Thông báo ngừng phát hành tại Việt Nam

Từ ngày 01/01/2027, Last Lantern sẽ ngừng phát hành tại Việt Nam trên Google Play và App Store. Người chơi đã cài vẫn có thể tiếp tục chơi. Cảm ơn bạn đã đồng hành cùng Last Lantern!

Quyển 1 · Bấc Đen

Chương 29: Chỗ nằm thứ mười sáu

11 phút đọc·

Mục lục18 px

Trời vừa rạng, trước cả nghìn nhát kiếm, Mặc đã cầm một que tre đi đo nền nhà.

Hắn đặt que xuống sát vách bếp, nằm thử bên cạnh, thấy một người nằm duỗi chân thì dài bằng một que rưỡi, rồi cứ thế đặt que nối que trên mọi khoảng nền còn khô dưới mái. Kho thóc nếu dọn hết rơm cũ ra thì được tám chỗ, bếp sát vách được ba, hiên kho thóc có mái che nhưng một đầu hắt mưa nên chỉ được hai, còn hành lang trước gian thờ thì hắn đo mà không tính, vì phải chừa một lối thẳng từ cửa vào tới cái án. Hắn cộng lại, mười ba chỗ, mà tối nay trên núi có mười sáu người.

Hắn ghi con số ấy vào sổ, rồi ra Kiếm đường đâm nghìn nhát, nhưng đâm chậm, mũi dao đi tới điểm rồi dừng, không xoay hông, vì mỗi lần vai trái kéo căng theo thân người thì vết chưởng quệt dưới lớp băng lại rịn ra một vệt ấm.

"Hôm nay ngươi đâm như người ta khâu áo," Thẩm Chiêu nói.

"Áo khâu chậm thì vẫn kín," hắn nói, "vai rách thêm thì mai ta không kéo được xe."

Lúc hắn quay về thì Thất đã bắc hai cái niêu lên bếp, và Đỗ Nghi đã cùng hai người Lạc Thủy trẻ nhất kéo chiếc xe trống ra tới cổng. Mặc giao cho Thất việc dọn rơm kho thóc ra hiên, việc nấu một bữa sớm cho bốn người ở lại rồi giữ lửa chờ xe về, rồi đi theo xe xuống núi.

Xe trống xuống dốc nhẹ như không, hai người trẻ chỉ phải ghì càng cho nó khỏi chạy, còn Đỗ Nghi đi sát Mặc, im lặng gần hết con dốc, tới chỗ cây gạo cụt mới nói.

"Hôm qua tôi đã nói với họ rồi," ông nói, "nhưng xuống tới nơi tôi vẫn sẽ nói lại một lần trước mặt cậu. Để sau này không ai bảo tôi dắt người lên núi bằng một lời hứa."

Tám người Lạc Thủy đã tháo xong bè. Cái bè to nhất bến đêm qua giờ chỉ còn là mười mấy cây tre ngâm nước xếp trên bờ, buộc thành một bó, và cạnh bó tre là tám bọc đồ cuốn chiếu, tám ngọn đèn úp chụp, ba cái nồi, một chồng bát gỗ, và một đống dây bè cuộn tròn to bằng cái thúng. Một người đàn bà ngồi khâu nốt mép tấm chiếu rách, một gã trai cao gầy đang cuộn dây, cuộn bằng cả khuỷu tay chứ không chỉ bàn tay, và hai đứa nhỏ ngồi trên bó tre đung đưa chân như ngồi trên mạn bè.

Đỗ Nghi đứng trước tám người, không lên giọng.

"Trên ấy chưa có nhà đủ cho chúng ta," ông nói. "Ta đã nói rõ rồi, giờ nói lại. Cậu ấy có một cái bếp dột, một gian kho, ba trăm cái bấc nguội, và gạo thì phải xuống đây mua từng bao. Ai muốn về thượng nguồn thì bây giờ vẫn còn đi được."

Người đàn bà khâu chiếu cắn đứt sợi chỉ, cuộn tấm chiếu lại, buộc ngang bằng một sợi lạt, rồi mới ngẩng lên.

"Về thượng nguồn thì ai nấu cơm cho ông," bà hỏi Đỗ Nghi. "Ông đếm gạo giỏi chứ nấu thì cháy cả niêu."

"Bè tháo rồi," một đứa nhỏ ngồi trên bó tre nói, "về bằng gì."

"Bằng chân," gã trai cao gầy nói, vác cuộn dây lên vai, "mà chân thì đang đi lên núi."

Không ai nói gì thêm, nhưng cũng không ai ngồi lại.

Mặc mua gạo ở hàng gạo đầu chợ, một trăm sáu mươi vốc, mười sáu linh thạch, và lần này bà hàng gạo không nói gì về giá, chỉ nhìn tám bọc đồ chất lên xe.

"Hôm qua sáu người, hôm nay mười bốn," bà nói. "Mai cậu còn định đón thêm ai nữa không, để ta biết đường mà giữ gạo."

"Mai ta không xuống," Mặc nói. "Mai ta đếm xem mười bốn người ăn hết bao nhiêu đã."

Bà bật cười, rồi bảo thằng con trai mang thêm một cái bao không ra, cho không, để gạo khỏi phải dồn chật một bao mà rách. Trong túi Mặc còn hai mươi đồng.

Đến lúc chất gạo thì hắn mới thấy cái nghề của bến sông.

Gã trai cao gầy không để hắn buộc bao. Gã quấn dây bè quanh hai bao gạo, quanh chân mấy ngọn đèn, quanh thành xe, rồi thắt một cái nút mà Mặc nhìn ba lần vẫn không thấy đầu dây chui đi đâu, kéo mạnh một cái, cả đống đồ trên xe cứng lại như đóng đinh. Hắn hỏi, và gã chỉ cho hắn, rất chậm, tay gã to và thô mà chỗ nào cũng biết đúng một việc.

"Nút này buộc bè lúc nước xiết," gã nói, giọng ồm, "bè dừng đột ngột thì đồ không trượt, mà muốn tháo thì giật một cái là tháo."

"Lên dốc dừng giữa chừng cũng thế à."

"Dốc cũng là nước," gã nói, "chỉ là nó không chảy."

Lên núi thì tám người kéo, không ai bảo ai. Họ tháo bốn sợi dây từ cuộn dây bè, buộc vào hai cái càng, mỗi sợi vắt qua vai hai người, rồi kéo cùng một nhịp, chân trái, chân phải, nghiêng người về phía trước như người ta kéo bè ngược dòng, và người đàn bà khâu chiếu đi sau cùng hô nhịp bằng một tiếng ngắn, trầm, lặp đi lặp lại.

"Tiếng hô ấy là gì," Mặc hỏi Đỗ Nghi.

"Không là gì cả," ông nói. "Ở sông, người hô nhịp đứng sau cùng, vì người ấy thấy được cả tám cái lưng. Ai chậm một nhịp thì người ấy hô chậm lại cho người đằng trước chờ, chứ không hô nhanh lên cho người đằng sau đuổi."

Tới đoạn dốc hẹp hôm qua thì bánh trái sa vào một chỗ mép đường mưa vừa lở, hẫng xuống, cả cái xe nghiêng về phía sườn đá, hai bao gạo trôi theo. Mặc lao tới ghé vai phải vào thành xe, dồn hết linh lực tầng bảy xuống hai chân, và cái xe vẫn trôi, chậm thôi nhưng vẫn trôi, kéo cả hắn trượt theo từng tấc trên đất ướt, vai trái nhói lên tận gáy.

Gã trai cao gầy không chạy tới đỡ. Gã tháo một sợi dây khỏi càng, quăng vòng qua gốc cây dẻ trên mép vách đất, quấn ba vòng, thắt đầu kia vào càng xe bằng cái nút hồi sáng, rồi dúi đầu dây thừa vào tay đứa nhỏ hơn trong hai đứa đang đi sau.

"Giữ thế thôi, đừng kéo," gã nói. "Cái cây kéo hộ em."

Thằng bé ngồi phệt xuống đất, hai tay ôm đầu dây, và cái xe dừng lại. Không phải chậm lại mà dừng hẳn, nằm im trên ba vòng dây quanh gốc dẻ như cái bè buộc vào cọc. Những người còn lại nhấc bánh trái lên khỏi chỗ lở, đẩy vào lòng đường, và suốt lúc ấy Mặc chỉ đứng thở, vai phải vẫn tì vào thành xe mà xe không còn cần tới hắn.

"Ba vòng quanh cọc thì một đứa trẻ giữ được cả cái bè," Đỗ Nghi nói. "Ở sông ai cũng biết, chỉ là trên núi chưa ai cần biết."

"Ngươi tu bảy tầng," Thẩm Chiêu nói, "thằng bé ấy tu ba vòng dây, mà người giữ được xe là nó."

Hắn mở sổ ngay giữa dốc, ghi vào dưới dòng mười sáu linh thạch cái nút gã trai cao gầy vừa thắt, vẽ đường dây chui qua chui lại, vẽ cả ba vòng quanh gốc cây, vì hắn biết sẽ có ngày hắn cần giữ một thứ gì đó cho nó khỏi trượt mà sức mình không đủ.

Trên núi, Thất đã dọn hết rơm kho thóc ra hiên, quét nền, và đặt bát lên thềm bếp. Thất đặt thành hai hàng, bát gỗ của Lạc Thủy, bát sành của nhà, đặt rồi đếm, đếm rồi xếp lại, và lúc Mặc bước vào sân thì Thất vẫn đứng nhìn hai hàng bát, cau mày, một ngón tay chỉ lơ lửng trên cái bát cuối.

"Mười lăm chỗ," Thất nói, "thềm chỉ ngồi được mười lăm, còn ngươi ngồi đâu?"

"Ta đứng."

"Hôm qua ngươi cũng đứng," Thất nói, và nhìn hắn như nhìn một cái niêu nấu mãi không chín.

Bữa ăn khi xe về phải nấu ba niêu nối lượt, vì bếp đá chỉ bắc được hai. Niêu thứ ba Thất sốt ruột xới sớm, cơm phía trên còn sượng, và Đỗ Nghi không nói gì, phủ lên miệng niêu một tấm vải khô, đậy nắp, đặt sát đống than vừa rút ra cho cơm tự chín nốt.

"Ở bè chúng tôi không bao giờ đổ cơm," ông nói với Thất. "Nước sông thì nhiều, gạo thì không."

"Đầu mùa cái niêu ấy nấu cho hai người, hôm nay cho mười sáu," Thẩm Chiêu nói trong ngực Mặc. "Nó chưa được hỏi có bằng lòng không."

Mặc bật cười, và đứa con gái cắt bấc ngồi gần đấy ngẩng lên nhìn hắn cười một mình, như hôm ở chỗ cây gạo cụt. Nàng im ngay. Hắn đợi mười lăm cái bát đã có cơm rồi mới xới phần mình, đủ hai vốc, không bớt, vì cái vai cần ăn, và ngồi xuống bậc cửa kho thóc mà ăn.

Buổi chiều là việc dọn chỗ ở, và việc ấy khó hơn việc kéo xe.

Mười bốn ngọn đèn Lạc Thủy được xếp trên tấm ván sàn xe ở hiên kho thóc, kê thêm hai hòn đá cho tấm ván khỏi bập bênh, buộc dây quanh chân đĩa bằng cái nút của gã trai cao gầy. Người đàn bà khâu chiếu nhìn qua cửa gian thờ thấy cái án, thấy ba trăm cái bấc nguội, rồi lặng lẽ hỏi Đỗ Nghi điều gì đó, và Đỗ Nghi đi tới chỗ Mặc đang treo vải băng lên dây phơi.

"Tấm ván trước án," ông nói, "ba trăm bấc, về không. Bây giờ có thêm mười bốn người trên núi, con số ấy có phải sửa không."

"Không," Mặc nói, "họ không phải người về. Họ là người tới."

Đỗ Nghi gật đầu, như đã đoán trước câu ấy mà vẫn muốn nghe nói ra, rồi quay đi báo lại.

Mặc dời đồ của mình với của Thất ra khỏi bếp, cái hộp gỗ đựng đan, cuốn sổ, con dao, cái chiếu, đặt dọc hành lang gian thờ, sát vách, chừa lối đi giữa cho thẳng từ cửa tới án. Đỗ Nghi với một người già nằm sát vách bếp như đêm qua, thêm một người đàn bà bế đứa nhỏ nhất. Kho thóc giờ đã dọn sạch, tám chỗ, đủ cho tám người. Hiên kho thóc trải hai chiếu ở đầu không hắt mưa. Đứa con gái cắt bấc với đứa nhỏ thứ hai nằm chung một chiếu. Còn Thất thì như mọi đêm sẽ ngồi ở cửa hầm.

Mặc cầm chiếu của mình ra cửa bếp, chỗ nước mái hắt vào, trải xuống, và nằm thử. Đầu hắn ở trong, chân hắn ra tới ngưỡng cửa, và mép chiếu đã ướt một vệt.

Đỗ Nghi nhìn thấy, nhưng ông không nói với hắn mà quay sang người già nằm cạnh, nói mấy câu bằng giọng nhà sông, nhanh, Mặc nghe không ra. Rồi ông cúi xuống, nắm mép tấm chiếu của mình kéo vào thêm một gang tay. Người đàn bà bế đứa nhỏ dịch vào theo, kéo chiếu mình sát vào chiếu ông. Người già cùng dịch, chậm, lưng ép vào vách. Ở cuối hàng, ngay chỗ bếp khô nhất, giữa cái vách và cái cột, hiện ra một khoảng nền vừa đủ một người nằm nghiêng.

"Dịch vào một chút," Đỗ Nghi nói, lúc ấy mới quay sang hắn. "Người cho chỗ ở cũng phải có chỗ nằm."

Mặc nằm im trên tấm chiếu ướt mép một lúc lâu, nhìn cái khoảng nền khô ấy. Từ đêm gió đen tới giờ, chỗ nằm trên núi này là chỗ hắn tìm, chỗ hắn dọn, chỗ hắn nhường, chưa có chỗ nào người khác dọn ra cho hắn.

"Nằm vào đi," Thẩm Chiêu nói, khẽ. "Người ta dịch cả lưng vào vách rồi, ngươi còn nằm ngoài ấy thì người ta phải dịch ra lại."

Hắn cuộn chiếu, mang vào, trải xuống cái khoảng nền ấy, và nằm xuống. Chỗ ấy hẹp, vai phải hắn chạm vào cột, vai trái chạm vào lưng một người già đã ngủ, và trên đầu hắn cái lỗ mái Thất chèn rơm rịn xuống chậu sứt từng giọt chậm, nhưng chiếu khô.

Hắn không ngủ ngay mà chống khuỷu tay lên, mở sổ, đưa ra chỗ có ánh than, đọc lại. Đầu mùa mưa, mỗi ngày bốn vốc. Từ sáng mai, mỗi ngày ba mươi hai vốc. Ba trăm bốn mươi chín vốc trong kho, chưa tới mười một ngày. Hai mươi linh thạch trong túi, nếu bè thượng nguồn chưa xuống thì đổi được hai trăm vốc nữa, sáu ngày nữa, rồi hết. Hắn ghi xuống, vẽ một đường ngang bên dưới, rồi ngẩng lên.

Thất đi ngang cửa bếp ra chỗ cửa hầm, dừng lại, nhìn hắn nằm giữa cái cột với lưng người già, rồi nhìn cái chiếu ướt mép đã bị cuộn vào góc.

"Hôm nay ngươi nằm trong," Thất nói.

"Người ta dịch chỗ cho ta."

"Thế thì mai ta đặt thêm một cái bát lên thềm," Thất nói, nghĩ một lúc. "Thềm hết chỗ thì ta đặt lên bậc cửa, bậc cửa cũng là chỗ ngồi."

Hắn gấp sổ, nằm xuống, và đếm lại số người dưới mái một lần nữa cho chắc. Mười sáu, kể cả hắn, từ sáng mai là mười sáu cái miệng, mà trong túi chỉ còn hai mươi đồng.

Nằm rồi hắn vẫn thấy, qua cửa bếp, ở hiên kho thóc, mười bốn ngọn đèn dưới mười bốn cái chụp tỏa một quầng sáng vàng mờ ra khắp sân, và trong gian kho, dưới mái, mấy cái trán đang ngủ không ai quấn khăn, mỗi cái một đốm lửa nhỏ. Hắn không cần ra tận mép sân cũng biết từ dưới chân núi nhìn lên thì Vọng Tinh Phong bây giờ trông thế nào.

Hết chương 29

Tự tay đưa họ về nhà trong game

Thắp lại đèn, dựng lại tông môn trong Last Lantern.

Google PlayApp Store