Sáng hôm sau Thất đứng chờ ở cửa bếp từ lúc Mặc còn chưa dậy, hai tay chắp trước bụng như người sắp xin một việc rất lớn.
"Từ hôm nay ta nấu hết," Thất nói. "Sáng, trưa, tối, ta nấu cả, ngươi đi học cái đá."
"Ngươi nấu từ hôm lên núi rồi."
"Trước là nấu cho có, giờ ta nấu cho được," Thất nói, và nghĩ một lúc như sợ câu ấy chưa đủ rõ. "Ngươi xuống hầm thì ta nấu, ngươi ra Kiếm đường thì ta nấu, ngươi ngồi đếm sổ thì ta cũng nấu, thế là ngày nào ngươi cũng dư ra một khúc."
Mặc nhìn Thất, nhìn cái niêu nứt đã được Thất cọ sạch tới mức thấy cả vết nứt chạy dưới lớp đáy, rồi gật đầu. Thất quay vào bếp ngay, như sợ hắn đổi ý.
Mưa vẫn rơi, đều và nhỏ, từ đêm qua chưa ngớt một nhịp. Trước khi nhóm lò, Mặc cầm cuốc ra đào một cái rãnh vòng quanh cửa hầm Ám Lô cho nước mưa khỏi tràn vào bậc đá, đào sâu một gang, đắp đất lên thành bờ, rồi đặt cái gàu đầy nước ngay cạnh khung cửa, chỗ thò tay ra là tới. Ba cái chum vẫn đầy, nhưng cả sườn núi giờ đâu cũng ướt, và hắn đứng nhìn chỗ cái vòng đất ướt cũ, giờ không còn phân biệt được với đất xung quanh.
"Mưa xoá mất cái vòng của ngươi rồi," Thẩm Chiêu nói.
"Rãnh này giữ cho nước khỏi vào hầm," hắn nói, "còn giữ con thú ở ngoài thì ta chưa đào được cái rãnh nào."
"Thế thì đào cái gì cũng được, miễn là đào cho xong rồi xuống nhóm lò, đứng nhìn đất ướt thì đất cũng chẳng khô ra."
Hắn cất cuốc, xuống hầm.
Rồi hắn đi hái lá, vì giấy dầu giữ mùi lâu, Thẩm Chiêu đã nói thế từ hôm ở bến, nên lần này hắn cắt lá dong ở bờ suối dưới vườn thuốc, rửa sạch, hơ qua lửa cho mềm, xếp thành một chồng cạnh bệ lò. Đổi sang lá thì mẻ đan sau không mang mùi lò đi xa, nhưng mảnh giấy dầu gấp tư trong tay áo Tần Hưởng thì vẫn nằm đó, và lá dong không làm nó bay mùi được.
Mẻ thứ nhất hắn luyện đúng như ba mẻ trước, nghe đủ ba tiếng nước, chờ thêm năm hơi sau tiếng sùng sục cuối, hạ vai trước khi cầm que khuấy, và khi mặt trời đã lên quá đỉnh núi sau lớp mây xám thì bốn viên đan ra lò, ấm, không sáng, thơm mùi ngải. Hắn gói từng viên vào lá dong, buộc lạt, xếp vào cái hộp gỗ, rồi mới leo lên xem cửa hầm. Viên đan cũ vẫn nằm trong khe đá dưới bệ lò, sau hòn đá chèn, hắn không động tới nó.
Trưa ấy Thất bưng cơm xuống tận cửa hầm. Mặc cầm bát lên thì thấy hạt cơm phía trên còn sượng, cứng ở giữa như hạt gạo chưa ngâm, còn khi lấy đũa xới xuống đáy bát thì cơm dưới lại nát, dính thành một mảng.
Thất đứng nhìn hắn ăn, tay cầm bát của mình mà không ăn, mặt căng ra như người đang chờ nghe xử, và Mặc hiểu Thất đang chờ gì. Thất đang chờ hắn nói thôi, để ta nấu, như mỗi lần hắn cầm lấy cái muôi từ tay Thất từ hôm cái niêu khê đầu tiên.
"Hôm nay ngươi đổ mấy bát nước," Mặc hỏi.
Thất ngẩn ra, như không ngờ hắn lại hỏi câu ấy.
"Ba bát," Thất nói chậm, "ba bát đầy, rồi thấy ít quá, đổ thêm nửa bát nữa."
"Đổ thêm lúc nào, lúc gạo đã sôi hay lúc chưa sôi."
"Lúc sôi rồi," Thất nói, và mắt Thất sáng lên như người vừa tìm thấy một đồng xu đánh rơi. "Lúc sôi rồi ta mới đổ, thế là trên chưa kịp chín, dưới thì nát ra."
"Thì mai đổ ba bát rưỡi ngay từ đầu, đừng đổ giữa chừng."
"Ta nhớ nước rồi," Thất nói, và cầm bát lên ăn, ăn rất nhanh. "Ngày mai cho ta nấu nữa nhé."
"Nhớ cả củi. Hôm nay ngươi bẻ thêm củi hai lần, lửa to quá nên đáy cháy trước khi trên kịp chín."
Thất gật đầu hai cái, mỗi cái cho một điều, rồi ăn tiếp. Chiều ấy, khi Mặc lên bếp lấy nước, hắn thấy Thất đang ngồi xổm trước bếp, xếp lại mấy hòn đá kê niêu, kê cái niêu lệch ra khỏi giữa lửa một chút như hắn chỉ, rồi lấy than vạch trên tảng đá bếp bốn cái vạch, ba vạch dài và một vạch ngắn, ba bát rưỡi nước. Thất không biết viết chữ nào khác ngoài mấy nét Mặc dạy hôm làm sổ gạo, nhưng biết vạch.
Mẻ thứ hai hắn nhóm lúc chạng vạng.
Lò vừa ấm lên, hoài sơn còn chưa cho vào, thì Thất ở trên cửa hầm gọi xuống một tiếng, không to, chỉ một tiếng gọi tên, mà giọng thì khác hẳn mọi khi. Mặc bỏ que khuấy, leo lên mấy bậc đá.
Con thú đứng ở mép sân, chỗ ngày trước là bờ ngoài của vòng đất ướt. Mặc mới thấy nó rõ lần thứ hai từ hôm ấy. Nó to bằng con bê, lông xám bết nước mưa, đầu thấp, mõm dài, hai lỗ mũi phập phồng hít về phía cửa hầm. Rồi nó bước một bước, bước qua cái chỗ ngày trước nó dừng lại chống chân suốt đêm, vì đêm nay cả sân đều ướt như nhau, chẳng còn chỗ nào bảo nó dừng.
Thất bước ra trước cửa hầm, đứng giữa con thú và bậc đá.
Thất cầm gàu nước bằng cả hai tay. Con thú bước thêm một bước. Thất hắt. Nước tạt thẳng vào mõm nó, nó giật đầu, lùi lại hai bước, rũ mạnh cái đầu như con chó vừa lội nước lên, rồi đứng đó, mõm vẫn hếch về phía cửa hầm, hai mắt đỏ lên trong bóng tối mưa như hai cục than ai thổi.
Mặc quay xuống hầm, rút đầu ngón tay khỏi miệng hoả, để lửa trong lò tự lụi, kéo tấm phên tre che kín miệng hầm, rồi mới leo lên đứng cạnh Thất với cái gàu thứ hai. Hắn không ra trước, cũng không lùi về sau. Hắn đứng ngang vai Thất, chỉ hơi lệch ra một bên để nếu con thú lao vào thì nó lao vào giữa hai cái gàu.
"Đừng đánh nó," Mặc nói khẽ.
"Ta không đánh," Thất nói. "Nó bước thì ta hắt."
Nó bước hai lần nữa, mỗi lần một bước, mỗi lần một gàu nước, và mỗi lần nó lùi lại ít hơn lần trước. Rồi nó không bước nữa, chỉ đứng ngửi. Mưa rơi trên lưng nó, trên vai Thất, trên cái gàu Mặc đang cầm, và ba bên đứng như thế rất lâu, cho tới khi mùi lò dưới hầm nhạt dần đi theo hơi nóng. Lúc ấy nó mới quay đầu, chậm rãi, như con vật già vừa ăn no mà còn tiếc, đi xuống dốc nam.
"Nó không sợ nước," Thất nói khi nó đã khuất, "nó chỉ không thích nước thôi."
"Ngươi nhìn ra thế à."
"Nó lùi mỗi lần một ít hơn," Thất nói, đặt cái gàu rỗng xuống, rồi nhìn sang ba cái chum đã vơi gần nửa. "Lần sau nó bước bốn bước thì ta hắt bốn gàu, bước mười bước thì ta hết nước. Phải thêm chum."
"Mai ta khiêng thêm một chum ở kho lên."
"Thế là đủ cho tới khi lò nguội," Mặc nói, nhìn xuống chỗ nó vừa đứng, và không nói nửa câu sau, vì cả hai người đều biết lần sau nó sẽ không thích nước ít hơn.
Mẻ thứ hai hắn phải luyện lại từ đầu vào giữa ngày hôm sau, khi trời sáng rõ, lửa lò cũ đã nguội hẳn, phải cọ lò, phải hâm lại từ nước lạnh. Thất ngồi ở cửa hầm suốt buổi chiều với hai cái gàu, áo tơi chiếu cói trùm lên đầu, và con thú không đến. Ban ngày nó chưa tới bao giờ, Mặc biết thế, nhưng hắn không bảo Thất vào trong, vì hắn biết Thất sẽ không vào. Bốn viên nữa ra lò khi trời chưa tối. Hai mẻ thuốc mua ở chợ hôm bến đếm cọc đã hết sạch, vườn thuốc thì hoài sơn mới đâm chồi, ngải và rễ đỏ trong mưa còn chưa nhú lên khỏi đất.
Tối ấy cơm Thất nấu mềm hơn, không còn sượng, nhưng canh rau thì nhạt, nhạt tới mức Mặc phải nhìn lại cái nồi xem có đúng là Thất đã nấu canh không. Rau nằm trong nồi vẫn xanh nguyên, lá còn cứng, cuống còn giòn, như vừa hái ngoài vườn.
"Rau này chắc vui lắm," Thẩm Chiêu nói, "xuống niêu rồi vẫn chưa biết mình bị nấu."
Mặc suýt sặc, và Thất ngẩng lên, không nghe được nàng, chỉ thấy hắn ho, liền đẩy bát nước sang.
"Canh nhạt à," Thất hỏi, giọng lo.
"Ngươi không bỏ muối lần nào," Mặc nói, cố nén cười. "Mai bỏ một nhúm nhỏ, nếm rồi hẵng thêm. Nhạt thì người ăn tự thêm được, mặn thì không ai rút muối ra được."
"Ta sợ mặn," Thất nói, rồi cúi xuống, gắp một lá rau sống lên ăn, nhai rất nghiêm túc, như người đang nhai một bài học.
Hắn ăn hết phần mình, rồi lấy than vẽ thêm vào tảng đá bếp, cạnh bốn cái vạch nước của Thất, một vạch nhỏ cho muối.
Ngày thứ chín mươi chín, hắn ra Kiếm đường từ sáng. Chiều qua luyện xong mẻ thứ hai thì cái bấc đen đã rút cạn, cả đêm hắn không vận được một vòng công, sáng ra người vẫn hơi rỗng như bát cơm vét đáy, nên hôm nay hắn không ngồi tu mà luyện tay. Hắn căng một sợi xơ vỏ cây giữa hai cọc gỗ cắm cạnh mảnh đá, cao ngang ngực, căng vừa đủ chùng, rồi lần này cầm dao thật.
Châm vào một điểm trên sợi xơ, xoáy, rồi vạch ngang. Mũi dao nặng đầu, đi tới điểm thì cắt được, nhưng sang nét ngang thì cái đầu nặng ấy kéo cả lưỡi dao đi quá đường, xé sợi xơ ra thành một vết toạc dài và lệch, chứ không phải một vết rạch ngắn và gắt như trên mảnh đá. Hắn buộc một sợi xơ mới, làm lại.
"Con dao ấy ngươi mua vì nó rẻ," Thẩm Chiêu nói, "giờ nó dạy ngươi cái giá của rẻ."
"Nó đâm được nghìn nhát mỗi sáng mà chưa mẻ."
"Đâm thì được, rạch thì nó kéo ngươi đi như con trâu kéo thằng chăn trâu." Lần này hắn ghì cổ tay, mũi dao dừng được, nhưng nét ngang ngắn tới mức chẳng cắt được gì, chỉ cọ qua sợi xơ như cọ que vào mép bát.
Hắn làm tới trưa, buộc tới sợi xơ thứ mười một. Có lúc đi quá đường, có lúc không đi tới, chưa lần nào đi đúng. Cái đoạn ngang còn lại trên mảnh đá chỉ dài một đốt ngón tay, và nó chỉ dạy hắn hướng đi, không dạy hắn dừng lại chỗ nào, không dạy lực đi từ đâu ra và thu về đâu. Hắn ngồi nghỉ, cởi áo xem cái sẹo vai trái. Sẹo không bong, hắn mặc áo vào, không làm thêm sợi thứ mười hai.
Ngày thứ một trăm, hắn ngồi tu trong hầm Ám Lô từ sáng sớm.
Hai ngày liền không đứng lò, linh lực đã đầy lại, chảy đều qua những đường quen. Hắn mở gói lá dong, lấy một viên đan mới, nuốt, rồi ngồi yên dẫn khí. Viên đan tan ra trong bụng thành một dòng ấm, êm, không tức ngực, đúng như những người kéo bè đã nói, và dòng ấm ấy chảy vào con đường linh lực của tầng năm, lấp đầy nó, rồi dồn tới chỗ bờ vách cuối cùng mà hắn phải đẩy qua mới tới tầng sáu.
Hắn đẩy. Vách không mở. Hắn đếm hơi thở, đếm một vòng, hai vòng, mười vòng, rồi đếm nhanh lên, nghĩ rằng nếu đẩy dồn nhiều lần hơn thì vách sẽ mỏng đi, như người ta nện cọc. Hơi thở của hắn không nhanh theo được tiếng đếm. Tiếng đếm trong đầu đi trước, hơi thở ở ngực đi sau, rồi hai thứ ấy lệch nhau hẳn một nhịp, và ngay chỗ lệch ấy ngực hắn thắt lại như có ai buộc dây thừng quanh sườn mà kéo.
Hắn dừng lại, ngồi im, thở ra thật chậm, một hơi, hai hơi, đợi cho cái dây thừng ấy nới ra từng nút.
"Ngươi đếm nhanh," Thẩm Chiêu nói, "cũng không bắt ngực mình thở nhanh theo được."
"Ta biết, lần sau ta đếm theo ngực, không bắt ngực theo ta."
"Ngươi biết từ năm mười tuổi rồi. Hồi ấy ngươi chém nghìn nhát mà đếm như chạy, chém tới nhát năm trăm thì nằm lăn ra sân."
Hắn ngồi tới tận chiều mới đứng dậy được mà không thấy tức. Viên đan đã dẫn hết, khí của nó tản vào trong người hắn mà không qua được vách, một viên mất trắng.
Thất bưng bát nước xuống tận bậc hầm, nhìn mặt hắn rồi đặt bát xuống mạnh tay hơn mọi khi.
"Ngươi ngồi từ sáng, mặt trắng như gạo," Thất nói.
"Ta ngồi hỏng một buổi."
"Hỏng thì uống nước, uống xong thì ăn, ăn xong ngồi lại," Thất nói, đúng câu Mặc vẫn nói mỗi lần Thất làm khê cơm, và đứng đó chờ cho tới khi hắn uống hết bát nước mới chịu đi lên.
Tối ấy hắn mở sổ, viết chữ tầng sáu, rồi ngừng tay.
"Ghi là suýt qua đi," Thẩm Chiêu nói, "sổ của ngươi dạo này đọc buồn quá."
"Chưa qua," hắn nói, và viết đúng hai chữ ấy. "Ghi vậy thôi, đừng ghi gần qua."
Bên ngoài, Thất đang úp cái bát đong lên miệng hũ gạo cho khỏi hắt mưa, rồi ngồi xuống cạnh bếp, tay sờ lên bốn cái vạch nước và cái vạch muối trên tảng đá, như đọc lại một trang sổ của mình.
"Mai ngươi còn nhóm lò không," Thất hỏi.
Mặc nhìn cái hộp gỗ, rồi nhìn góc hầm nơi những bó thuốc khô từng xếp chồng lên nhau, giờ chỉ còn mấy cọng ngải vụn. Hắn viết thêm một dòng cạnh dòng chưa qua, thuốc hết. Muốn có thuốc thì phải xuống chợ, mua bằng hai mươi tư linh thạch còn lại, mà muốn có tiền mua thuốc lần sau nữa thì phải bán đan, bán đan thì phải ngồi lại dưới đúng cái gốc gạo ấy, ngay trước tấm ván nứt, ngay trước mặt người vừa hỏi hắn mai có còn dựng sạp ở đây không.
"Mai thì chưa," hắn nói. "Mai ta ngồi tu, ngươi nấu cơm cho chín cả trên lẫn dưới."
Thất gật đầu, nhìn ra màn mưa đen, về phía dốc nam, rồi kéo hai cái gàu vào sát cửa hầm hơn một chút.

