Mặc mở sổ trước bữa sáng, đặt nó lên bậc bếp, ngay dưới chỗ mái tranh thủng một lỗ to bằng cái nón, và đọc lại dòng cuối hắn viết đêm qua.
Tiền sáu mươi chín, gạo hai trăm mười ba vốc, đan một viên dưới bệ lò, thuốc hai mẻ. Bên dưới là cái nét kiếm hắn vẽ lại bằng than, đâm tới một điểm, xoáy, vạch ngang, rồi dừng ở chỗ nét ngang vỡ mất nửa. Trên trang trước nữa, ở dòng mục tiêu mùa mưa, chữ gạo đã gạch, chữ con dao đã gạch, còn lại hai chữ lợp bếp nằm trơ ra như cái lỗ trên mái. Hắn khoanh hai chữ ấy lại một vòng, nhìn lên cái lỗ, rồi nhìn xuống nét kiếm.
Thất vo gạo ở cạnh chum, đong bằng cái bát, hai bát gạt bằng, gạt bằng cái que tre như Mặc dạy, và gạt thêm một lần nữa cho chắc dù gạo đã bằng miệng bát rồi. Thất nhóm bếp, xới cơm, để phần Mặc lại trong niêu, đậy vung, rồi ngồi xuống ăn phần mình, vì từ hôm ở chợ về Mặc đã nói với Thất rằng người ăn trước là người gánh, mà hôm nay Thất gánh.
"Hôm nay ta gánh gạo về à," Thất hỏi, miệng còn nhai.
"Hôm nay ngươi gánh một thứ không ăn được."
"Thế thì nhẹ," Thất nói, yên tâm hẳn, và ăn tiếp.
Mặc không ăn ngay mà ra cửa hầm Ám Lô xem vòng đất ướt. Ba cái chum đã đầy lại, đất quanh cửa hầm vẫn sẫm màu, và cái dấu móng duy nhất ở mép trong vòng vẫn nằm đó, khô đi, cứng lại, như một con dấu đóng vào giấy. Hắn đứng nhìn nó một lúc, đổ thêm nửa gàu nước vào đúng chỗ ấy, rồi mới quay vào ăn chỗ cơm còn ấm dưới vung.
"Ngươi định tưới cho nó mọc thêm móng à," Thẩm Chiêu nói.
"Ta định cho nó biết chỗ ấy vẫn ướt."
"Nó là con thú, nó không biết đọc dấu như ngươi đâu."
Hắn không cãi, ăn xong, rửa bát, đặt cái bát cạnh bát của Thất trên bậc bếp, hai cái bát, rồi đếm sáu mươi chín linh thạch thành bảy chồng, sáu chồng mười và một chồng chín, gói lại, buộc vào thắt lưng, sát người.
Hôm ấy hắn không thuê sạp vì không có đan để bán. Chợ dưới chân núi buổi sáng đã đông, mây xám kéo thấp từ phía thượng nguồn, và người ta bày hàng vội hơn mọi khi, như ai cũng ngửi thấy mưa. Dưới gốc gạo, chủ sạp đang kê lại tấm ván nứt bằng hai hòn gạch, buộc một sợi lạt quanh chỗ nứt cho nó khỏi toác thêm. Bên kia đường, Tần Hưởng đứng trước quầy cờ xanh, tấm bảng giá dưới lá cờ vẫn ghi chữ bảy.
Mặc thấy gã trước, và gã cũng thấy hắn gần như cùng lúc. Gã không đi sang, chỉ đưa tay trái lên, búng móng tay giữa vào một cái vòng đồng to bản bọc kín cổ tay mình, nghiêng tai nghe tiếng ngân, như ngày nào gã cũng búng nó để biết nó còn kêu. Cái vòng ấy dày, đánh bóng, bọc từ cổ tay lên gần nửa cẳng tay, chỉ để trống một rẻo da ở mép dưới chỗ cổ tay gập. Mặc nhìn cái vòng lâu hơn nhìn mặt gã.
"Hôm nay không dựng sạp à," Tần Hưởng nói vọng sang, giọng ôn tồn.
"Hôm nay ta đi mua."
"Mua gì thì mua cho nhanh, mưa xuống thì chợ còn một nửa, mà một nửa ấy là của ai thì chư vị biết cả."
Mấy người bán hàng gần đấy cúi xuống xếp hàng, không ai nhìn lên. Mặc đi tiếp, và lúc lách qua một đám người lạ đang khiêng hàng lên bờ, tay hắn tự đưa lên kéo vạt áo che ngang trán, cái thói quen từ hồi mới xuống núi, rồi tới chỗ gã râu quai nón đang ngồi vá chão trên bè thì hắn buông vạt áo xuống. Gã râu đã biết cái trán ấy, cả chợ đã biết cái trán ấy, che với những người đã biết thì chỉ là tự bảo mình đang che.
Lão Khúc ngồi ở đúng chỗ mép đường rẽ về núi, như thể từ chiều qua lão chưa đứng dậy. Tấm chiếu rách vẫn trải đó, cái chụp đèn sứt, cái nghiên vỡ, con dao cùn, và mảnh đá xám to bằng cái mâm nằm dưới mép chiếu kéo lên che hờ. Con gà mái buộc dưới chân lão đang mổ một hạt thóc mãi không trúng.
"Hôm qua ngươi hỏi ngày mai," lão nói, không ngẩng lên khỏi bàn tính. "Bây giờ là ngày mai rồi."
"Ông định bán nó bao nhiêu, nói một giá thôi."
"Sáu mươi, ta không nói hai lần."
Lão nói con số ấy mà không gõ bàn tính lấy một hạt, nghĩa là lão đã tính từ chiều qua, từ lúc thấy hắn đếm tám mươi tư linh thạch dưới gốc gạo, và có lẽ còn tính cả lúc hắn dừng lại trước tấm chiếu này lâu hơn trước mọi món khác. Mặc ngồi xổm xuống, lật mép chiếu ra, mở sổ đặt cạnh mảnh đá, và so từng nét một.
Nét đâm sâu ở đầu, nông dần về cuối, giống hệt nét hắn vẽ. Chỗ xoáy nhỏ ở cuối nét đâm như mũi kim xoay dưới lớp vải, giống. Rồi đường ngang, ngắn và gắt, đi được chừng một đốt ngón tay thì đá vỡ, mép vỡ sắc và mới, chứ không mòn như những mép khác. Hắn lấy ngón tay đo, đo hai lần. Không có chữ nào, không có tên ai, không có ký hiệu nào ngoài đường đi của một mũi kiếm.
"Mép vỡ này còn mới, các mép khác thì mòn cả," hắn nói.
"Ta đào nó lên ở bãi đá cuối sông, nó nằm dưới đất thế nào thì ta bán thế ấy," Lão Khúc nói. "Ngươi muốn nửa kia thì ra bãi đá mà bới, bãi ấy dài nửa ngày đường, đá nào cũng xám."
"Nét này cùng một tay với tấm bia ở Kiếm đường," Thẩm Chiêu nói trong ngực hắn, chậm, như đọc từng chữ. "Đầu sâu, cuối xoáy, ta chỉ thấy cái ngươi thấy, Mặc. Chỗ vỡ thì ta cũng không thấy hơn ngươi."
Mặc lấy gói tiền ra khỏi thắt lưng, mở gói trên mặt chiếu. Bảy chồng linh thạch, sáu chồng mười và một chồng chín. Hắn đẩy bốn chồng mười sang phía Lão Khúc, rồi bẻ chồng chín, đếm năm viên đặt cạnh, còn hai chồng mười và bốn viên lẻ thì hắn gói lại, buộc vào người.
"Bốn mươi lăm," hắn nói. "Mua đứt mảnh đá, ông viết chữ bán, không gửi thứ gì cho ông."
Lão Khúc nhìn bốn mươi lăm viên linh thạch, rồi nhìn gói tiền vừa buộc lại bên hông hắn, đoán xem trong ấy còn bao nhiêu.
"Ngươi mua đắt rồi đấy," lão nói, giọng không giấu được vẻ thích thú. "Thứ này cả chợ không ai hỏi, ta mà gặp kẻ khôn thì hai mươi cũng bán."
"Ta biết là đắt."
"Biết mà vẫn mua thì ngươi là khách lạ nhất chợ này."
"Mai thì giá khác," Mặc nói, "ông bảo thế. Ta không có nhiều ngày mai để ngồi mặc cả với ông."
Lão Khúc bật cười một tiếng khô, rồi ngước mắt nhìn sang phía bên kia đường, nơi Tần Hưởng vẫn đứng trước quầy cờ xanh, cổ tay đồng lấp loáng dưới trời xám. Lão nhìn ở đấy lâu hơn một hơi thở, rồi gõ bàn tính một cái thật mạnh, như gõ để đuổi một con ruồi.
"Bốn lăm thì bốn lăm," lão nói, "ngươi đi cho khuất mắt ta sớm thì ta còn sống lâu."
Lão lấy giấy ra viết, và Mặc chờ lão viết xong, cầm tờ giấy lên đọc, đọc từ dòng đầu tới dòng cuối, rồi lật mặt sau đọc cả chỗ không có chữ, rồi đọc lại dòng chữ nhỏ nhất ở góc dưới. Bán đứt một mảnh đá khắc, giá bốn mươi lăm, người bán không giữ lại gì, không đòi lại gì. Lão Khúc chống cằm nhìn hắn đọc, mắt hơi nheo lại.
"Ngươi đọc giấy của ta như đọc giấy bán mình," lão nói.
"Lần trước ông dạy ta đọc giấy như thế, công ấy ta trả rồi."
Lão không đáp, đếm lại bốn mươi lăm viên linh thạch, gạt vào túi, rồi cúi xuống, đặt bàn tay lên mặt đá, và đưa ngón tay trỏ chạy theo nét kiếm. Ngón tay lão đi theo đường đâm, chững lại ở chỗ xoáy, rẽ sang đường ngang, đi được một đốt ngón tay, rồi hụt xuống mép vỡ, gõ cộc vào mặt chiếu.
"Đấy," lão nói, "tới đây là hết đường. Ta bán cái đoạn có đường thôi."
Mặc đặt ngón tay mình vào chỗ ngón tay lão vừa đi, qua đường đâm, qua chỗ xoáy, sang đường ngang, và đầu ngón tay hắn tới mép vỡ thì không còn chỗ nào để đi tiếp. Hắn để ngón tay ở đó, trên cái mép sắc mới vỡ, một lúc lâu, và trong một lúc ấy hắn nghĩ tới hai phần ba số tiền hắn có, tới cái mái bếp, tới hai trăm vốc gạo người ta mua mất nửa ngày đếm, và tất cả những thứ ấy vừa đổi lấy nửa câu chỉ đường của một người đã chết.
"Đá thiếu một nửa," Thẩm Chiêu nói, "ngươi có miết rách tay cũng không mọc thêm được."
Hắn nhấc ngón tay lên.
Thất gánh mảnh đá về, đặt nó trong cái gùi đáng lẽ để đựng gạo, lót dưới một lớp rơm, và mảnh đá nặng tới mức quai gùi lún vào vai Thất thành hai rãnh sâu, mà Thất vẫn đi trước, bước đều như gánh nước. Lúc đi ngang quầy cờ xanh, Mặc không nhìn sang, nhưng hắn biết Tần Hưởng nhìn theo cái gùi, vì tiếng búng móng vào vòng đồng ngân lên sau lưng hắn hai cái, rồi im.
Tới chỗ cây gạo cụt thì Thất dừng lại nghỉ, đặt gùi xuống, lấy tay áo lau mảnh đá như lau một cái bát mới mua.
"Mua về rồi vẫn chưa dùng được à," Thất hỏi.
"Phải học. Tiền chỉ mua được nó về."
"Thế học xong thì nó có giữ được cái chỗ bán dưới gốc gạo không," Thất hỏi tiếp, mắt vẫn nhìn mảnh đá. "Hôm qua người ta làm nứt cái ván ở chỗ ấy."
"Ta chưa biết."
Thất gật đầu, như đã nghe một câu trả lời đầy đủ, rồi quàng gùi lên lưng. Thất không hỏi thêm, và Mặc nghĩ có lẽ Thất là người duy nhất trên đời nghe chữ chưa biết mà không thấy nó là một lời xin lỗi.
Chiều ấy hắn đặt mảnh đá ở Kiếm đường, kê nó vào chân tấm bia Châm, nghiêng cùng một góc, để hai nét kiếm nằm cạnh nhau như hai dòng chữ trên cùng một trang.
"Năm mười tuổi ngươi cũng đặt hai trang sách cạnh nhau thế này," Thẩm Chiêu nói, "bảo ta là đọc liền thì hiểu nhanh hơn, rồi ngồi cả buổi chẳng hiểu trang nào."
"Hồi ấy ta chưa biết chữ, giờ ta biết nét kiếm."
"Thì đọc đi, ta ngồi nghe ngươi đọc."
Nhìn như thế thì thấy rõ hơn ngoài chợ. Tấm bia cũ dạy đâm vào một điểm rồi dừng. Mảnh đá mới đi tới đúng điểm ấy, xoáy, và không dừng.
Hắn cầm que tre, không cầm dao, đứng vào thế Châm, đâm tới một điểm trên thân cây đa mọc giữa nền nhà, xoáy cổ tay, rồi vạch ngang. Que tre kéo theo cả cánh tay, cánh tay kéo theo vai, vai kéo theo cả thân người, và hắn loạng choạng một bước sang bên như người trượt chân trên rêu. Hắn đứng lại vào thế, làm lại. Lần thứ hai hắn ghì vai, que tre vạch ngang được một đoạn rồi dừng cứng, như cái cửa kẹt. Lần thứ ba thì bàn chân sau trượt. Lần thứ tư, cái sẹo bỏng trên vai trái kéo căng một cái nhói, và hắn hạ que tre xuống.
"Ngươi đang chép một nửa câu," Thẩm Chiêu nói, "rồi tự bịa nốt nửa còn lại bằng vai."
"Ta biết, ta đang tìm xem lực đi từ đâu."
"Biết thì dừng đi, bong lại cái sẹo ấy thì mười ngày ngươi không đeo nổi gùi."
Hắn dừng, mở sổ, ghi dưới nét kiếm vẽ lại, nét ngang kéo cả người theo, ngã sang trái ba lần, chưa biết lực đi từ đâu, và không ghi chữ gần được. Rồi hắn cất que tre vào kẽ đá cạnh bia, chỗ chín năm nay hắn vẫn cất chuôi dao cụt.
Tối ấy mưa xuống, không phải mưa rào mà mưa dai, hạt nhỏ, đều, thứ mưa bà hàng gạo nói sẽ kéo năm mươi ngày. Cái lỗ trên mái bếp bắt đầu nhỏ nước xuống đúng chỗ Thất ngồi nhóm lửa. Thất không đứng dậy mà xích sang một bên, rồi xích thêm, một bàn tay vẫn khum trên miệng niêu cho nước khỏi rơi vào cơm, như người ta che ngọn nến trước gió.
Mặc bảo Thất ăn trước, rồi đứng dậy đi tìm cái chậu sứt, kê nó đúng dưới cái lỗ, nghe tiếng nước rơi vào chậu một lúc cho chắc là không bắn ra ngoài. Tới lúc hắn ngồi xuống thì Thất đã ăn xong, đang ngồi nhìn cái chậu hứng nước như nhìn một thứ rất lạ.
"Nhà có thêm một cái bát," Thất nói, rất nghiêm.
Mặc nghe trong ngực mình có một tiếng gì như người ta cố nín cười mà không nín được hết.
"Cái bát ấy ăn mưa," Thẩm Chiêu nói khi đã nín được, "còn cái mái để che nó thì ngươi vừa đổi lấy nửa nét kiếm."
"Bếp nhà ta còn chưa có mái," hắn nói, "thì có thêm cái bát cũng là có thêm."
Khuya, khi Thất đã ra ngồi chắn cửa hầm, Mặc lấy gói tiền ra, đếm lại. Hai chồng mười và bốn viên lẻ, hai mươi tư. Hắn đặt hai mươi tư viên linh thạch xuống bậc bếp, ngay cạnh cái chậu đang hứng nước dột, nhìn chúng một lúc. Tiền lợp bếp ở đây, ngói hay tranh thì đủ cả, và cũng ở đây là tiền hai mẻ thuốc cho lần luyện sau, hai lần tiền sạp, mấy mươi ngày gạo khi mưa dai hơn người ta nói. Hắn nhặt chúng lên, gói lại, cất vào khe đá cạnh chỗ giấu viên đan.
Mái vẫn dột, và ở Kiếm đường, cạnh tấm bia cũ, nửa nét kiếm hắn vừa mua bằng gần hai phần ba gia sản đang nằm dưới mưa, và hắn chưa biết nó đi tiếp thế nào. Sáng mai hắn phải nhóm lò, mà ngoài cửa hầm, mưa đang làm ướt đều cả sườn núi, ướt cả những chỗ đất trước nay vẫn khô, và cái vòng đất ướt mà con thú ăn lửa không dám bước vào, từ đêm nay, không còn là một cái vòng nữa.

