Ba ngày sau lần hỏng ấy, việc khó nhất Mặc phải làm là không làm gì cả.
Hắn ngồi tu mỗi sáng một buổi, chỉ một buổi, dẫn khí đi những vòng chậm qua con đường của tầng năm, không đẩy vào vách, không đếm nhanh, đếm theo ngực như đã hứa với nàng. Chiều thì hắn ngủ, tối thì hắn ăn hết phần mình, không để thừa một hạt, vì người tức ngực mà còn nhịn ăn thì tức thêm, lão giữ bếp ở Thanh Đăng đã gõ muôi dạy hắn câu ấy từ năm mười một tuổi. Những việc tay chân thì hắn làm chậm. Sáng ngày thứ một trăm lẻ một, hắn bện một sợi thừng bằng xơ vỏ cây, chằng ngang chằng dọc qua nắp hũ gạo, buộc chặt vào hai cái quai, vì đêm qua có con chuột bị mưa đuổi vào bếp đã thử gặm mép nắp, và trong hũ ấy là một trăm chín mươi vốc gạo cho năm mươi ngày.
Thất đứng xem hắn buộc, tay cầm cái muôi, chờ.
"Ngươi ăn trước đi," Mặc nói, vẫn cúi xuống thắt nút thứ ba. "Ta buộc xong cái này đã, không thì tối nay ta nằm nghe chuột gặm nắp mà đếm gạo."
Thất múc canh ăn, thứ canh Thất nấu từ sáng sớm, ninh trên bếp suốt buổi, vì Thất nhớ lời hắn dặn rau phải chín, mà Thất nhớ thì nhớ đến tận cùng. Rau trong nồi nhừ ra thành một thứ nước xanh sẫm, sền sệt, không còn ra hình cái lá nào.
"Hôm trước rau chưa biết mình bị nấu," Thẩm Chiêu nói khi hắn ngồi xuống múc phần mình. "Hôm nay thì nó quên luôn mình từng là rau. Cơm của hắn sắp uống được rồi, ngươi khỏi cần mua thìa."
"Chín rồi," Thất nói, nhìn hắn ăn, giọng có chút tự hào.
"Chín rồi," Mặc nói, "chín quá mất một nửa, mai ninh nửa buổi thôi."
Thất gật đầu, và tối ấy vạch thêm lên tảng đá bếp một vạch nữa, cạnh bốn vạch nước và một vạch muối, một vạch cho cái nửa buổi.
Hắn mở sổ, lật sang trang mới, viết mục tiêu. Dòng trăng tròn thứ ba đã qua từ lâu, đã gạch. Dòng gạo qua mùa mưa đã gạch. Bây giờ hắn viết ba thứ theo thứ tự hắn cần chúng, tầng sáu, thuốc, nét ngang. Rồi hắn nghĩ một lúc, và viết thêm bên dưới, nhỏ hơn, chữ sạp.
Ngày thứ một trăm lẻ bốn, hắn uống một viên đan, dẫn khí suốt buổi sáng, không đẩy vào vách. Hắn chỉ để dòng ấm của viên đan chảy tới sát bờ vách rồi dừng ở đó, như người ta đổ nước vào ruộng tới bờ rồi để nó ngấm. Ba ngày sau, ngày thứ một trăm lẻ bảy, hắn uống viên thứ hai, và lần này vách đã mềm đi, hắn thấy được điều ấy như thấy một bức tường đất bị mưa thấm, nhưng hắn vẫn chưa đẩy. Hắn ngồi tu thêm một đêm, đêm ấy không nhóm lò, cái bấc đen đầy.
Sáng ngày thứ một trăm lẻ tám, hắn đẩy.
Không có tiếng gì cả. Con đường linh lực mà mười ngày trước tắc nghẹn ở chỗ ấy, làm ngực hắn thắt lại như bị buộc dây thừng, giờ đi hết một vòng, đi qua chỗ vách cũ như đi qua một cái cửa mở sẵn, rồi tới một khoảng rộng hơn, sâu hơn, và vòng lại về đan điền mà không gợn. Hắn để nó đi thêm một vòng nữa cho chắc. Rồi một vòng nữa. Tới vòng thứ ba, hắn mới cho phép mình tin.
Hắn ra Kiếm đường, cầm dao đứng trước cọc gỗ có buộc sợi xơ. Châm vào đúng điểm, và lần này bàn chân sau không trượt, gót chân bám xuống nền đá như rễ cây đa bám tường, cả thân người đứng vững sau mũi dao như đứng sau một cái cọc. Đó là sức của tầng sáu, thứ mà nghìn nhát mỗi sáng chín năm không cho hắn được. Rồi hắn vạch ngang, và mũi dao nặng đầu lại kéo đi quá đường, xé sợi xơ ra thành một vết toạc lệch như mười một lần trước.
Hắn đứng nhìn sợi xơ bị xé, rồi bật cười, một tiếng ngắn, tiếng cười đầu tiên từ hôm mua mảnh đá.
"Lên tầng thì vững chân," Thẩm Chiêu nói. "Vững chân thì xé dây cho vững hơn."
"Tầng sáu rồi," hắn nói. "Nét ngang thì chưa."
Về bếp, hắn mở sổ, gạch chữ tầng sáu, rồi ở dòng nét ngang hắn không gạch mà viết bên cạnh, chưa thành. Hai dòng ấy hắn để cách nhau một khoảng, không cho chúng dính vào nhau, như để hai bao gạo khác vụ ở hai góc bếp.
Chiều hôm ấy trời ngớt mưa, và hắn xuống chợ.
Hắn mang bốn viên gói lá dong, còn hai viên hắn để ở núi, viên cũ vẫn sau hòn đá chèn dưới bệ lò, viên mới cất trong hộp gỗ, vì mỗi lần hắn đem hết những gì mình có xuống chợ thì chợ lại lấy đi của hắn một thứ gì đó. Chợ mùa mưa chỉ còn một nửa, bè nằm im dưới bến, buộc vào hàng cọc tre, và người kéo bè ngồi vá chão dưới mái lều, nhiều hơn người mua bán. Dưới gốc gạo, tấm ván nứt đã được chủ sạp kê chống bằng hai hòn gạch, buộc lạt quanh chỗ nứt, và vẫn chưa thay.
Chủ sạp nhìn hắn một lúc lâu mới nhận hai linh thạch, rồi cầm một đồng trong hai đồng ấy đi sang hộp gỗ dưới lá cờ xanh, như mọi hôm.
Hắn không phải chờ lâu, gã râu quai nón trông thấy hắn từ dưới bè, gọi to một tiếng, và chưa hết một khắc thì bốn viên đã có chủ. Gã râu một viên, người bạn gầy một viên, bà bán cá khô một viên cho ông chồng, và viên cuối cùng hắn để cho con trai bà hàng gạo, đúng như hôm trước bà dặn. Thằng con trai bà là một gã cao lêu nghêu, tay chai chão, cầm viên đan gói lá mà đỏ mặt, như người ta vừa đưa cho gã một vật gì quý quá.
"Lá dong," gã râu quai nón nói, cầm gói lên ngửi. "Ngươi bán đan mà gói như bán bánh."
"Bánh thì người ta ăn rồi quên," Mặc nói, "đan thì ta không muốn người ta nhớ mùi."
Bốn mươi tám linh thạch vào túi, hắn đi thẳng sang hàng thuốc, và bà bán thuốc đầu dãy đã để sẵn cho hắn ba bó rễ đỏ cuối cùng phơi từ trước mưa, cùng hoài sơn và ngải, đủ ba mẻ. Phiên trước bà chỉ chịu bán hai mẻ, vì phải để phần cho cờ xanh, nhưng phiên này người bên cờ xanh không xuống lấy thuốc, đan tám bán còn chưa hết, đan bảy cũng ế, và bà cầm mười hai linh thạch của hắn mà nói rằng bó rễ đỏ phơi khô thì không đợi người ta được mãi.
Hắn vừa ôm gói thuốc quay về gốc gạo thì Tần Hưởng đã đứng đó.
Gã không đứng trước sạp hắn mà đứng cạnh chủ sạp, một bàn tay đặt hờ lên tấm ván nứt, ngay sát cái nút lạt buộc chỗ nứt. Chủ sạp đứng im như người bị ai đặt tay lên vai. Cái vòng đồng ở cổ tay trái gã vẫn bọc kín từ cổ tay lên gần nửa cẳng tay, chỉ để trống một rẻo da mỏng ở mép dưới, chỗ cổ tay gập.
"Ta vừa bảo ông chủ đây," gã nói, giọng ôn tồn, không nhìn Mặc mà nhìn mấy người kéo bè đang đứng quanh. "Sạp dưới gốc gạo là chỗ tốt nhất chợ. Chỗ tốt thì phải cho người giữ được nó thuê. Chư vị muốn mua thì phải có người còn đứng ở đây mà bán."
"Ta đang đứng ở đây đấy thôi," Mặc nói.
"Hôm nay thì có, ta hỏi ông chủ mai ngươi có còn đứng không, ông ấy bảo ông ấy không biết."
Chủ sạp cúi mặt nhìn tấm ván, và Mặc biết người ấy không thể nói khác, vì cái hộp gỗ dưới lá cờ xanh nhận một nửa tiền mỗi sạp trong chợ này, và bàn tay đang đặt trên tấm ván kia chỉ cần ấn xuống thêm một chút thì tấm ván gãy đôi.
"Thế thì ông nói ta phải làm gì để được thuê mai," Mặc hỏi, hỏi Tần Hưởng chứ không hỏi chủ sạp.
Tần Hưởng quay lại nhìn hắn, ánh mắt gã đi từ cái trán để trần của hắn xuống gói thuốc hắn đang ôm, xuống thắt lưng nơi buộc túi tiền, rồi đi sang chỗ Thất đứng sau lưng hắn một bước, dừng ở dải vải nâu quấn trán Thất.
"Ngươi có người to xác thế kia," gã nói. "Đem người ấy ra giữ sạp cho ngươi, ta muốn xem cái trán dưới dải vải ấy có giữ được chỗ không."
Thất không động đậy. Mặc cũng không quay lại nhìn Thất.
"Người không đem ra cược," hắn nói. "Ông muốn chỗ này thì ta với ông, sáng mai, ngay đây."
Dãy sạp im đi. Rồi gã râu quai nón chửi thề một tiếng, không to, như người vừa thấy ai giẫm phải gai.
Tần Hưởng nhìn hắn lâu, cái nhìn như hôm đầu nhìn một cái giếng cạn, nhưng lần này có thêm một thứ gì đó, như người ta nhìn cái giếng ấy tự dưng có tiếng nước. Rồi gã cười, cười ôn tồn như thầy đồ thấy học trò làm một bài toán sai mà tự tin.
"Ai bị đánh ngã ra khỏi khoảng sân này thì thua," gã nói. "Ngươi thua thì đi khỏi gốc gạo, không thuê lại, và để lại một nửa số tiền ngươi đang có. Nửa ấy vốn là tiền khách quầy ta, ngươi trả về thôi."
"Ông thua thì ông đặt ra đúng chừng ấy," Mặc nói, "và ông chủ đây cho ai thuê thì cho, ông không đặt tay lên tấm ván này nữa."
"Được, ta đặt đúng chừng ấy."
"Tiền đặt ra trước, đặt xuống đất cho mọi người nhìn thấy, không cầm trong tay áo."
Gã nhướng mày, như không ngờ một cái đèn rỗng còn biết đòi điều ấy, rồi gật đầu.
Mấy người kéo bè đã kéo đến đứng quanh từ lúc nào. Gã râu quai nón bước lên một bước, mặt đỏ gay, định nói gì đó với Tần Hưởng, rồi thằng con trai bà hàng gạo cũng bước lên, rồi bà bán cá khô, và Mặc thấy trong mắt họ cái điều mà hắn sợ còn hơn sợ bàn tay trên tấm ván, là họ định cãi hộ hắn, đứng ra hộ hắn, như hôm ở bến họ đếm cọc hộ hắn.
"Các ông giúp ta một việc," hắn nói với gã râu, trước khi gã kịp mở miệng. "Sáng mai các ông đem cho ta một sợi chão dài, căng quanh khoảng sân này làm ranh, cho ai ngã ra ngoài thì cả chợ đều thấy là ngã ra ngoài. Rồi các ông đứng giữ tiền hai bên, đếm cho đủ."
"Thế thôi à," gã râu nói, giọng nghẹn lại.
"Thế thôi, đan ta bán thì các ông đã uống, còn cái này thì các ông không uống hộ ta được."
Gã râu nhìn hắn một lúc, rồi gật, quay đi tìm chão.
Tần Hưởng đã đi về phía quầy cờ xanh. Gã đi chậm, tay trái buông thõng bên người, ngón giữa búng một cái vào vòng đồng, tiếng ngân trong và dài. Mặc đứng nhìn bàn tay ấy cho tới khi nó khuất sau lá cờ. Hắn nghĩ tới cái đêm trong giếng, hai nhát kim liền vào mi tâm một cái thân mạnh hơn hắn nhiều, và cái thân ấy đã quỳ xuống. Một mũi nhọn đặt đúng chỗ thì người mạnh hơn cũng phải buông tay, hắn tin thế, vì hắn đã thấy nó xảy ra. Cái rẻo da mỏng dưới mép vòng đồng ấy là chỗ duy nhất trên cánh tay gã không bọc gì.
Rồi hắn thử trong đầu, thật chậm, cái nhát đâm ấy, và cái nhát rút về sau đó. Đâm vào rẻo da, rồi rút, mà hắn chỉ biết rút thẳng, theo đúng đường vừa vào. Nét ngang thì chưa thành, hắn vừa ghi thế trong sổ sáng nay.
Về tới núi thì trời đã tối, Thất đi trước, gùi ba mẻ thuốc, không nói một câu nào suốt dọc đường, cho tới chỗ cây gạo cụt thì dừng lại.
"Mai ta đứng trước ngươi," Thất nói.
"Mai ngươi đứng ngoài sợi chão," Mặc nói. "Có người xem đông thì sẽ có người bị xô vào trong ranh, ngươi chắn cho họ khỏi lạc vào chỗ đánh, thế thôi."
"Nếu hắn đánh ngươi ngã thì ta làm gì."
"Thì ta ngã ra ngoài chão, thế là thua, mà thua thì ngươi đỡ ta dậy."
Thất đứng im rất lâu, rồi quàng lại gùi, đi tiếp, và Mặc nghe thấy Thất lẩm bẩm câu ấy trong miệng, ngã ra ngoài thì đỡ dậy, như nhẩm một vạch mới cần khắc lên tảng đá bếp.
Đêm ấy hắn ngồi dưới cái lỗ trên mái bếp, giờ đã có cái chậu sứt hứng nước, và dưới dòng chữ sạp hắn chỉ viết thêm hai chữ, nửa tiền.
"Ngươi tính đủ cả rồi," Thẩm Chiêu nói.
"Ta tính đủ cả rồi, cả tiền, cả thuốc."
"Ngươi tính cả đoạn phải bò về chưa?"
Hắn nhìn ngọn lửa trong bếp một lúc. Ngoài cửa hầm, Thất đã ra ngồi chắn với hai cái gàu, cái chum thứ tư hắn khiêng từ kho lên đứng cạnh ba cái chum cũ. Ba mẻ thuốc trong góc hầm, hai viên đan ở núi, tầng sáu.
"Chưa," hắn nói, và gập sổ lại. Sáng mai, trong vòng chão dưới gốc gạo, cái bàn tay đã làm lún tấm ván sẽ đứng chờ hắn.

