Thông báo ngừng phát hành tại Việt Nam

Từ ngày 01/01/2027, Last Lantern sẽ ngừng phát hành tại Việt Nam trên Google Play và App Store. Người chơi đã cài vẫn có thể tiếp tục chơi. Cảm ơn bạn đã đồng hành cùng Last Lantern!

Quyển 1 · Bấc Đen

Chương 26: Nửa nét còn lại

13 phút đọc·

Mục lục18 px

Từ hôm ấy, mỗi chiều Thất để phần cơm của Mặc trong niêu, vùi niêu xuống tro nóng cạnh bếp cho khỏi nguội, rồi ra Kiếm đường đứng xem hắn tập tới khi trời tối mới về cùng hắn.

Thất đã thôi nấu cơm sống, cơm bây giờ mềm đều từ trên xuống dưới, và Thất đã học được một việc mà Mặc không dạy. Trước khi bắc niêu xuống, Thất cắm đầu ngón tay vào giữa niêu cơm đang sôi, rút lên xem mấy hạt gạo dính trên ngón, rồi đứng nghĩ rất lâu, như người ta nghĩ trước một nước cờ. Lần đầu Mặc thấy thế thì hắn giật mình, rồi thấy đầu ngón tay sắt ấy không đỏ lên chút nào, thì thôi không nói.

"Còn sượng," Thất nói, sau khi nghĩ xong. "Nhưng ta không biết sượng bao nhiêu."

"Đậy vung lại, chờ một lúc rồi thử lại."

"Thử lại mà vẫn không biết thì sao."

"Thì chờ thêm," Mặc nói, "cơm nát thì vẫn ăn được, cơm sống thì không ai ăn được."

Thất nghĩ về câu ấy suốt bữa tối, và hôm sau trên tảng đá bếp có thêm một vạch nữa, ngắn hơn mọi vạch, cho cái lúc chờ.

Bốn ngày đầu hắn chưa uống đan. Lần hỏng tầng bảy đã cho hắn biết con đường linh lực của mình mỏng đi sau mười hai ngày dưỡng thương, nên hắn tu những vòng ngắn trước, mỗi ngày dài thêm một ít, như người ta kéo bè mỗi ngày thêm một cọc. Ngày một trăm hai mươi sáu hắn uống một viên, ngày một trăm ba mươi thêm một viên, giữa hai lần ấy là tu thường, ăn đủ, ngủ đủ. Viên cũ vẫn để riêng trong khe đá dưới bệ lò, trong hộp gỗ còn năm viên mới.

Chiều nào hắn cũng ra Kiếm đường, nhưng từ ngày một trăm hai mươi bảy, hắn không tập một mình nữa.

Hắn chặt một cây tre non ở bìa rừng, cắm gốc nó xuống đất cạnh cọc gỗ, uốn ngọn cong về phía sau, buộc ngọn bằng một sợi dây gai, đầu dây đưa cho Thất cầm. Trên thân tre, ngang tầm ngực, hắn buộc cái túi đất, và sợi dây gai treo lơ lửng phía trước túi đất vẫn ở đúng chỗ cũ, chỗ bàn tay trái của gã đã chờ.

"Ta làm gì," Thất hỏi, cầm đầu dây mà không dám kéo.

"Lúc nào ngươi muốn thì ngươi buông dây ra, đừng báo trước cho ta."

"Buông thì cây tre bật lại vào người ngươi."

"Thì nó bật lại," Mặc nói, "bật vào đúng lúc mũi dao của ta đang ở trong túi đất, như người ta đẩy ngược lại sống dao."

Thất nhìn cây tre, nhìn con dao, nhìn hắn, rồi gật đầu, và hắn thấy Thất nắm sợi dây bằng cả hai tay như nắm quai gàu đêm con thú tới.

Ngày đầu, cây tre bật về mười lần thì mười lần hất văng mũi dao của hắn ra ngoài, và bảy lần trong số ấy mũi dao văng về đúng đường rút thẳng, cắt đứt sợi dây gai. Thất buông dây không theo một nhịp nào, có khi buông ngay lúc hắn vừa đâm vào, có khi chờ tới khi hắn sắp rạch ngang, và có khi đứng im cầm dây suốt một lúc lâu, để hắn tưởng Thất quên. Thất không biết đánh lừa ai, Thất chỉ buông khi Thất muốn, và chính vì thế mà không đoán được.

Ngày thứ ba, kẽ tay giữa ngón cái và ngón trỏ bên phải của hắn rách ra, vì mỗi lần cây tre bật về thì cán dao giật mạnh trong lòng bàn tay. Hắn quấn vải, tập tiếp, và ngày thứ tư vết rách sâu hơn, máu thấm qua vải, dính cả vào cán dao.

"Ngươi rách tay rồi," Thất nói, cầm dây mà không buông.

"Buông đi."

"Ngươi rách tay mà vẫn bảo ta buông."

"Hắn sẽ không chờ tay ta lành mới đánh," Mặc nói, "buông đi, Thất."

Thất buông, và cây tre bật về.

Ngày một trăm ba mươi hai, gần tối, mưa ngớt hẳn lần đầu tiên sau mấy chục ngày, mây rách ra phía tây để lọt xuống một vệt nắng vàng đục, và vệt nắng ấy rọi đúng vào mảnh đá dưới chân bia Châm.

Hắn đâm, mũi dao ngắn đi một đốt vào túi đất, đúng điểm, và hắn chưa kịp làm gì thì Thất buông dây.

Cây tre bật về.

Hắn không rút. Hắn xoay hông.

Mũi dao còn cắm trong túi đất, bị lực bật ép ngược về phía hắn, và thay vì chống lại hay rút ra, hắn để cái lực ấy đẩy, rồi xoay cả thân người theo, khuỷu tay sát sườn, và mũi dao trượt sang ngang theo mép túi, rạch một đường ngắn, gọn, rồi thoát ra một bên, xa khỏi đường rút thẳng. Hắn đứng yên, túi đất rách một vết dài một đốt ngón tay, đất khô rỉ ra thành một dòng nhỏ. Sợi dây gai phía trước vẫn đung đưa.

Thất nhìn sợi dây rất lâu, rồi không nói gì, uốn cây tre về, buộc lại, cầm đầu dây. Lần này Thất chờ rất lâu mới buông, chờ tới khi Mặc đã đâm vào và đã bắt đầu đếm trong đầu. Cây tre bật về. Mặc xoay hông. Sợi dây còn nguyên.

Thất buông nhanh, rồi buông ngay khi mũi dao vừa chạm, và lần nào sợi dây cũng còn nguyên. Tới lần thứ năm thì Thất không buông dây nữa, chỉ đứng nhìn hắn, hai tay vẫn nắm sợi dây gai, và trên khuôn mặt to bè ấy có một cái gì giống như người ta đứng xem pháo hoa lần đầu.

Mặc đi tới chỗ mảnh đá, cầm con dao, đặt mũi dao vào chỗ nét đâm kết thúc trên đá, rồi đưa nó đi theo nét ngang, đi tới mép vỡ, và đi tiếp. Mũi dao đi ra khỏi mảnh đá, vẽ trong không khí cái đoạn mà đá đã mất, đúng như hắn vừa đi trên túi đất, ngắn, gọn, rồi thoát ra một bên.

Hắn không biết người khắc mảnh đá này ngày xưa đã đi đoạn ấy thế nào. Hắn chỉ biết mình đi được đến đâu.

"Liền rồi," Thẩm Chiêu nói. Giọng nàng không khô như mọi khi, cũng không ấm, chỉ là giọng của người ngồi trên bậc đá chín năm nhìn một nghìn nhát mỗi sáng, và hôm nay thấy một nhát không cần sửa. "Nhưng tay ngươi thì sắp rách làm hai."

Hắn nhìn xuống bàn tay phải, vải quấn đã đỏ thẫm từ kẽ ngón cái lan ra tới cổ tay.

"Thế là thức hai chưa," hắn hỏi.

"Ta không biết người khắc đá gọi nó là gì. Ta chỉ thấy nét dao của ngươi đã liền với nét trên đá." Nàng ngừng một lúc. "Đừng hỏi ta có hết giận chưa, ta chỉ nói về nét dao."

"Ta không hỏi."

"Ngươi định hỏi, ta thấy ngươi há miệng ra rồi."

Sáng ngày một trăm ba mươi ba, vòng khí đi trọn qua vách tầng bảy, đi hết một vòng dài, vòng lại, giữ được tới hết buổi mà không chùng xuống. Hắn không đứng dậy mà ngồi tu tiếp cho tới khi trời tối, rồi ngủ, và sáng ngày một trăm ba mươi tư, hắn ngồi lại vào chỗ ấy, dẫn vòng khí đi lần nữa, để chắc rằng nó vẫn ở đó sau một đêm, và nó vẫn ở đó.

Chiều ấy hắn tập lại với cây tre, Thất buông dây theo ý Thất, mười lần thì tám lần sợi dây còn nguyên. Rồi hắn bảo Thất cầm thân tre bằng một tay, đẩy thẳng vào hắn như một cái chưởng, và hắn đỡ bằng sống dao. Hắn bị đẩy lùi ba bước, gót chân cày hai rãnh trên nền đất, cánh tay tê tới vai, mà Thất mới chỉ đẩy bằng sức của một người đẩy xe chứ không bằng sức đánh.

Hắn mở sổ, ghi dưới chữ tầng bảy một dòng ngắn. Không đỡ chưởng, cắt bàn tay đang giữ rồi đi ra, không đọ sức lâu.

Trước khi đi, hắn đổ đầy cả bốn chum, trát đất ướt kín mép tấm phên tre trên miệng hầm, rồi lăn hòn đá to nhất sân chèn lên trên. Lò đã nguội từ ngày một trăm mười bảy vì hết thuốc, không còn mùi gì cho con thú ngửi, nhưng nó đã học đi vòng, và hắn biết mình đang đặt cược rằng một cái hầm nguội không đáng để nó đào.

Sáng ngày một trăm ba mươi lăm, hắn xuống chợ. Hắn mang cả sáu viên đan, viên cũ gói riêng một gói, và một túi gạo hai mươi vốc buộc trên gùi Thất, ghi trong sổ là gạo mang đi chứ chưa phải gạo đã ăn, vì hắn không biết mình sẽ ở dưới ấy mấy ngày. Hắn không định thuê sạp, cũng không định bán viên nào, chỉ muốn tận mắt nhìn lại bàn tay ấy trước khi đặt hai mươi tám linh thạch cuối cùng của mình xuống đất.

"Mang cả sáu viên à," Thất hỏi lúc đứng ở cổng, nhìn cái gói lá dong hắn nhét vào ngực áo. "Hôm trước ngươi không mang viên nào."

"Hôm trước ta nghĩ đan chỉ để tu."

"Thế giờ ngươi nghĩ sao."

"Giờ ta nghĩ gã kéo bè hôm ấy biết nhiều hơn ta," Mặc nói, và đi xuống dốc trước.

Chợ cuối mùa mưa vắng, bè vẫn buộc dưới bến, nhưng ở bãi trống sau dãy kho, chỗ Lão Khúc thường xếp hàng đèn, có một chiếc xe bò đang được người ta chất hàng. Không phải hàng, mà là đèn, những ngọn đèn úp chụp xếp từng hàng trên sàn xe, buộc dây quanh chân đĩa, và ngồi quanh mép sàn xe là sáu người, mỗi người ngồi cạnh một ngọn.

Thất dừng lại trước Mặc, đột ngột tới mức hắn suýt đâm vào lưng.

"Cái hoa lệch ấy," Thất nói, chỉ tay. "Con bé ấy vẫn giữ nó."

Trên sàn xe, ở góc sau, có một cái chụp giấy dầu dán một bông hoa giấy đỏ cắt vụng, một cánh dán lệch. Đứa con gái tóc mái cắt ngang ngồi cạnh nó, hai tay ôm đầu gối, nhìn ngọn đèn của mình, và cái đốm lửa Luyện Khí nhỏ, hồng trên trán nó run nhè nhẹ mỗi lần bánh xe kẽo kẹt dưới chân người chất hàng.

Trong ngực Mặc, chỗ nóng của nàng cứng lại.

Người ngồi gần đầu xe nhất là một người lớn tuổi, tóc bạc nửa đầu, ôm ngọn đèn của mình bằng hai tay như ôm một bát nước đầy, và Tần Hưởng đứng cạnh người ấy. Gã cầm trong tay một tờ giấy gấp đôi, đang mở ra đọc cho người canh xe nghe số đèn. Mặc đứng đủ gần để đọc được dòng cuối tờ giấy. Bên nhận, Thanh Vân Môn, người nhận thay là Tần Hưởng, lái đèn được uỷ, và dưới mấy chữ ấy là một cái dấu son vuông.

"Gã ký nhận thay Thanh Vân," hắn nói khẽ. "Xe này giao hay giữ là ở tay gã."

Tần Hưởng ngẩng lên, thấy hắn, thấy cái trán để trần, thấy Thất, và gã cười, gập tờ giấy lại, quay sang những người ngồi trên xe.

"Chư vị thấy người kia không," gã nói, giọng ôn tồn. "Hôm trước hắn đánh với ta để giữ một cái sạp, rồi bò dưới bùn mà đếm tiền. Ở cái chợ này, đến một cái sạp còn không ai giữ được, chư vị đừng mong có ai giữ được chư vị."

Không ai trên xe nói gì, người lớn tuổi ôm chặt ngọn đèn hơn, còn đứa con gái thì ngẩng lên nhìn Mặc, nhìn thẳng vào cái khung đèn rỗng trên trán hắn, như lần đầu ở hàng đèn, không sợ, chỉ tò mò, và lần này hình như có thêm một chút gì như chờ.

Đám người trong chợ đã kéo tới, có tiếng cười, ít hơn hôm trước, còn gã râu quai nón đứng ở đầu bãi, không cười.

Mặc lấy túi tiền ra khỏi thắt lưng, mở ra, không đếm. Cả chợ đã biết trong ấy có bao nhiêu, vì cả chợ đã thấy nó bị chia đôi.

"Hai mươi tám," hắn nói, "ông đặt hai mươi tám ông lấy của ta hôm ấy, và tờ giấy nhận xe. Sáng mai, chỗ gốc gạo, sợi chão cũ, ngã ra ngoài thì thua."

Tần Hưởng nhìn hắn, rồi nhìn tờ giấy trong tay mình, và lần này gã không cười.

"Ngươi biết tờ giấy này là gì không," gã nói. "Giấy còn thì sáu cái đèn này là hàng Thanh Vân đã nhận. Giấy mất thì họ chỉ là sáu người ngồi trên xe bò, đi đâu thì đi, còn Thanh Vân sẽ xuống tận nơi mà đòi lại, đòi cả người làm mất giấy."

"Ngươi muốn sáu cái đèn này làm gì," gã hỏi. "Ngươi có núi à, có gạo à, có hạn ngạch à."

"Ta thắng thì trả giấy cho chủ đèn," Mặc nói. "Không chuyển người sang tên ta, họ đi đâu là việc của họ."

Gã đứng im một lúc lâu, ngón tay búng nhẹ vào vòng đồng ở cổ tay, mà không nghiêng tai nghe. Mặc biết gã đang tính, như hắn tính, rằng một gã lái đèn để một cái đèn rỗng thách mình giữa chợ, trước mặt người giao hàng và người bị giao, mà không nhận, thì từ mai cái hộp gỗ dưới lá cờ xanh sẽ nhẹ đi.

"Sáng mai," gã nói, "đánh xong thì xe đi, ngươi thua thì xe đi sớm hơn."

Gã gập tờ giấy lại, bỏ vào một cái hộp gỗ nhỏ, đặt cái hộp lên đầu càng xe, ngay trước mặt người lớn tuổi, nơi cả chợ đều nhìn thấy. Gã đặt hai mươi tám linh thạch của mình bên cạnh.

Gã râu quai nón đi tới, nhìn cái hộp gỗ, nhìn Mặc, rồi nói khẽ.

"Mai chão vẫn ở chỗ cũ, lần này ta buộc thêm một nút."

"Lần này các ông trải chiếu xa ra một chút," Mặc nói, "ta mà có ngã thì đừng để ta ngã lên tiền."

Gã râu nhìn hắn, rồi bật cười, cười to tới mức người canh xe phải quay lại nhìn.

Đêm ấy Mặc và Thất ngủ ở bãi sau dãy kho, cạnh chiếc xe. Người canh xe nói bánh xe trái bị lỏng nêm, trời mưa đất nhão, xe có thể trôi xuống dốc ra phía bến, nên phải chèn lại, và trong lúc người ấy đi tìm gỗ thì Thất ngồi xuống trước bánh xe, tì vai vào nó, giữ cho nó đứng yên.

Mặc mở gói cơm, Thất ăn trước, một tay vẫn tì vào bánh xe. Rồi hắn ăn, bằng tay trái, vì tay phải quấn vải không cầm được nắm cơm cho chắc. Đứa con gái trên xe nhìn sang chỗ hai người ăn, rồi nhìn xuống cái niêu nhỏ đặt cạnh chân người lớn tuổi, niêu trống, và quay mặt đi.

"Ngươi định đem cái tay này đi đánh," Thẩm Chiêu nói, "rồi đem nó đi nhặt tiền. Nhặt tiền bằng tay này chắc đếm được cả máu."

"Lần này ta không định nhặt dưới đất."

"Hôm trước ngươi cũng không định, rồi ngươi nhặt cả buổi."

Hắn nhìn sang quầy cờ xanh, nơi còn một ngọn đèn treo. Tần Hưởng đứng dưới ngọn đèn ấy, đang nói gì đó với người đệ tử áo xanh, rồi gã đưa tay trái lên, xắn ống tay áo lên tới khuỷu. Cái vòng đồng sáng lên dưới đèn, ngay mép dưới nó là rẻo da trần mà hôm trước mũi dao của hắn đã chạm vào, và trên mép vòng vết xước nhỏ vẫn còn.

Gã không nhìn sang, chỉ co ngón giữa lại để búng, và dưới rẻo da một sợi gân nổi lên, chạy từ lòng bàn tay vào trong vòng đồng, căng ra rồi chùng xuống theo cái búng. Hôm ở chợ, mũi dao vừa chạm chỗ ấy thì mấy ngón tay gã giật lên. Mặc biết sợi gân ấy, vì cả tuần nay mỗi lần nắm cán dao cho chặt thì chính sợi gân dưới cổ tay phải của hắn kéo căng chỗ vết rách. Bàn tay khép lại được là nhờ nó, và đồng của gã không bọc tới nó.

Gã nghe hết tiếng ngân, rồi kéo ống tay áo xuống.

Hết chương 26

Tự tay đưa họ về nhà trong game

Thắp lại đèn, dựng lại tông môn trong Last Lantern.

Google PlayApp Store