Thông báo ngừng phát hành tại Việt Nam

Từ ngày 01/01/2027, Last Lantern sẽ ngừng phát hành tại Việt Nam trên Google Play và App Store. Người chơi đã cài vẫn có thể tiếp tục chơi. Cảm ơn bạn đã đồng hành cùng Last Lantern!

Quyển 1 · Bấc Đen

Chương 32: Giá một con đường

11 phút đọc·

Mục lục18 px

Sáng ngày một trăm bốn mươi hai, Lão Khúc ăn sáng muộn hơn mọi ngày, và ăn một mình.

Lão ngồi trên cái chõng tre ở đầu hẻm sau dãy kho, cái bánh rán mua từ chiều qua đã nguội cứng, lão xé làm đôi, nửa ăn, nửa bẻ vụn rải xuống đất cho con gà mái, rải xa chân chõng một chút để nó khỏi mổ vào ngón chân lão. Con gà hôm nay chưa có tên, vì thằng Tư bán vải đã trả nợ từ đầu mùa mưa, và từ ấy chưa ai trong chợ nợ lão đủ lâu để con gà phải mang tên người ấy. Trong sổ lão có một dòng ghi từ ba hôm trước, nợ thằng trán rỗng một nắm cơm cháy, nhưng xưa nay lão chưa đặt tên gà theo người lão nợ bao giờ.

Một đệ tử áo xanh đi dọc hẻm thu tiền chỗ mùa mưa, tới chõng lão thì gõ đầu gậy vào chân chõng hai cái.

"Mười ngày nữa, năm đồng, ông Khúc," người ấy nói. "Mùa này ai không đóng thì mùa sau chỗ này cho người khác ngồi."

Lão cười, gật, cúi lưng, đợi người ấy đi khuất mới mở cái túi vải nhỏ giấu trong cạp quần, đổ ra lòng bàn tay, đếm được ba đồng lẻ, rồi đếm lại lần nữa cho chắc, rồi buộc túi lại, vỗ lên một cái.

Lão biết những gì mình biết, và lão biết cả những gì mình không biết, vì cả đời lão chỉ bán thứ mình đã cầm trên tay. Lão biết con đường từ bến lên núi dài bao nhiêu bước, dốc mấy khúc, chỗ cây gạo cụt rẽ phải, khúc quanh đầu tiên còn nhìn thấy mái bếp. Lão biết chỗ con đường chẻ làm hai, một nhánh lên cổng, một nhánh vòng xuống suối, và lão biết thằng to quấn khăn nâu trên trán ngày nào cũng đi nhánh ấy vào giữa chiều. Lão biết trên núi có mười bốn người Lạc Thủy, vì lão đã đứng ở cổng mà đếm. Còn trong núi có gì, cái hầm, cái lò, cái thằng trán rỗng ấy mạnh tới đâu, lão không biết.

Tờ giấy nhận xe thì đã bị xé thành mười mấy mảnh dưới bánh xe, giấy xé rồi thì không bán lại được, còn đường thì không ai xé được.

Rồi lão đứng dậy, cởi dây con gà buộc lại vào chân chõng, giắt bàn tính vào thắt lưng, và đi về phía quầy cờ xanh.

Tần Hưởng đang ngồi sau quầy lau một cái chụp đèn bằng đồng. Gã lau bằng khăn lụa như mọi khi, nhưng chỉ lau bằng tay phải, còn tay trái để trên đùi, cổ tay quấn vải trắng tới tận mép vòng đồng, mấy ngón tay duỗi thẳng, cứng, không khép lại được, như những ngón tay của người đang ra hiệu bảo ai dừng lại. Lau xong, gã búng một cái vào thành chụp bằng móng tay phải, nghiêng tai nghe. Tiếng ngân vẫn trong, nhưng gã nghe xong thì nhíu mày, như thể chính gã không quen với tiếng búng từ bàn tay này.

"Lão Khúc," gã nói, không ngẩng lên. "Ông không bán đèn cho ta thì ông bán gì."

"Ta không có đèn," Lão Khúc nói, đứng cách quầy một bước, lưng cúi thấp. "Đèn Lạc Thủy thì lên núi cả rồi, mười bốn ngọn, ta đếm."

Tần Hưởng đặt cái chụp đồng xuống, lúc ấy mới ngẩng lên.

"Núi nào," gã hỏi. "Quanh đây núi nào cũng tối, ta đi ngang sông mấy chục năm chưa thấy ngọn nào có đèn."

"Bây giờ thì có một ngọn," Lão Khúc nói. "Ông đứng ở khúc quanh dưới chân dốc phía đông nam mà nhìn lên lúc trời tối, là thấy cái quầng vàng."

"Trong núi có gì," Tần Hưởng hỏi.

"Ta chỉ biết tới sân," Lão Khúc nói. "Trong núi còn gì, ta không bán thứ ta chưa thấy. Ta biết đường từ bến lên, biết chỗ rẽ, biết giờ thằng to ấy xuống suối lấy nước, biết họ có bao nhiêu người, ngủ ở đâu thì ta không biết."

Tần Hưởng nhìn lão một lúc lâu. Người đệ tử áo xanh đứng sau quầy ngừng tay đếm tiền.

"Tờ giấy ấy ghi tên ta là người nhận thay," gã nói, giọng vẫn ôn tồn, như giảng sách cho học trò chậm hiểu. "Giấy mất thì người phải trả lời là ta. Ta trả lời được bằng hai cách, đem sáu người ấy về, hoặc đem người làm mất giấy về."

"Sáu đồng," Lão Khúc nói, "không ghi tên ta trên giấy."

"Sáu," Tần Hưởng nhắc lại, không mặc cả, rồi thò tay phải vào túi lụa, lấy ra từng viên một, đặt lên mặt quầy, chậm, vì một tay thì không vốc được cả nắm, và Lão Khúc đứng nhìn sáu viên linh thạch ra khỏi túi từng viên như nhìn sáu giọt nước nhỏ từ lỗ mái.

"Vẽ cho ta," Tần Hưởng nói, đẩy tới một tờ giấy trắng.

"Ta có giấy của ta," Lão Khúc nói.

Lão rút cuốn sổ của mình ra khỏi ngực áo, cuốn sổ nhận đèn nhận nợ mà lão vẫn mở cho người ta xem như khoe ruộng, và lật tìm một trang trắng. Lật tới gần cuối thì tay lão dừng lại ở một trang. Trên trang ấy kẹp một tờ giấy nhỏ gấp đôi, bản sao tờ giấy lão viết cho thằng trán rỗng hôm đầu tiên, chữ thứ ba là chữ gửi. Lão nhìn tờ giấy ấy một hơi thở, rồi lật qua nó, lật thêm hai trang nữa cho tới khi chắc chắn không còn chữ nào của ngày ấy, và bắt đầu vẽ.

Lão vẽ bến, vẽ cây gạo cụt, vẽ con đường đất ngoằn ngoèo như sợi dây ai thả rơi. Lão đánh một dấu ở khúc quanh đầu tiên, ghi bên cạnh, nhìn thấy mái. Lão vẽ chỗ con đường chẻ làm hai, vẽ nhánh vòng xuống suối, và ở đúng chỗ chẻ, lão đánh một dấu chéo, ghi bên cạnh, giữa chiều, thằng to xuống suối, một mình. Rồi lão vẽ cái cổng, vẽ tấm bia nghiêng, và dừng lại, không vẽ gì bên trong cổng.

Lúc xé trang ấy ra, lão gõ một hạt bàn tính, gõ bằng một ngón như mọi khi, và miệng lẩm bẩm, không với ai.

"Sáu đồng, sáu mươi vốc gạo mùa mưa," lão nói. "Trên ấy một ngày ăn ba mươi hai."

Tần Hưởng nghe thấy, gã cầm tờ giấy, gấp làm tư, rồi nhìn lão.

"Thế thì ông bán rẻ," gã nói.

"Ta bán cái ta thấy," Lão Khúc nói, "cái ta thấy chỉ đáng thế. Cái ta không thấy thì ông tự đi mà xem, đừng bảo ta bán."

"Thằng ấy có dặn ông đừng bán không," Tần Hưởng hỏi, giọng không đổi.

Lão Khúc gõ một hạt bàn tính nữa, gõ mạnh hơn hạt trước.

"Nó dặn," lão nói, "nó dặn thì nó dặn, nhưng cái chõng của ta đặt trên đất cờ xanh, mà ta thì muốn ngồi tới Hắc Kiếp sau."

Lão gom sáu viên linh thạch, bỏ vào cái túi vải nhỏ trong cạp quần, chung với ba đồng lẻ, vỗ lên một cái, và đi ra khỏi quầy cờ xanh mà không quay lại. Lão về chỗ cái chõng, ngồi xuống, mở sổ ra đúng trang có dòng nợ nắm cơm cháy, cầm than lên định gạch, rồi không gạch. Lão cởi dây con gà, rồi buộc lại, rồi lại cởi, và cả ngày hôm ấy lão không mua gì.

Trên núi, sáng ấy Mặc giao cho Đỗ Nghi đong gạo.

Ông đong bằng cái bát sành đặt trên miệng hũ, mười sáu bát gạt bằng, đếm thành tiếng, và Mặc đứng cạnh không đếm theo. Đó là lần đầu từ ngày hắn có gạo, có người khác đếm gạo trong nhà hắn mà hắn không đếm lại. Đong xong, hắn xuống hầm, mở hộp gỗ, đếm tám viên đan gói lá dong, sờ bao thuốc còn một mẻ, rồi lên.

Thất nấu bữa trưa bằng hai cái niêu đặt lệch nhau trên bếp đá, niêu nhà sát lửa, niêu Lạc Thủy chếch ra ngoài, vì từ hôm cơm sượng, Thất đã nghĩ ra rằng niêu to thì phải ở xa lửa hơn một chút và đun lâu hơn một chút. Lần này hai niêu đầu cùng chín một lúc, Thất bắc ngay lượt thứ ba vào chỗ lửa còn đỏ, và cơm trên mặt niêu to chỉ hơi khô chứ không sượng.

"Canh hôm nay có vị rồi," Thẩm Chiêu nói trong ngực Mặc, khi hắn húp ngụm đầu.

"Vị gì," hắn hỏi.

"Vị của cái niêu," nàng nói, "khói ám từ đáy lên, Thất đặt niêu lệch lửa thì khói nó ôm một bên. Đấy là lần đầu ta nếm được một thứ mà Thất không cố ý cho vào."

Thất ngồi xổm cạnh bếp, cạo cháy, rồi bỗng ngẩng lên hỏi một câu như đã nghĩ từ sáng.

"Tối qua lão Khúc lên," Thất nói. "Nếu lão lên nữa, lên muộn, ta còn nấu cho lão không."

Mặc nhìn ra cổng, nhưng từ bậc bếp nhìn ra không thấy gì ngoài tấm bia nghiêng và một mảnh trời.

"Lão lên thì hỏi lão ăn chưa đã," hắn nói.

"Ăn rồi thì sao," Thất hỏi.

"Ăn rồi thì thôi, chưa ăn thì xới."

"Lão nói nhiều," Thất nói, nghĩ một lúc, "nhưng tối qua lão không xin gì ăn cả. Người đói thì hay xin, lão thì chỉ hỏi tên."

"Ngươi để ý cái ấy à."

"Ta để ý ai hỏi tên," Thất nói, và đưa tay lên sờ dải vải nâu trên trán mình, rồi quay lại cạo nốt cháy niêu.

Thất gật đầu, rồi lấy cục than vạch thêm một vạch nhỏ vào cạnh vạch nước niêu to trên tảng đá bếp, và Mặc không hỏi đó là vạch gì.

Buổi chiều Mặc ra Kiếm đường, cắm lại cây tre, đưa đầu dây cho Thất, và bảo Thất chỉ buông ba lần thôi. Lần thứ nhất cây tre bật về, hắn xoay hông, sợi dây gai còn nguyên, lần thứ hai cũng thế, còn lần thứ ba, cây tre bật về đúng lúc vai trái hắn đang căng, và cơn nhói chạy từ chỗ vết chưởng lên tận gáy, làm mũi dao lệch đi nửa đốt. Sợi dây còn nguyên, nhưng hắn biết lần thứ tư nó sẽ đứt.

"Thôi, hôm nay đến đây," hắn nói.

"Mới có ba lần," Thất nói.

"Ba lần là cái vai nói đủ rồi."

Hắn dùng nửa buổi còn lại ngồi xổm giữa sân, lấy que tre vạch lên nền đất. Hắn vạch cái cổng, vạch con đường từ cổng vào sân, chỗ hẹp nhất giữa tấm bia nghiêng và vách đất. Hắn vạch cái bếp, cái kho thóc, gian thờ, cửa hầm, rồi vạch một đường từ kho thóc vòng ra sau bếp, qua khoảnh vườn thuốc, tới chỗ vách đá lõm ở chân Kiếm đường, nơi mưa không hắt tới và từ cổng không nhìn thấy. Hắn đánh dấu chỗ ấy, ghi bên cạnh, người già, trẻ nhỏ.

Đỗ Nghi đứng nhìn cái sơ đồ trên đất rất lâu, rồi không nói gì, đi lấy cuộn dây bè. Ông với gã trai cao gầy buộc một sợi dây dọc theo đúng con đường Mặc vừa vạch, từ góc kho thóc ra sau bếp, qua vườn thuốc, buộc vào những gốc cây, những cái cọc, ngang tầm thắt lưng, chỗ nào đất trơn thì buộc thấp hơn một chút. Buộc xong, ông bảo đứa con gái cắt bấc nhắm mắt lại, cầm sợi dây mà đi, và nó đi từ kho thóc ra tới chỗ vách đá lõm mà không vấp lần nào. Tới nơi nó mở mắt, cười, và đốm lửa nhỏ như hạt đỗ trên trán nó rung theo tiếng cười.

"Con Lau đi giỏi hơn tôi," Đỗ Nghi nói, và Mặc lúc ấy mới biết tên nó.

Trên đường lần dây quay về, Lau hỏi hắn trên núi có chỗ nuôi gà không. Ở bè gà hay rơi xuống sông, nó nói, nó muốn một con gà mái của riêng nó, đẻ trứng ở một chỗ đứng yên.

"Đặt tên gì," Mặc hỏi.

"Tên Nắng," Lau nói, "ở bè mưa mãi rồi."

Chỗ nóng trong ngực hắn im, như mọi lần con bé ngẩng lên.

"Ban đêm thì không ai nhìn thấy đường," Đỗ Nghi nói. "Nhưng tay thì vẫn tìm được dây."

"Ông buộc dây thế này ở bè à."

"Ở bè thì buộc dây quanh mạn, cho trẻ con đêm đi tiểu khỏi rơi xuống sông," ông nói. "Lên núi thì cũng là một cái mạn, chỉ khác là ngoài mạn không phải nước."

"Ngoài mạn thì là gì," Mặc hỏi.

Đỗ Nghi không trả lời, chỉ kéo thử sợi dây một cái, rồi đi về bếp.

Tối ấy Mặc ăn sau cùng, ngồi ở bậc bếp, bát cơm trên đầu gối, cuốn sổ mở bên cạnh, và trước khi ăn hắn gạch đi dòng ba mươi hai vốc của hôm nay, viết bên dưới, còn hai trăm hai mươi mốt. Rồi hắn lật sang trang cuối, nơi hắn đã chép lại cái sơ đồ trên nền đất. Hắn nhìn chỗ con đường chẻ làm hai dưới chân núi, chỗ một nhánh lên cổng, một nhánh vòng xuống suối. Hắn đánh một dấu nhỏ ở đấy, vì đó là chỗ duy nhất trên đường lên mà người dưới chân núi có thể đứng chờ người trên núi đi xuống, rồi hắn ăn, ăn hết, và gấp sổ lại.

Cùng lúc ấy, ở quầy cờ xanh dưới chân núi, dưới ngọn đèn treo cuối cùng của dãy kho, Tần Hưởng trải một tờ giấy gấp tư ra mặt quầy, lấy cái chặn giấy bằng đồng đè lên một góc, vì tay trái gã không giữ nổi mép giấy. Trên tờ giấy có một con đường ngoằn ngoèo, một cây gạo cụt, một khúc quanh, một cái cổng. Ở đúng chỗ con đường chẻ làm hai, có một dấu chéo đậm nét than.

Gã gấp tờ giấy lại, đưa cho một người áo xanh vừa dắt ngựa tới, và người ấy nhét tờ giấy vào ngực áo, lên ngựa, đi về phía thượng nguồn trong bóng tối.

Hết chương 32

Tự tay đưa họ về nhà trong game

Thắp lại đèn, dựng lại tông môn trong Last Lantern.

Google PlayApp Store