Sáng ngày một trăm ba mươi bảy, người thức dậy đầu tiên ở chỗ cây gạo cụt không phải Mặc mà là người lớn tuổi giữ đèn, và việc đầu tiên người ấy làm là tháo sợi dây buộc nêm ở bánh xe trái.
Mặc nằm cạnh đống tro bếp ba hòn đá, vai trái nhức theo nhịp tim, nhìn người ấy tháo từng vòng dây, chậm, như sợ làm đau cái bánh xe. Cái niêu của sáu người quai đứt một bên từ trưa hôm qua, đứa con gái cắt bấc phải ôm vào bụng mới bưng nổi. Người lớn tuổi tước sợi dây vừa tháo làm đôi, luồn qua hai cái lỗ trên vành niêu, xoắn thành một cái quai mới, nhấc thử lên, đặt xuống, rồi xoắn thêm một vòng nữa cho chắc.
"Thế còn bánh xe," Mặc hỏi, chống tay phải ngồi dậy.
"Hôm nay bánh xe không phải chở đèn đi bán nữa," người ấy nói, không ngẩng lên, "nó lỏng một chút cũng được, còn quai niêu mà lỏng thì con bé bỏng tay."
Người ấy cúi xuống buộc nút cuối, và mớ tóc bạc nửa đầu tuột khỏi cái khăn vấn, rủ xuống một bên mặt. Giữa trán người ấy là một đốm lửa Luyện Khí nhỏ và mờ, tròn, nằm thấp, không có đế, như hòn than người ta vùi dưới tro để sáng mai còn nhóm lại được bếp. Người ấy vuốt tóc lên, vấn lại khăn, không vội, như không thấy có gì phải giấu một người vừa xé giấy hộ mình.
"Tôi là Đỗ Nghi," người ấy nói, đưa cái niêu cho đứa con gái. "Ở Lạc Thủy tôi giữ sổ gạo, cả tông ăn bao nhiêu, còn bao nhiêu, nợ ai bao nhiêu, đều do tôi ghi."
"Thế thì ông cũng đếm như ta," Mặc nói.
"Tôi đếm người trước," Đỗ Nghi nói, "gạo đếm sau."
Người canh xe đã tháo ách con bò từ lúc trời còn xám. Bò là bò thuê của chợ, người ấy nói, giấy nhận xe xé rồi thì chẳng ai trả tiền thuê nữa, bò phải về chuồng trước khi chủ bò đi tìm. Rồi người ấy dắt bò về phía cổng chợ, không quay đầu lại. Chiếc xe đứng trơ hai cái càng chống xuống bùn, trên sàn sáu ngọn đèn úp chụp vẫn buộc dây quanh chân đĩa.
Thất đi vòng quanh xe một lượt, nhấc thử một cái càng lên ngang hông, rồi đặt xuống.
"Không có bò thì ta kéo," Thất nói, "ta kéo được."
"Kéo đi đâu," Thẩm Chiêu nói trong ngực Mặc. "Hỏi người ta xe về đâu đã, hay ngươi định để Thất kéo cả sáu người lên núi rồi mới ngồi hỏi."
Đỗ Nghi ngồi xuống trước mặt Mặc, hai bàn tay đặt lên đầu gối, như người ta ngồi trước một món nợ.
"Hôm qua cậu hỏi đường xuống bến Lạc Thủy," ông nói. "Cậu không phải đi xa đâu, người chợ này gọi khúc cuối bến là bến Lạc Thủy, vì bè của chúng tôi vẫn buộc ở đấy mỗi lần xuống đổi gạo. Bè đang buộc ở đấy, ba hôm nay rồi."
"Trên bè còn ai."
"Tám người," Đỗ Nghi nói, "sáu chúng tôi đi theo xe, còn tám người kia chống bè xuống theo sau, mang cả đèn của họ theo người, vì không ai muốn ngồi ở nhà mà không biết đèn anh em mình bị đem đi đâu. Lạc Thủy có mười bốn người, cả già lẫn trẻ. Xin cậu đừng chỉ tính sáu người trên xe."
"Sao không chống bè ngược về nhà."
"Về nhà là về đúng chỗ người ta đã biết đường tới lấy," Đỗ Nghi nói, giọng không cao lên chút nào. "Tờ giấy cậu trả hôm qua ghi người nhận thay là Tần Hưởng. Giấy mất thì gã phải trả lời với Thanh Vân, và Thanh Vân sẽ xuống đòi lại sáu người, đòi cả người làm mất giấy. Còn lệnh bắt Lạc Thủy nộp thay thì không viết trên tờ giấy ấy, xé giấy không xé được lệnh. Họ biết án của chúng tôi ở khúc sông nào, biết cả cây đa đầu bến nhà tôi. Tôi không xin cậu đánh Thanh Vân. Tôi xin một chỗ tránh, cho cả mười bốn người, tới khi chúng tôi tính được đường khác."
Mặc mở sổ trên đầu gối.
Hắn ghi sáu, rồi ghi tám, rồi ghi hai, và cộng lại là mười sáu. Mười sáu người, mỗi người hai vốc, một ngày ba mươi hai vốc, mà túi trên gùi Thất còn sáu vốc, hũ trên núi ba mươi mốt, cộng lại đủ đúng một ngày và thừa năm vốc. Năm mươi sáu linh thạch, nếu gạo mùa mưa đã lên gấp đôi như bà hàng gạo nói, thì đổi được năm trăm sáu mươi vốc, tức mười bảy ngày cho mười sáu miệng, rồi không còn đồng nào cho thuốc hay mái bếp. Ở góc trang hắn ghi thêm một dòng nhỏ hơn, rằng nếu chỉ có hắn với Thất thì tiền vẫn đủ, núi vẫn tối, và sáu người này chỉ được trả lại một đoạn đường dẫn về đúng chỗ người ta đang đợi họ.
"Ngươi đếm tám người mà chưa thấy mặt ai," Thẩm Chiêu nói. "Người ta chống bè xuống theo đèn chứ không theo ngươi. Hỏi xem họ có muốn lên không đã."
Hắn ngẩng lên thì thấy đứa con gái đang ngồi trên mép sàn xe, cái niêu có quai mới đặt trên đùi, và nó đang dùng ngón tay vuốt lại cái cánh hoa giấy dán lệch trên chụp đèn, vuốt mãi mà cánh hoa vẫn lệch.
"Đừng nhìn con bé mà quyết," nàng nói, khẽ hơn. "Nhận họ vì ngươi nuôi được thì nhận. Nhận vì con bé có cái chụp hoa thì ngươi cứu bao nhiêu người cũng không cứu được người ngươi muốn cứu đâu."
Hắn không đáp, vì cả hai đều biết nàng đang nói về ai, và chỗ nóng trong ngực hắn lặng đi, cứng lại như mỗi lần đứa con gái ngẩng lên nhìn trán hắn.
"Ta nói trước để ông khỏi tưởng nhầm," Mặc nói với Đỗ Nghi, "ta mới Luyện Khí tầng bảy, hôm qua ta thắng một người trong một vòng chão, có người đứng giữ tiền, có luật ai ngã ra ngoài thì thua. Trên núi ta không có vòng chão nào, Thanh Vân mà lên thì không ai đứng giữ hai đầu dây cho ta cả. Núi ta có ba trăm cái bấc nguội, một cái bếp thủng mái chèn rơm, và hai cái bát."
"Tôi nghe cậu nói hai cái bát từ hôm qua," Đỗ Nghi nói, "chúng tôi có bát."
"Thế thì ông về hỏi tám người ở bè, hỏi từng người, ai muốn lên thì lên, ai muốn đi tiếp thì đi, hôm nay hay mai sau cũng thế. Ta nhận chỗ ở, không nhận giấy bán người. Đèn của ai thì người ấy giữ, không đặt lên án nhà ta, không ai đổi tên tông của ai."
Đỗ Nghi nhìn hắn rất lâu, rồi đứng dậy, phủi đầu gối, và không cảm ơn, như người ta không cảm ơn khi mới chỉ được hứa.
Thất kéo xe về chợ bằng hai cái càng kẹp dưới nách, năm người Lạc Thủy đi hai bên đỡ thành xe. Đỗ Nghi xuống bến, Mặc dừng ở hàng gạo đầu chợ.
"Mười vốc một đồng," bà hàng gạo nói trước khi hắn kịp hỏi. "Ta đã bảo cậu rồi, mưa xuống thì gạo lên gấp đôi, mà bè thượng nguồn còn chưa xuống được chiếc nào."
"Hai trăm vốc," Mặc nói.
Bà nhìn hắn, nhìn chiếc xe không bò đứng ở đầu ngõ, nhìn sáu ngọn đèn úp chụp trên sàn xe, rồi bảo thằng con trai mang cái đấu ra, nhưng Mặc không lấy đấu mà đong bằng tay mình như mọi lần, từng vốc, đếm thành tiếng, và thằng con trai bà đứng cầm miệng bao, môi mấp máy đếm theo như hôm cả bến đếm cọc. Hắn đếm tới một trăm hai mươi thì Đỗ Nghi từ dưới bến đi lên, áo ướt tới gối, thở dốc.
"Họ muốn lên, cả tám người," ông nói, "nhưng họ xin một ngày để tháo bè, cuộn chiếu, gỡ dây. Cái bè là thứ duy nhất của Lạc Thủy còn lại ngoài mấy ngọn đèn, họ không bỏ dây bè lại cho người khác cắt được."
Rồi ông nhìn cái bao gạo đã đầy hơn nửa, và nhíu mày.
"Sáu người mà hai trăm vốc thì nhiều quá," ông nói. "Cậu để tiền lại mà mua thuốc, chúng tôi ăn ít cũng quen."
Mặc không nói gì, chỉ lau tay vào vạt áo rồi mở sổ ra đưa cho ông. Trên trang mới nhất, dưới dòng năm mươi sáu linh thạch, có ba dòng. Dòng đầu là hai, Mặc và Thất. Dòng thứ hai là sáu, trên xe. Dòng thứ ba là tám vạch than, mỗi vạch cách nhau một đốt ngón tay, và bên cạnh hắn ghi, dưới bè, chưa lên. Hắn đã ghi dòng ấy từ lúc ngồi dưới gốc cây gạo cụt, trước cả khi biết họ có muốn lên hay không.
Đỗ Nghi nhìn tám vạch than rất lâu. Rồi ông chìa tay xin cục than, và Mặc đưa cho ông. Ông không viết tên ai cả. Bên cạnh mỗi vạch ông viết một việc, chữ nhỏ và nghiêng, vá chiếu, giữ dây bè, nấu cá, chèo lái, đan lưới. Hai vạch cuối ông viết cùng một chữ, nhỏ, rồi ngừng ở vạch thứ tám rất lâu mới viết, trông bếp.
"Tên thì sổ trời ghi rồi," ông nói, trả lại cục than. "Sổ của cậu ghi việc, để lên núi người ta còn biết mình làm gì."
Mặc nhìn tám dòng chữ nghiêng ấy, rồi nhìn hai dòng chữ của hắn ở bên trên, chỉ có số, và lần đầu tiên từ ngày giữ sổ, hắn thấy trang sổ của mình có một chỗ hắn không tự viết ra được.
Hắn đong nốt tám mươi vốc, trả hai mươi linh thạch, rồi buộc túi tiền còn ba mươi sáu đồng vào thắt lưng.
Đường lên núi dài hơn mọi lần, vì xe nặng, đường nhão, và con dốc cuối có một đoạn hẹp chỉ vừa lọt hai bánh, một bên là vách đất, một bên là sườn đá đổ xuống rừng. Thất kéo, mấy người Lạc Thủy đẩy phía sau, Mặc đi bên bánh trái chèn đá mỗi lần xe dừng lấy hơi, mỗi lần cúi xuống thì vai trái nhói lên, nhói tới mức hắn phải đổi sang bàn tay phải còn quấn vải. Lúc qua cái cổng có tấm bia nghiêng, đứa con gái đọc to ba chữ khắc trên tấm ván cạnh cổng, Khải Phong Tông, đọc từng chữ một, như đọc tên một cái làng trên đường đi.
Qua cổng, việc đầu tiên Mặc làm là đi thẳng ra cửa hầm. Hòn đá vẫn đè trên tấm phên, lớp đất hắn trát quanh mép đã khô nứt chân chim, nhưng ở góc phía dốc nam có bốn vệt cào sâu, đất trát bị bới tung một mảng bằng bàn tay rồi bỏ dở, và dấu móng cũ chừng hai ngày đi một vòng quanh hầm rồi xuống dốc. Hầm còn nguyên, hắn đã cược đúng, nhưng con thú đã thử.
"Nó thử lúc không có ai," Thẩm Chiêu nói. "Giờ thì nhà ngươi đông người rồi."
Bữa trưa trên núi nấu muộn, Thất nhóm bếp, bắc cái niêu sứt của nhà lên, nhìn sáu người đứng quanh, rồi bắc thêm cái niêu có quai mới của Lạc Thủy lên bếp đá bên cạnh, và đứng giữa hai cái niêu như người đứng giữa hai cái đầu bò.
"Hai niêu thì ta phải nhớ hai lần nước," Thất nói. "Ta nấu lượt nữa được, chỉ phải nhớ lại nước."
"Ngươi nhớ niêu nhà mình là ba bát," Mặc nói, "niêu của họ to hơn, bốn bát rưỡi."
"Bốn bát rưỡi," Thất nhắc lại, rồi cầm cục than vạch lên tảng đá bếp, ngay dưới vạch nước cũ, một vạch mới dài hơn, và vạch thêm một cái nửa vạch bên cạnh.
Niêu đầu chín sớm, cơm hơi khô phía đáy, niêu sau chín muộn, cơm vẫn còn sượng trên mặt mà Thất không dám đun thêm vì sợ cháy. Sáu người Lạc Thủy lấy bát của mình ra từ trong bọc trên xe, sáu cái bát gỗ mòn vành, xếp thành một hàng trên thềm bếp cạnh hai cái bát sành của nhà, và không ai chê cơm sượng, cũng không ai ăn trước khi Đỗ Nghi cầm bát lên. Mặc không ngồi xuống. Hắn đi chèn lại hai bánh xe bằng đá, vì sân dốc về phía cổng, rồi dẫn đứa con gái với một người nữa ra chỉ cái giếng nước ngọt và cái suối dưới vườn thuốc, chỉ cả chỗ đá trơn trên bậc giếng. Lúc hắn quay về, bảy cái bát đã vét sạch, và Thất đang cạo nốt cơm cháy dưới đáy niêu vào cái bát sành còn lại cho hắn.
Hắn đứng mà ăn, ăn hết, nhìn sáu người lạ ngồi trên thềm bếp nhà mình như nhìn mưa rơi vào một cái chum vốn để không.
Chỗ ngủ thì không đủ. Kho thóc là gian duy nhất trên núi mái còn lành, nhưng rơm thóc cũ chiếm nửa gian, và nửa còn lại vừa đủ cho bốn người nằm. Bếp thì dột, cái lỗ trên mái Thất chèn rơm vẫn rịn nước xuống chậu sứt, chỉ có một khoảng sát vách là khô, chỗ Mặc với Thất vẫn trải chiếu từ đầu mùa mưa. Mặc cuộn chiếu của mình lại, đặt cạnh cửa bếp, nơi gió lùa vào và nước mái hắt xuống ngưỡng cửa thành một vệt dài, rồi bảo hai người Lạc Thủy già nhất trải chiếu vào chỗ khô sát vách.
"Ngươi vừa chèn rơm cho cái bếp đỡ dột," Thẩm Chiêu nói, "giờ lại đem chỗ khô nhất cho thuê không lấy tiền."
"Ta không cho thuê," hắn nói khẽ, "ta cho mượn."
"Cho mượn mà không hẹn ngày trả thì người ta gọi là cho."
Đỗ Nghi muốn dọn sáu ngọn đèn vào gian thờ cho chụp giấy khỏi ướt. Mặc dẫn ông vào xem ba trăm cái bấc nguội xếp hàng trong bóng tối và tấm ván khắc một dòng chữ treo trước án, và Đỗ Nghi đứng đọc tấm ván ấy rất lâu mà không hỏi gì. Rồi ông quay ra, bảo mấy người trẻ khiêng tấm ván sàn xe vào hiên kho thóc, kê lên hai hòn đá cho phẳng, xếp sáu ngọn đèn lên đó, cách xa cái án một khoảng sân.
Tối ấy mưa nhỏ, và khi sáu người Lạc Thủy tháo khăn, xoã tóc để nằm, Mặc thấy cái điều mà hắn đã biết từ sáng mà chưa nhìn thấy. Sáu đốm lửa Luyện Khí trên sáu cái trán, sáu ngọn đèn dưới sáu cái chụp trong hiên kho thóc, và cái sân xưa nay chỉ có lửa bếp vùi tro giờ có một quầng sáng mờ như hơi nước bốc lên từ một nồi canh. Hắn ra tận mép sân quay lại nhìn, và ngọn núi của hắn không còn là một chỗ tối nữa. Khăn vải không che được sáu cái trán đang ngủ, Liễm Tức của hắn chỉ giấu được một ngọn lửa, là ngọn lửa trong ngực hắn, và trên kia trời vẫn còn mây.
Đỗ Nghi ra đứng cạnh hắn từ lúc nào, hai tay vẫn khoanh trước ngực như đang ôm một ngọn đèn không có ở đó.
"Sáng mai tôi xuống đón tám người," ông nói. "Họ tháo bè xong từ chiều rồi."
Mặc quay lại nhìn vào trong, hai người già nằm sát vách bếp, bốn người nằm kín nửa gian kho thóc, đứa con gái nằm cuộn ở góc trong cùng với cái chụp hoa đặt cạnh đầu, và Thất ngồi canh ở cửa hầm. Không còn một khoảng nền khô nào đủ rộng cho một người nằm duỗi chân.
"Đủ mười bốn người thì báo ta," hắn nói, "thiếu một người cũng báo."
Hắn vào nằm sát cửa bếp, chỗ nước mái hắt ướt một góc chiếu, nằm nghiêng về bên phải cho vai trái khỏi đè. Chỗ khô trên núi chỉ có sáu, mà sáng mai là mười bốn, nên hắn không đếm nữa mà nằm nghe mưa. Còn mưa thì còn mây. Ngày nào mưa tạnh, cái quầng sáng trên núi sẽ đứng trơ dưới trời, và ai ngẩng lên cũng thấy.

