưới, ở chỗ trống, hắn lấy than vẽ lại cái đường kiếm trên mảnh đá, một nét đâm tới một điểm, xoáy, rồi vạch ngang, và tới chỗ nét ngang bị vỡ thì hắn dừng than.
Ngoài sân, chấm son vẫn nằm cạnh ba ngôi sao phía đông. Hắn có gạo qua mùa mưa, có sáu mươi chín linh thạch, và lần đầu tiên từ đêm gió đen hắn biết đích xác mình đang thiếu cái gì. Thứ ấy đang nằm dưới tấm chiếu rách của người đã lừa hắn sáu đồng, và người vừa làm nứt một tấm ván bằng một bàn tay đặt hờ thì đã hỏi mai hắn có còn xuống chợ không.

