Sáng ngày một trăm bốn mươi, trước khi cả nhà dậy, Mặc kẻ một đường than dọc giữa trang sổ mới, chia trang làm hai.
Cột bên trái hắn ghi gạo, như mọi trang trước. Ba trăm mười bảy vốc, mỗi ngày ba mươi hai, được chín ngày và thừa hai mươi chín vốc, chưa trừ hôm nay. Cột bên phải trước giờ chưa từng có, và hắn ghi vào đó những việc mà gạo không tự làm được. Củi cho hai cái bếp, nước cho mười sáu người và bốn chum quanh hầm, tấm cói phải có người kiểm dây mỗi lần gió đổi, chiếu phải hong mỗi khi ngớt mưa, và lò phải đứng lại, vì đan là thứ duy nhất trên núi này đổi ra được tiền. Hắn viết tới đâu cột phải dài ra tới đấy, còn cột trái thì chỉ có một con số và một chữ ngày.
"Ghi cả giờ ngủ," Thẩm Chiêu nói, "hay ngươi định để cuốn sổ đi đánh thay?"
"Giờ ngủ thì ghi ở cột nào," hắn hỏi.
"Cột nào cũng được, miễn là có," nàng nói. "Cái vai ngươi lành hay không là ở dòng ấy, không phải ở dòng gạo."
Hắn ghi vào cuối cột phải, ngủ, và nhìn chữ ấy nằm lẻ loi dưới một chuỗi việc dài như người nằm ngủ ở cuối một hàng người đứng xếp gánh.
Bên chữ nước, hắn viết thêm, Thất, giữa chiều, nhánh suối, như cũ, rồi dừng tay rất lâu ở hai chữ như cũ. Cả đêm qua hắn đã nghĩ tới việc bảo Thất đổi sang lối giếng, rồi thôi. Lão Khúc biết đường tới cổng, và nếu có ngày lão đem đường ấy đi bán, người mua sẽ tới đứng đúng chỗ con đường chẻ làm hai, chỗ lão đã thấy Thất đi qua. Hắn thà biết người ta sẽ đứng ở đâu, còn hơn để người ta tự tìm một chỗ mà hắn không biết. Hắn chỉ dặn gã trai cao gầy, chiều nào Thất xuống suối thì ra ngồi cuộn dây ở bậc cổng, mắt nhìn xuống chỗ chẻ đôi.
"Ngươi để Thất làm mồi," Thẩm Chiêu nói.
"Ta để con đường làm mồi," hắn nói, "còn Thất thì ta để người nhìn."
Bữa sáng ăn dưới tấm cói, và Đỗ Nghi đợi mọi người ăn xong mới đặt bát xuống, đặt rất ngay ngắn, như sắp nói một điều đã nghĩ suốt đêm.
"Hôm qua tôi đứng ở cổng nhìn lại," ông nói. "Giữ chúng tôi thì núi của cậu sáng gấp đôi, gạo thiếu gấp đôi. Người ở bè chúng tôi tính thế này, năm người trẻ khoẻ xuống bến, dựng lều ở bãi cuối, làm thuê kéo bè khi bè thượng nguồn xuống lại, trên này còn chín người, người già, trẻ nhỏ, đàn bà. Bớt chúng tôi, núi sẽ tối đi."
Không ai nói gì. Gã trai cao gầy cúi xuống nhìn cái bát không, người đàn bà khâu chiếu ngừng tay giữa chừng.
"Bến có chỗ cho họ sống không?" Mặc hỏi.
"Có bãi trống," Đỗ Nghi nói, "còn sống được không thì tôi không dám nói chắc. Quầy cờ xanh ở ngay đầu bến."
Mặc mở sổ, lật sang trang hai cột, nhìn một lúc.
"Ông nói gạo thiếu gấp đôi," hắn nói. "Đầu mùa mưa nhà ta ăn bốn vốc một ngày, bây giờ ăn ba mươi hai. Gạo không thiếu gấp đôi, gạo thiếu gấp tám."
Đỗ Nghi nhìn hắn, rồi khẽ cười, lần đầu Mặc thấy ông cười, một cái cười mỏng của người giữ sổ bị bắt sai một con số.
"Tôi nói gấp đôi cho cậu đỡ sợ," ông nói.
"Ông ấy nói gấp đôi cho ngươi đỡ sợ," Thẩm Chiêu nói trong ngực hắn, "ngươi lại đi tính ra gấp tám cho cả nhà cùng sợ."
"Gấp tám thì ta đã biết từ hôm ở hàng gạo," Mặc nói với Đỗ Nghi, "biết rồi mới đong hai trăm vốc. Còn sáng thì đúng là gấp đôi, ta đứng ở mép sân ta thấy. Năm người xuống bến thì núi bớt sáng năm đốm, nhưng năm người ấy đứng ngay dưới quầy cờ xanh, trán không che, mà ai ở chợ cũng biết họ là người Lạc Thủy. Thế thì người ta không cần trèo lên núi để tìm."
"Thế cậu định giữ cả mười bốn."
"Ta định giữ cả mười bốn," hắn nói, "cho tới khi ai muốn đi thì tự đi, không phải vì gạo đuổi người ta đi."
Người đàn bà khâu chiếu thở ra một hơi dài, rồi lại cúi xuống khâu, và mũi kim bây giờ đi nhanh hơn trước.
"Thế thì chúng tôi nhận việc," Đỗ Nghi nói, giọng lại phẳng như giọng đọc sổ. "Nước, củi, hong chiếu, giữ dây tấm cói, chúng tôi chia nhau. Lúc cậu ngồi lò thì cậu không phải lo gì ngoài cái lò. Còn một việc nữa, tôi xin nhận luôn. Nếu có ai lên núi mà không phải người mình, thì người già với trẻ con đi lối nào, đứng chỗ nào, tôi lo."
Mặc đưa sổ cho ông, và Đỗ Nghi cầm than, viết vào cột phải, bên cạnh mỗi việc, cái việc của từng người như hôm ở hàng gạo, giữ dây bên chữ tấm cói, vá chiếu bên chữ hong chiếu, nấu cá bên chữ củi. Tới dòng cuối, bên cạnh chữ ngủ, ông ngừng tay rất lâu, rồi viết, cậu Mặc.
Chiều ấy Mặc xuống chợ một mình mua thuốc.
Mưa đã ngớt từ đêm qua, và ở bến có một chiếc bè lạ vừa xuống từ thượng nguồn, chiếc đầu tiên sau mấy chục ngày, chở mấy bó tre, mấy thúng măng và vài bó rễ đỏ còn ướt sương. Bà bán thuốc đầu dãy đã ôm hết rễ đỏ về quầy trước khi người của quầy cờ xanh kịp xuống, và thấy Mặc thì bà đẩy ra hai bó.
"Hai mẻ, như mọi lần," bà nói. "Bè còn chưa xuống đều đâu, mai có hay không thì ta không biết."
Hắn trả tám linh thạch, và trong túi còn đúng tám đồng, nhiều bằng cái giá hắn vừa trả.
Hắn không đứng lò tối ấy, vì đường lên núi hai bao thuốc không nặng, nhưng cái vai còn băng thì nặng, và hắn đã học được ở ngày một trăm mười ba rằng lò không chờ người đau. Hắn ăn, ngủ, ngủ ở cái khoảng nền khô giữa cột và lưng người già, ngủ một giấc dài tới mức sáng ra Thất phải đứng cạnh chiếu nhìn xem hắn còn thở không.
Sáng ngày một trăm bốn mươi mốt, vai đã đỡ hẳn, xoay được một vòng tròn mà không giật.
Mặc xuống hầm.
Lần đứng lò này khác mọi lần ở chỗ phía trên miệng hầm có người. Thất ngồi ở cửa hầm như mọi khi, hai cái gàu đầy để cạnh chân, nhưng bên cạnh Thất còn có Đỗ Nghi, và dọc theo lối từ hầm ra giếng, Mặc nghe tiếng chân người qua lại suốt buổi, tiếng nước rót vào chum, tiếng ai đó bảo bọn trẻ ra đằng bếp mà chơi. Đỗ Nghi đã chia ca, Thất với ông thay nhau giữ hai cái gàu, mỗi người nửa buổi, còn những người khác thay nhau đổ đầy chum, và không ai được nhóm lửa ở bếp lớn cho tới khi lò dưới hầm tắt hẳn.
Hắn dẫn linh lực đi theo con đường quen, lách qua chỗ nóng của nàng, chạm vào cái bấc đen, đẩy ra đầu ngón tay. Hoài sơn vào trước, rồi tiếng nước thứ nhất, và tới khi tiếng nước thứ hai vừa dịu xuống thì ở trên miệng hầm, Thất gõ hai tiếng vào thành gàu.
Đó là tiếng hẹn từ sáng. Hắn rút lửa xuống liu riu, giữ cho lò không tắt mà không đưa mùi lên, và ngồi im.
Ở trên, Thất không nói gì, chỉ đứng dậy. Qua khe phên, Mặc thấy hai cục than đỏ lơ lửng ở bìa rừng bắc, xa, xa hơn mọi lần nó từng đứng. Nó đứng đó rất lâu, cái đầu thấp, ngửi, rồi quay đi về phía dốc nam, đi theo đúng vệt mép rừng mà hôm hầm nguội nó đã đi vòng một nửa. Hắn đếm hơi thở tới năm trăm mới dám đưa lửa lên lại, và vì phải đợi lâu như thế, tiếng nước thứ ba tới chậm hơn mọi lần cả một khắc. Nhưng nó tới, tròn, như tiếng mưa trên mái lá.
Bốn viên ra lò khi trời đã ngả chiều, và hắn gói lá dong, cộng với bốn viên cũ thành tám viên, còn một mẻ thuốc nằm trong bao để dành cho hai ngày sau, vì đêm nay cái bấc đen đã bị rút cạn, hắn không vận nổi một vòng công.
Hắn trèo lên khỏi hầm, mặt đỏ vì hơi lò, tay run vì cạn sức, và thấy cả sân đã ăn xong.
Bát gỗ của Lạc Thủy đã rửa, úp thành chồng trên thềm, hai cái niêu đã cạo sạch, ngâm nước, chỉ có cái bát sành của nhà là chưa rửa. Nó nằm úp ngược trên bậc bếp, dưới tấm cói, và khi hắn nhấc lên thì bên dưới là một bát cơm đầy gạt bằng, còn ấm, bên trên đặt mấy cọng rau luộc, và bên cạnh là bát canh đậy bằng một cái lá dong.
"Cơm để dưới bát," Thất nói từ chỗ cửa hầm, "hôm nay ta nhớ đậy."
"Ai bảo ngươi đậy," Mặc hỏi.
"Không ai bảo đậy," Thất nói, "ông Đỗ Nghi chỉ bảo phần của người ngồi lò thì phải để riêng ra trước khi xới, không thì xới tới cuối niêu là hết, còn đậy thì ta tự nhớ."
Mặc ngồi xuống bậc bếp mà ăn, vẫn là hắn ăn sau cùng, sau mười lăm người, như mọi bữa từ hôm hắn khắc lời thề trên núi này, nhưng lần này hắn không phải đi vét đáy niêu. Có người đã để phần cho hắn trước khi xới bát đầu tiên.
"Có người giữ cơm cho ngươi rồi đấy," Thẩm Chiêu nói. "Ăn chậm thôi, ta muốn biết cơm người khác giữ cho ngươi có vị gì."
"Vị cơm," hắn nói, miệng vẫn nhai.
"Vị cơm nguội một nửa," nàng nói, "với một chút lá dong. Ngươi không nếm thì để ta nếm."
Tối ấy, trời quang lần đầu sau nhiều ngày, mây rách ra để lộ mấy ngôi sao, và Mặc đi ra mép sân, chỗ con dốc nam đổ xuống, quay lại nhìn.
Trước khi có người Lạc Thủy, đứng ở đây nhìn lại thì ngọn núi chỉ là một khối đen đậm hơn trời một chút, với một đốm lửa bếp vùi tro. Bây giờ mười bốn ngọn đèn trên tấm ván ở hiên kho thóc tỏa ra một quầng vàng, hắt lên tấm cói căng trên bếp, hắt lên vách gian thờ, và mười bốn cái trán dưới mái, chưa ai ngủ, mỗi cái thêm một đốm. Hắn không biết cách nào đo độ sáng, nhưng đứng chỗ này, hắn thấy nó như gấp đôi, không ít hơn.
Đỗ Nghi ra đứng cạnh hắn, nhìn cùng một hướng.
"Người Thanh Vân biết nhìn núi như thế này," ông nói. "Họ đi ngang sông ban đêm, nhìn lên chỗ nào có quầng sáng là biết chỗ ấy có tông, đếm được cả mấy chục đèn."
"Trời cũng biết nhìn," Mặc nói.
Hắn nhìn lên chỗ mấy ngôi sao vừa hiện ra giữa hai mảng mây, rồi nhìn xuống tấm cói trên bếp. Tấm cói ấy che được mưa cho một cái niêu. Nó không che được cái gì khỏi những ai nhìn xuống từ trên kia, cũng không che được khỏi những ai nhìn lên từ dưới bến.
Lúc hai người quay vào, có tiếng chân ở cổng.
Lão Khúc đứng ở bậc cổng, đúng chỗ hôm trước lão đặt gánh xuống, không gánh gì, không mang con gà, chỉ có cái bàn tính giắt ở thắt lưng. Lão đã tự leo lên, một mình, trong bóng tối, không cần ai dẫn đường.
"Ta không vào," lão nói ngay, giơ hai tay lên như người ta giơ tay cho người khác thấy mình không cầm dao, "ta đứng đây thôi, ta lên để thu xếp cho ngươi một việc bên chợ."
"Việc gì," Mặc hỏi.
"Mười bốn người Lạc Thủy biến khỏi bến một đêm, cả chợ hỏi," Lão Khúc nói. "Người ta hỏi ta, vì ta là người biết đèn. Ta muốn biết họ ở đây bao lâu, tên từng người, để ai hỏi thì ta nói cho khéo, bảo là ngươi thuê người làm vườn, hay là họ đi ngược sông rồi. Ngươi đưa ta cái danh sách, ta lo cái miệng, công thì ngươi tính sau."
Mặc nhìn lão, rồi nhìn xuống gói lá dong trong tay mình, tám viên đan hắn vừa mang lên khỏi hầm, chưa kịp cất. Lão Khúc cũng nhìn gói lá dong ấy, nhìn rất lâu, lâu như hôm đầu tiên lão cầm viên đan của hắn lên ngửi.
"Họ ở đây tới khi họ muốn đi," Mặc nói. "Tên họ thì sổ trời ghi rồi, ta không ghi thêm cho ai. Ai hỏi thì ông cứ nói ông không biết, vì đúng là ông không biết."
"Ngươi không hiểu chợ," Lão Khúc nói. "Ở chợ, cái gì người ta không mua được thì người ta đi hỏi chỗ khác."
"Không bán tên họ," Mặc nói, "cũng không bán đường lên."
Lão Khúc đứng thêm một lúc, mắt vẫn ở gói lá dong. Hắn không mở ra, cũng không hỏi lão có muốn mua hay bán hộ không, và lão cũng không hỏi, rồi lão gật đầu, một cái gật như gạch một dòng nợ không đòi được, quay lưng, và đi xuống dốc trong bóng tối, tay không, bước chân chắc chắn như người đã đi con đường ấy cả trăm lần.
Mặc đứng ở cổng cho tới khi không còn nghe tiếng chân. Lão đi xuống tay không, nhưng câu lão nói thì ở lại trên bậc cổng. Cái gì ở đây người ta không mua được thì người ta sẽ đi hỏi ở chỗ khác, mà trong chợ đèn, chỗ khác ấy chỉ có một lá cờ xanh.

