Thông báo ngừng phát hành tại Việt Nam

Từ ngày 01/01/2027, Last Lantern sẽ ngừng phát hành tại Việt Nam trên Google Play và App Store. Người chơi đã cài vẫn có thể tiếp tục chơi. Cảm ơn bạn đã đồng hành cùng Last Lantern!

Quyển 1 · Bấc Đen

Chương 33: Người không hỏi

11 phút đọc·

Mục lục18 px

Sáng ngày một trăm bốn mươi ba, Mặc tháo băng vai ra phơi, và lần đầu tiên từ trận ở gốc gạo, dải vải tháo ra không còn dính máu tươi.

Vết chưởng quệt đã khép miệng thành một vệt da non màu hồng sẫm, dài bằng bàn tay, sờ vào thì rát, xoay vai một vòng tròn thì không sao, nhưng kéo mạnh về phía sau thì vẫn giật lên tận gáy. Hắn giặt dải vải trong chậu nước giếng, vắt khô, treo lên sợi dây phơi căng giữa hai cây cột hiên, cạnh mấy tấm chiếu Lạc Thủy đang hong.

"Ở bến còn một cuộn chiếu của chúng tôi," Đỗ Nghi nói, đứng nhìn hắn treo. "Hôm tháo bè không chở hết, chúng tôi gửi bà bán cá khô. Chiếu ấy tốt nhất trong mấy tấm, mà tấm ở đầu hiên thì đêm qua ướt sũng, người nằm đấy co cả đêm."

"Thì ta xuống lấy," Mặc nói.

"Tôi đi cũng được, đường thì tôi nhớ rồi."

"Ông đi thì ai giữ lịch nước," Mặc nói. "Chiều nay ta đứng lò mẻ cuối."

Hắn ăn bữa sáng sau mọi người, ngồi trên bậc bếp, ăn hết, rồi xuống núi một mình. Hắn không mang tiền theo ngoài mấy đồng cuối buộc ở thắt lưng, không mang đan, không mang gùi, chỉ mang một sợi dây gai để buộc cuộn chiếu, vì hôm nay hắn không định mua cũng không định bán gì.

Đoạn đường dưới cây gạo cụt, chỗ con đường đất chạy sát bờ sông trước khi vào chợ, sau mấy chục ngày mưa đã thành một vũng bùn dài cả chục bước. Lúc Mặc đi tới thì có một chiếc xe tay chở măng đang mắc giữa vũng, bánh lún tới trục, và người đàn ông đẩy xe đang ghé vai vào thành xe mà xe không nhích.

Từ phía thượng nguồn, một con ngựa đi tới.

Ngựa trắng, đi bước một, không vội. Người cưỡi mặc áo màu xanh nhạt của Thanh Vân, nhưng nhạt hơn áo những đệ tử đứng quầy cờ xanh, vải mịn hơn, và không có gì đeo ở thắt lưng ngoài một thanh kiếm hẹp bọc vỏ trắng. Tới mép vũng bùn, người ấy ghìm cương. Con ngựa dừng lại ngay, như đã quen dừng đúng chỗ ấy, và người ấy nghiêng cương cho ngựa bước lệch sang mép cỏ ven bờ, nhường cả lòng đường cho chiếc xe tay. Người ấy không xuống ngựa, không bảo ai đẩy xe, không giục, chỉ ngồi chờ.

Người đẩy xe ngẩng lên thấy màu áo thì cuống, đẩy một cái thật mạnh, bánh xe trồi lên khỏi bùn, lăn qua, và ông ta kéo xe dạt hẳn vào vệ đường bên kia, cúi đầu thật thấp mà không dám nhìn lên.

Tay Mặc đã tự đưa lên, kéo vạt áo che ngang trán, cái thói quen cũ mỗi khi gặp người lạ.

Từ chỗ đứng, hắn thấy người cưỡi ngựa quấn một dải lụa trắng ngang trán, rộng bằng ba ngón tay, buộc gọn sau gáy dưới mái tóc đen. Dải lụa ấy không mỏng, nhưng nó không giấu được gì. Ánh sáng tràn ra từ hai mép trên dưới của nó, trắng và đều, như ngọn đèn đặt sau một tờ giấy dán cửa, và giữa ban ngày, giữa trời nắng nhạt sau mưa, cái viền sáng ấy vẫn rõ tới mức hắn phải nheo mắt. Hắn không nhìn ra được hình gì dưới lớp lụa, đốm lửa hay ngọn lửa hay cái gì cao hơn nữa, chỉ biết nó sáng hơn bất cứ cái trán nào hắn từng thấy, sáng hơn cả trán Tần Hưởng đứng dưới đèn.

Người ấy là Bạch Dạ Ly, nhưng Mặc không biết cái tên ấy.

Chiếc xe tay đã qua, nhưng người cưỡi ngựa chưa thúc ngựa đi tiếp. Ánh mắt người ấy chuyển từ chiếc xe sang chỗ Mặc đứng, bên kia vũng bùn, và dừng lại ở trán hắn.

Hắn đang giữ cuộn dây gai bằng tay phải, còn tay trái giữ vạt áo trên trán, và cái vai trái không quen giơ cao lâu. Vạt áo trĩu xuống một chút, chỉ một chút, đủ để lộ ra mép trên của cái khung đèn đen rỗng giữa trán hắn, một góc cạnh sẫm màu như góc một cái khung cửa đã cháy.

Người cưỡi ngựa nhìn đúng chỗ ấy, không nói gì, không nhíu mày, không nghiêng đầu, không thúc ngựa tới gần. Chỉ nhìn, lâu, lâu như người ta nhìn một chữ viết sai trong một trang sách mình đã thuộc. Trong ngực Mặc, chỗ nóng của nàng nằm im dưới Liễm Tức, im tuyệt đối, không lóe, không động, như than vùi dưới một lớp tro thật dày. Hắn không kéo vạt áo lên lại, cũng không bỏ xuống. Hắn để tay ở yên chỗ cũ, tay kia vẫn cầm cuộn dây gai, và nhìn lại, vì hắn không biết nên làm gì khác.

Rồi người ấy quay đi.

Không phải quay đi như người ta quay đi khỏi một thứ đáng ghét, cũng không như quay đi khỏi một thứ đã hiểu. Người ấy chỉ chuyển mắt về phía trước, kéo cương, cho ngựa bước khỏi mép cỏ, đi qua vũng bùn, đi ngang qua chỗ Mặc đứng cách chừng ba sải tay mà không nhìn lại lần nào, rồi rẽ vào con đường men bờ sông đi về phía bến, bước một, không vội, như lúc tới.

Hắn đứng đó cho tới khi tiếng vó ngựa lẫn vào tiếng chợ.

"Người ấy nhìn trán ta," hắn nói khẽ.

"Ta thấy người ấy nhìn," Thẩm Chiêu nói, lâu lắm mới nói. "Ta không thấy người ấy nghĩ gì. Đừng bắt ta đoán."

"Nàng có thấy cái trán ấy không."

"Có," nàng nói, "ngày ta còn đèn, ta là ngọn sáng nhất Thanh Đăng, cả tông không ai dám ngồi gần ta lâu. Cái dải lụa ấy mà buộc lên trán ta thì đã chẳng ai thấy ta sáng. Còn người ấy buộc nó lên, mà ngươi vẫn phải nheo mắt."

Bà bán cá khô đưa cuộn chiếu cho hắn ở đầu lều, cuộn chặt, buộc lạt. Bà nhìn về phía bến một cái, rồi nói nhỏ.

"Sáng nay có người cưỡi ngựa trắng của cờ xanh xuống bến," bà nói. "Không mua gì, không hỏi gì, đi dọc bến một lượt rồi đi. Cả chợ dạt ra hai bên như nước rẽ quanh mũi bè. Lão Tần ra tận đầu bến mà cúi, ta chưa thấy lão cúi ai thấp thế bao giờ."

Mặc vác cuộn chiếu lên vai phải và đi về. Ở chỗ cây gạo cụt hắn gặp Đỗ Nghi đi xuống đón, vì ông sợ cái vai, và hắn kể lại vũng bùn, con ngựa trắng, dải lụa.

"Ở sông người ta có nói," Đỗ Nghi nói, đi chậm lại. "Thanh Vân có một người trẻ cưỡi ngựa trắng, trán lúc nào cũng quấn lụa, đi tới bến nào thì bến ấy dạt ra. Tên thì tôi không biết, người như chúng tôi không ai dám hỏi."

"Người ấy không hỏi ta gì cả," Mặc nói.

"Người như thế thì không cần hỏi," ông nói. "Người cần hỏi là người như tôi, như cậu."

Cả đoạn dốc còn lại không ai nói gì, nàng cũng không.

Lúc hắn qua cổng thì Thất đang ngồi ở bậc bếp nhặt rau. Thất ngẩng lên, đứng dậy, đi tới đỡ cuộn chiếu xuống, rồi đứng nhìn hắn, nhìn lên trán hắn, nơi bàn tay trái của hắn vẫn đang giữ vạt áo, giữ chặt tới mức vải nhăn thành mấy nếp quanh mấy ngón tay. Hắn không biết mình đã giữ như thế suốt con dốc.

"Chiếu này trải ngay được không," Thất hỏi.

"Thay tấm ở đầu hiên," Mặc nói, "đêm qua chỗ ấy ướt."

Thất gật đầu nhưng không đi, mà nhìn bàn tay hắn trên trán thêm một lúc, rồi nói, rất bình thường, như nói chuyện củi.

"Ở đây ai cũng thấy trán ngươi rồi."

Mặc buông tay xuống, và vạt áo rơi về chỗ cũ, cái khung đèn đen rỗng giữa trán hắn để trần dưới nắng chiều, và mấy người Lạc Thủy đang hong chiếu dưới hiên không ai ngẩng lên nhìn, vì đúng như Thất nói, ai cũng đã thấy rồi.

Chiều ấy hắn xuống hầm đứng mẻ thuốc cuối cùng.

Hắn đứng lò như mọi lần, Thất với Đỗ Nghi giữ gàu ở trên, chum đổ đầy, bếp lớn tắt. Tiếng nước thứ hai vừa dịu xuống thì Thất gõ hai tiếng vào thành gàu, và lần này không dừng ở hai tiếng mà gõ thêm tiếng thứ ba, tiếng chưa hẹn bao giờ.

Hắn rút lửa xuống, bò lên miệng hầm nhìn qua khe phên. Con thú không đứng ở bìa rừng như mấy lần trước. Nó đã ra tới giữa khoảnh vườn thuốc, cách cửa hầm chừng hai mươi bước, cái đầu cúi sát đất, hai cục than đỏ chĩa thẳng vào khe phên, và vảy trên lưng nó rì rì sáng lên từng đợt như than bị gió thổi. Mùi lò, mùi hai cái bếp mấy ngày nay, mùi mười sáu người nấu cơm trên núi, chắc đã kéo nó lại gần hơn mọi lần. Hai cái gàu của Thất chỉ hắt được hai lần.

Đỗ Nghi không đợi ai bảo, ông gọi một tiếng bằng giọng nhà sông, cái giọng ngắn và trầm như người đàn bà khâu chiếu hô nhịp kéo xe, và người Lạc Thủy ùa ra từ khắp sân.

"Hai hàng," ông nói, "một hàng từ giếng ra chum, một hàng từ chum ra hầm. Không ai chạy. Đứng yên chỗ mình mà chuyền, ai đứng được thì đứng, trẻ con đứng giữa hai người lớn."

Họ không chạy loạn mà đứng thành một hàng từ chum nước ở góc kho thóc tới cửa hầm, rồi một hàng nữa từ giếng tới chum, mỗi người cách người kia một sải tay, và gàu, nồi, chậu, bất cứ cái gì đựng được nước, đi từ tay người này sang tay người kia như người ta chuyền hàng từ bờ lên bè lúc nước lên. Thất đứng cuối hàng, ở cửa hầm, nhận từng gàu đầy, hắt ra, đưa gàu không ra sau, nhận gàu đầy kế tiếp.

Lần nào con thú tới, Thất cũng chỉ hắt được hai gàu rồi phải chạy đi múc, còn lần này nước không dứt.

Con thú lùi một bước, vảy xèo lên như than bị dội nước, rồi lùi thêm, rồi nó gầm một tiếng khàn, tiếng gầm Mặc chưa nghe lại từ đêm dưới giếng, và quay đầu chạy, không đi vòng như lần trước mà chạy thẳng xuống dốc nam, chạy xa, cho tới khi hai cục than đỏ khuất hẳn sau rặng cây. Người Lạc Thủy vẫn đứng nguyên trong hàng, tay vẫn cầm gàu, thở dốc, chờ.

"Nó đi rồi," Thất nói, nhìn xuống dốc nam rất lâu, rồi quay lại. "Lần này nó chạy."

"Ở sông, bè cháy thì cũng chuyền thế này," gã trai cao gầy nói, đặt cái nồi xuống, tay vẫn run. "Một người thì chỉ hắt được một gàu, mười người thì nước đi như sông chảy."

"Nó có quay lại không," Lau hỏi, đứng giữa hai người lớn, cái chậu nhỏ vẫn ôm trước bụng.

"Có," Mặc nói từ dưới miệng hầm. "Nhưng lần sau nó biết ở đây có mười sáu cái gàu."

Mặc bò xuống hầm, đưa lửa lên lại, chờ tiếng nước thứ ba, và lần này nó tới tròn, không trễ. Bốn viên ra lò khi trời vừa tối, gói lá dong, mười hai viên, không còn bao thuốc nào trong hầm.

Bữa tối nấu muộn, và chiếu mới trải thay cho tấm ướt ở đầu hiên. Người đàn bà khâu chiếu nằm thử lên, xoa tay trên mặt chiếu khô như người ta xoa lưng một con trâu vừa kéo cày về.

"Băng khô rồi đấy," Thẩm Chiêu nói, lúc Mặc ăn, sau cùng, ở bậc bếp. "Cả chiều nó treo trên dây cạnh chiếu người ta, ai đi qua cũng tưởng nhà ngươi phơi cờ trắng. Đừng quấn lại nữa, quấn mãi thì nó dính vào thịt, mai tháo ra lại rách."

Hắn không quấn lại.

Trước khi ngủ, hắn đi một vòng kiểm gàu, như mọi tối, từ cửa hầm ra chum, từ chum ra lối xuống suối, chỗ con đường chẻ làm hai dưới cổng. Tới chỗ chẻ thì hắn dừng lại.

Trên lớp đất mềm ở mép đường, có những dấu chân không phải của nhà. Người trên núi đi dép rơm hoặc chân đất, còn mấy dấu này là đế giày, đế bằng, mũi vuông, in sâu vì đất còn ướt. Dấu giày đi từ dưới dốc lên, tới đúng chỗ con đường chẻ làm hai, đứng lại ở đó, hai dấu chân cạnh nhau, như người ta đứng nhìn một cái gì, rồi quay xuống, không lên cổng, không xuống suối.

Hắn ngồi xổm xuống, đặt bàn tay mình cạnh một dấu giày mà đo, thấy dấu còn mới, mép đất chưa sụt, ít hơn một ngày. Hắn không biết ai, không biết là người áo xanh đi bộ, hay người cưỡi ngựa trắng đã xuống ngựa ở đâu đó, hay một ai khác hoàn toàn. Hắn chỉ biết người ấy đã đứng ở đây, đúng chỗ Thất mỗi chiều đi ngang với hai cái gàu. Cái mồi hắn để ngỏ đã có người tới ngửi, mà lại tới vào lúc không ai ngồi ở bậc cổng.

Đỗ Nghi đi ra tìm hắn, thấy hắn ngồi xổm, nhìn theo tay hắn, và hiểu ngay.

"Sáng mai tôi lấy nước sớm hơn," ông nói.

"Không lấy sớm," Mặc nói, "lấy muộn hơn, đi hai người, và đi lối giếng, đừng đi nhánh xuống suối nữa."

Hắn đứng dậy, phủi tay, và nhìn xuống dốc tối om, nơi mấy hôm nay hắn vẫn nghĩ rằng chỉ có người trên núi nhìn xuống, chứ không có ai nhìn lên.

Hết chương 33

Tự tay đưa họ về nhà trong game

Thắp lại đèn, dựng lại tông môn trong Last Lantern.

Google PlayApp Store