Gần sáng thì mưa to trở lại, và Mặc thức dậy vì một tiếng nước rơi không phải vào chậu.
Cái chậu sứt dưới lỗ mái đã đầy từ nửa đêm. Đỗ Nghi ngồi xếp bằng cạnh chiếu của người già, hai tay bưng cái bát gỗ của mình hứng giọt nước rịn xuống từ mép rơm, đầy thì nghiêng người đổ ra ngoài cửa, rồi lại bưng lên, không nhanh không chậm, như người ta đếm từng hạt thóc. Người già vẫn ngủ, chiếu không ướt.
"Ông ngồi thế từ bao giờ," Mặc hỏi khẽ.
"Từ lúc chậu đầy," Đỗ Nghi nói. "Ở bè thì mưa vào lều là chuyện thường, ai thức trước thì người ấy hứng."
Mặc ngồi dậy, cầm lấy cái bát, hứng thay ông tới khi trời rạng, và lúc trời rạng thì hắn mở sổ. Ở trang đầu mùa mưa, dưới chữ gạo, có một dòng hắn viết từ ngày chín mươi sáu, lợp bếp, đã khoanh lại một lần, rồi bị gạch đi khi hắn đem bốn mươi lăm linh thạch mua mảnh đá. Hắn nhìn dòng ấy một lúc, rồi viết ngay bên dưới, che bếp, che nền ngủ, và khoanh lại hai lần. Lợp cả mái bếp thì phải có tranh, có tre, có thợ, có mười mấy đồng mà hắn không có. Che thì chỉ cần một tấm gì đó căng lên cho mưa đừng rơi vào niêu và vào chân chiếu.
"Gạo trong kho còn hơn mười ngày," Thẩm Chiêu nói. "Ngươi định đem tiền gạo đi mua mái à."
"Mười sáu người ngủ ướt thì mười ngày ấy có một nửa là ngày ốm."
"Ta không cãi," nàng nói, "ta chỉ muốn nghe ngươi nói ra cái giá trước khi trả."
Bữa sáng Thất nấu trong mưa, nước từ mép mái hắt xéo vào bếp đá, và Thất đứng giữa hai cái niêu, tay trái giơ cái gàu gỗ lên ngang đầu, nghiêng nghiêng, hứng đúng dòng nước chảy từ chỗ mái thủng xuống, tay phải cầm đũa cả khuấy niêu, mặt nghiêm như đang đứng gác. Mỗi lần gàu đầy, Thất xoay người hắt ra sân rồi lại giơ lên, và mỗi lần xoay người như thế thì khói bếp quất vào mặt Thất một lần.
Mặc ăn sau khi Thất múc phần cuối cho người đàn bà bế con, rồi xuống núi cùng Đỗ Nghi.
"Tôi đi để học đường," Đỗ Nghi nói lúc qua cây gạo cụt, mắt nhìn từng chỗ đá trơn, "chỗ nào rẽ, hàng gạo nào đong thật. Từ nay người đi mua gạo không thể lúc nào cũng là cậu, cậu còn phải ngồi lò."
"Ông nhớ được cả con đường à."
"Ba mươi năm chống bè, khúc sông nào có đá ngầm tôi đều nhớ," ông nói. "Đường đất thì không chảy, dễ nhớ hơn."
Ở bến, gã râu quai nón đang thay mái lều trên bè nhà gã. Tấm mái cũ là một tấm cói đan dày, phết dầu trẩu đã ngả màu nâu sẫm, rách một góc, còn lại thì vẫn trơn, mưa đổ xuống trượt đi như trượt trên lá môn.
"Tấm ấy ông có bán không," Mặc hỏi.
Gã râu nhìn tấm cói, nhìn Mặc, rồi nhìn Đỗ Nghi, và gã biết ông là ai, vì chiếc bè của Lạc Thủy đã nằm cạnh bè gã ba hôm.
"Mưa sắp hết rồi mà cậu mới mua mái," gã nói.
"Còn mấy ngày thì vẫn là mấy ngày ướt."
Gã bật cười, và tấm cói với hai bó dây gai thì gã lấy bốn linh thạch, nói rõ là tấm cói thì gã để ba, còn một là tiền dây, vì dây thì gã phải mua lại.
"Ta không bớt cho cậu," gã nói, "bớt thì cậu lại nghĩ cậu nợ ta. Mà gạo của bà hàng gạo thì cậu nợ đủ rồi."
Mặc trả bốn đồng, còn mười sáu.
Tấm cói cuộn lại to bằng một thân cây, nặng nước, và hắn vừa ghé vai phải vào thì vai trái đã nhói lên tận gáy. Đỗ Nghi giành lấy một đầu, nhưng ông già, đi được mấy bước đã phải đặt xuống thở.
"Nhiều người thế," một giọng quen nói từ đầu hẻm sau dãy kho, "ngươi cần một người biết tính."
Lão Khúc ngồi trên cái chõng tre, bàn tính trên đùi, con gà mái buộc chân vào chân chõng. Lão nhìn Đỗ Nghi trước, gật đầu như gật với một người quen cũ, rồi nhìn tấm cói, rồi nhìn cái vai băng của Mặc.
"Mười bốn người," lão nói, gõ một hạt bàn tính, "mỗi ngày bao nhiêu vốc. Ba mươi, ba mươi hai, gạo mùa mưa mười vốc một đồng. Ngươi đi chợ mỗi ngày à, hay mỗi ba ngày, ngươi gánh hay ông này gánh. Ta có người gánh thuê, ta có sổ, ta lấy công rẻ, ngươi khỏi phải xuống núi."
"Ta cần dây khỏi đứt," Mặc nói, "sổ ta tự giữ."
"Thì ta chở dây với cái tấm này lên cho ngươi," Lão Khúc nói, đứng dậy, giắt bàn tính vào thắt lưng. "Không lấy công, ta chỉ cần xem đường dài ngắn, dốc mấy đoạn, để mai ngươi đổi ý thì ta biết đường mà báo giá chở gạo. Vai ngươi thế kia, ông này thế kia, hai người khiêng cái tấm ướt này lên tới nơi thì trời tối."
Mặc nhìn tấm cói, nhìn Đỗ Nghi đang ngồi trên mép bè thở, rồi nhìn xuống cái vai của mình.
"Tới cổng thôi," hắn nói.
"Tới cổng thôi," lão nhắc lại, như người ta nhắc lại giá.
Lão gánh tấm cói bằng đòn gánh của lão, một đầu là tấm cói, đầu kia là hai bó dây và cái sọt có con gà, đi trước, đi nhanh hơn Mặc tưởng, và vừa đi vừa hỏi. Đoạn này mấy trăm bước, đoạn kia dốc mấy khúc, chỗ cây gạo cụt rẽ trái hay rẽ phải, mưa xuống thì đoạn nào trơn. Mặc trả lời những câu về đường, vì lão đang đi trên đường ấy, không trả lời thì lão cũng thấy. Tới chỗ con đường chẻ làm hai, một nhánh lên cổng, một nhánh vòng xuống suối dưới vườn thuốc, lão dừng lại lâu hơn mọi chỗ khác.
Lúc ấy Thất đang đi xuống suối, hai cái gàu treo hai đầu đòn gánh, đi đúng nhánh vòng như mọi buổi chiều.
"Thằng to ấy ngày nào cũng xuống suối giờ này à," Lão Khúc hỏi.
"Giờ này nước trong."
Lão gật gù, không nói gì, rồi gánh tiếp lên cổng.
Ở cổng có tấm bia nghiêng, có tấm ván khắc ba chữ, và từ chỗ ấy nhìn vào thì thấy cả cái sân. Mấy người Lạc Thủy đang phơi chiếu dưới hiên, hai đứa nhỏ chạy quanh cái giếng, gã trai cao gầy ngồi xổm cuộn dây, và mười bốn ngọn đèn trên tấm ván sàn xe vẫn sáng mờ dưới chụp. Lão Khúc đặt gánh xuống ngay bậc cổng, đúng như đã hứa, nhưng không quay đi ngay. Lão đứng nhìn vào sân, môi mấp máy, và Mặc biết lão đang đếm.
"Đường này để đưa người lên ở," Mặc nói, "đừng đem nó đi bán."
"Ta bán đèn chứ ai đi bán đường," Lão Khúc nói, rồi chỉ vào hai bó dây gai dưới chân. "Mà dây này ngươi mua đắt một đồng, gã râu lừa ngươi đấy, ở chỗ ta thì ba đồng là cả tấm cói lẫn dây."
Mặc gọi Thất mang ra một nắm cơm cháy gói lá dong, còn ấm, đặt vào cái sọt cạnh con gà.
"Ta đã bảo không lấy công," lão nói.
"Không phải công," Mặc nói, "đường xuống dài mà trời thì sắp tối."
Lão nhìn gói lá trong sọt như người ta nhìn một món hàng chưa có giá, rồi rút cuốn sổ trong ngực áo ra, ghi một dòng, và lần này lão không đọc to cho ai nghe.
Lão quay đi, gánh cái sọt có con gà xuống dốc, và Mặc đứng ở cổng cho tới khi lão khuất sau khúc quanh đầu tiên.
Căng tấm cói mất cả buổi chiều.
Gã trai cao gầy leo lên mái bếp, không đặt chân lên chỗ rơm Thất chèn mà đi trên hai cây đòn tay, nhẹ như đi trên mạn bè. Mặc đứng dưới đưa dây lên, chỉ chỗ buộc, rồi đi một vòng quanh bếp cắm bốn cái cọc tre xuống đất ở bốn góc, để tấm cói không chỉ đè lên mái thủng mà chìa ra quá mép bếp thêm một sải tay, che được cả chỗ bếp đá với khoảng nền sát vách. Hai người Lạc Thủy giữ dây ở hai góc lúc gió giật, người đàn bà khâu chiếu ngồi khâu lại cái góc cói rách bằng sợi gai, và Đỗ Nghi đứng dưới hiên, không làm gì, chỉ nhìn từng nút buộc, chỗ nào gã trai thắt nhanh quá thì ông gọi lên một tiếng, và gã tháo ra thắt lại.
Tấm cói căng xong lúc trời đổ một trận mưa mới. Mưa rơi xuống tấm cói, trượt theo lớp dầu trẩu, chảy ra mép, rơi thành một hàng giọt đều đặn ngoài rìa bếp, xuống cái rãnh nhỏ Mặc vừa khơi, chứ không rơi vào cái niêu đang bắc trên bếp nữa.
Thất vẫn đứng cạnh bếp, tay trái giơ cái gàu lên ngang đầu như ban sáng, đứng như thế một lúc lâu, rồi mới nhận ra trong gàu không có giọt nào. Thất hạ gàu xuống, nhìn vào lòng gàu, rồi nhìn lên tấm cói, rồi nhìn Mặc, mặt ngơ ngác như người vừa bị lấy mất việc.
Đỗ Nghi đi tới, cầm lấy cái gàu khỏi tay Thất, múc nửa gàu nước trong chum, đổ hai bát gạo vào, và ngồi xổm xuống vo.
"Hôm nay gàu không phải hứng mái nữa," Thất nói chậm, như người ta đọc to một điều vừa học được.
"Hôm nay gàu vo gạo," Đỗ Nghi nói, không ngẩng lên.
Cả bếp đứng sát vào nhau dưới tấm cói, mười mấy người, vai chạm vai, và nghe mưa trên đầu. Một khoảng khô nhỏ bằng hai cái chiếu, bốn linh thạch, mà lần đầu từ ngày gió đen, trong bếp không ai phải giơ tay lên che cái gì.
"Đừng để Thất cất cái gàu đi," Thẩm Chiêu nói trong ngực Mặc. "Cơm Thất nấu vẫn cần cứu bằng nước."
Tối ấy Đỗ Nghi dạy cả nhà đong gạo. Ông lấy cái bát sành của nhà, cái bát vẫn đặt cạnh chỗ Mặc ngồi, đong một bát gạt bằng rồi đổ vào lòng bàn tay Mặc, vừa đúng hai vốc của hắn. Rồi ông đặt cái bát ấy lên miệng hũ gạo, nói từ nay ai đong cũng đong bằng cái bát này, một người một bát một ngày, không đong bằng tay mình.
"Mười sáu người là mười sáu bàn tay to nhỏ khác nhau," ông nói. "Mỗi người đong một vốc theo tay mình thì sổ của cậu sai từ hôm nay. Tay Thất một vốc bằng hai vốc của tôi."
"Tay ta to," Thất nói, nhìn bàn tay mình.
"Tay to thì đi gánh nước," Đỗ Nghi nói, "đừng đi đong gạo."
Mấy người Lạc Thủy cười, và Thất cũng cười, tuy chưa chắc mình được khen hay bị chê.
Buổi chiều trước đó, lúc tấm cói còn chưa căng xong, Mặc đã ra Kiếm đường một lúc. Hắn không dùng cây tre, chỉ treo sợi dây gai trước cành dâu như hồi mới tập, đâm chậm, xoay hông nhẹ, rạch một nhát ngắn rồi thoát ra, mỗi nhát dừng lại một hơi cho vai trái thôi giật. Hai đứa nhỏ Lạc Thủy theo ra, ngồi trên rễ cây đa xem. Một lúc sau đứa lớn hơn nhặt một cái que, đứng cạnh cọc gỗ, đâm que vào không khí rồi xoay cả người theo, xoay mạnh tới mức ngã chổng vó vào bụi ngải. Đứa nhỏ hơn cười lăn, rồi cũng nhặt que.
"Hai đứa ấy xoay hông đúng hơn ngươi tuần trước," Thẩm Chiêu nói. "Nhưng ngã thì cũng giống ngươi tuần trước."
Mặc không dạy chúng. Hắn chỉ dời sợi dây gai lên cao hơn một chút, cao quá đầu hai đứa, cho que của chúng khỏi vướng vào, rồi tập tiếp.
Đêm ấy gió nổi, và Mặc đi một vòng quanh bếp trong mưa, sờ từng cái nút ở bốn góc cọc, giật thử từng sợi dây, tới cái nút cuối cùng ở góc hướng về cổng thì hắn đứng lại lâu nhất, vì gió từ dốc nam thổi lên đập vào góc ấy mạnh nhất. Lúc hắn quay vào, phần cơm của hắn vẫn nằm trong niêu, vùi trong tro, và cái bát sành đã úp lên miệng hũ gạo. Hắn ăn ngồi trên bậc bếp, dưới tấm cói, nghe mưa rơi trên đầu mà không rơi vào bát.
"Canh vẫn nhạt," Thẩm Chiêu nói.
"Ta biết."
"Ta nói để ngươi biết là ta vẫn còn nếm được, chứ không phải để chê."
Trước khi nằm, hắn ra đứng ở cổng một lúc. Mưa đã nhỏ lại, và từ bậc cổng nhìn xuống, con đường lên núi chạy loằng ngoằng giữa rừng như một sợi dây ai thả rơi. Ở khúc quanh đầu tiên, chỗ chiều nay hắn đứng nhìn theo Lão Khúc khuất đi, hắn nhớ lại một điều mà lúc ấy hắn không để ý. Lão Khúc đã dừng lại ở khúc quanh ấy, đặt gánh xuống, quay đầu nhìn lên rất lâu, lâu hơn một người chỉ cần biết đường dài ngắn để báo giá chở gạo, rồi mới gánh đi tiếp. Từ khúc quanh ấy, người ta còn nhìn thấy được mái bếp, và khi trời tối, nhìn thấy được cả cái quầng sáng mười bốn ngọn đèn hắt lên tấm cói mới căng.
Hắn vào bếp, mở sổ dưới ánh than, ghi bốn đồng tiền mái, mười sáu đồng còn lại, và bên dưới, hai mẻ thuốc, tám đồng, phải mua trước khi bè thượng nguồn xuống thì người ta tranh mất. Rồi hắn ghi thêm một dòng nhỏ mà không biết nên đặt dưới cột nào. Lão Khúc biết đường tới cổng.

