Sáng ngày một trăm bốn mươi tư, Mặc đi theo dấu giày xuống dốc, đi tới khúc quanh đầu tiên thì dừng.
Từ khúc quanh ấy nhìn ngược lên thì thấy mái bếp, tấm cói căng trên bếp, góc hiên kho thóc, còn nhìn xuống thì thấy cây gạo cụt, thấy con đường đất chạy ra bờ sông, thấy cả mái lều dãy kho và lá cờ xanh ở đầu bến. Dấu giày dừng ở đây cũng như dừng ở chỗ con đường chẻ làm hai, hai dấu cạnh nhau, mũi quay lên núi. Năm ngày trước, Lão Khúc cũng đã dừng ở đúng chỗ này, đặt gánh xuống, quay đầu nhìn lên rất lâu.
Hắn ngồi xuống sau một bụi sim, chờ.
Gần trưa, có người lên. Người ấy mặc áo xanh của quầy cờ xanh, cầm một cây sào tre dài, đi chậm, cứ vài chục bước lại cắm sào xuống đất, nhìn, rồi ghi gì đó vào một tấm thẻ gỗ. Tới cây gạo cụt thì người ấy rẽ đúng hướng, tới khúc quanh thì dừng, ngay chỗ dấu giày, đứng nhìn lên mái bếp, rồi nhìn xuống tấm thẻ trong tay, rồi lại nhìn lên. Mặc nằm im sau bụi sim, cách chừng hai mươi bước, đủ gần để thấy trên trán người ấy là một đốm lửa Luyện Khí vàng nhạt, và đủ xa để không nghe được người ấy lẩm bẩm gì.
Người ấy không lên tiếp, ghi xong thì quay xuống.
Hắn không biết ai đã chỉ đường cho người áo xanh, nhưng hắn biết người ấy không đi lần mò mà đi như người đã có sẵn trong tay một tờ giấy, tới đúng chỗ phải đứng, nhìn đúng chỗ phải nhìn. Hắn mở sổ, khoanh một vòng quanh khúc quanh đầu tiên, một vòng quanh chỗ con đường chẻ làm hai, và dưới hai vòng khoanh ấy hắn không viết gì, vì không cần viết.
Người ta đã đo xong đường lên.
"Họ sẽ lên," hắn nói với Đỗ Nghi, ở bậc bếp, khi đã kể xong. "Ta không biết ngày nào, không biết bao nhiêu người. Họ lên để đòi sáu người trên xe, có khi đòi cả ta."
Đỗ Nghi nhìn ra sân, nơi hai đứa nhỏ đang chơi ném sỏi quanh giếng.
"Thế thì cậu định giữ cái gì," ông hỏi. "Giữ cái sân này, cái bếp này, hay giữ người."
"Ông nghĩ thế nào," Mặc hỏi lại.
"Đồ thì mất được," ông nói, "ở bè, nước lên thì người ta bỏ hàng xuống sông cho bè nhẹ, chưa ai bỏ người xuống cho bè nhẹ."
Mặc gật đầu, rồi lấy que tre vạch lên nền đất, cái sơ đồ hôm trước vẫn còn mờ mờ trên đấy. Hắn vạch lại sợi dây dẫn tay từ kho thóc ra sau bếp, tới vách đá lõm, rồi đánh dấu chỗ ấy đậm hơn.
"Người trước," hắn nói, "có ai lên thì người già với trẻ con theo dây ra đây trước hết, trước khi ai làm gì khác, rồi mới tới chuyện chặn."
"Thế chặn ở đâu," Đỗ Nghi hỏi.
Hắn vạch cái cổng, vạch chỗ hẹp nhất giữa tấm bia nghiêng với vách đất, chỗ chỉ lọt hai người đi song song.
"Chặn ở đây," hắn nói, "sau lưng phải còn đường đi."
Buổi chiều ngày ấy cả núi làm một việc chưa ai trên núi từng làm.
Mặc nhổ hai cái cọc tập ở Kiếm đường, cọc đã cắm từ đầu mùa, gỗ chắc, chân đã mòn nhẵn vì nghìn nhát mỗi sáng. Hắn với gã trai cao gầy đóng hai cái cọc ấy xuống hai bên chỗ hẹp, một cái sát chân tấm bia, một cái sát vách đất. Thất vác lên cây tre to nhất trong bó tre cũ sau kho, cây Thất vẫn dùng làm đòn gánh, đặt ngang qua hai cái cọc, cao ngang thắt lưng. Gã trai cao gầy buộc hai đầu tre vào hai cọc bằng cái nút buộc bè lúc nước xiết, cái nút Mặc đã vẽ vào sổ hôm đón người, kéo căng thì không trượt, giật một cái thì tuột.
"Người mình rút vào thì ai đứng gần nhất giật một cái," Mặc nói, "thanh chắn rơi xuống đất, người mình đi qua, rồi hai người nhấc nó lên buộc lại."
"Thế còn người ngoài đi vào," Thất hỏi.
"Người ngoài không biết chỗ nào phải giật."
"Thế ta đứng đâu," Thất hỏi.
"Sau thanh chắn," Mặc nói, "ngươi giữ đầu dây."
"Ta giữ," Thất nói, và cầm lấy đầu dây ngay lúc ấy, như sợ ai giữ mất.
Thấp hơn một chút, cách thanh chắn ba bước về phía ngoài, ở chỗ con đường bị một mô đất che khuất, hắn căng một sợi dây ngang tầm đầu gối, buộc vào hai gốc sim, sợi dây bè to bằng ngón cái. Sợi dây ấy không giữ được ai, nó chỉ làm cho người chạy lên mà không nhìn chân phải chậm lại một bước. Đỗ Nghi đặt hai chum nước, một ở sau thanh chắn, một ở góc kho thóc, nhưng không cho dời chum nào khỏi cửa hầm.
"Con thú chưa chết," ông nói, "người ta lên rồi người ta về, còn con thú thì ở luôn đây."
Rồi mấy người Lạc Thủy làm một việc mà Mặc không nghĩ ra. Mưa đã ngớt từ hai hôm, mấy cái chum quanh hầm từ nay không còn được trời đổ đầy, và người đàn bà khâu chiếu nhìn con suối dưới vườn thuốc rất lâu, rồi bảo mấy người đàn ông đào một cái rãnh. Rãnh nhỏ, sâu một gang, từ chỗ suối dốc nhất vòng lên, men theo sườn đất, chảy qua trước cửa hầm rồi đổ xuống chỗ trũng ở vườn thuốc. Đào tới chiều thì nước suối đã chảy thành một dòng mảnh, lạnh, đều đặn qua trước tấm phên hầm.
"Ở bè, nước đứng thì cạn," bà nói, "nước chảy thì không bao giờ khô. Con thú ấy mà sợ nước lạnh thì nó phải bước qua một dòng nước lạnh không bao giờ hết, mà chum thì mười sáu cái gàu múc mãi cũng có lúc cạn."
"Bà biết con thú ấy à," Mặc hỏi.
"Ta không biết con thú," bà nói, phủi đất trên tay, "ta biết nước. Ở sông năm nào cũng có thứ gì đó đánh hơi lửa bếp trên bè mà mò tới, chưa thứ gì bơi qua được dòng nước xiết cả."
Bà vén khăn lau mồ hôi, và đốm lửa trên trán bà nhỏ mà đỏ, như than vừa được quạt. Đỗ Nghi gọi bà là Ôn đại nương, và gọi thế thì cả bến Lạc Thủy đều biết là ai.
"Có rãnh rồi thì mùa sau ta cắm rau cần dọc bờ," Ôn đại nương nói, nhìn dòng nước mảnh chảy qua chân mình. "Ba mươi năm ở bè, ta chưa trồng được cây nào đứng yên một chỗ."
Không ai cười.
Sáng ngày một trăm bốn mươi lăm, trời tạnh hẳn. Họ thử lần đầu.
Mặc đứng ngoài cổng làm người lên, ôm cái túi đất của Kiếm đường, đi nhanh lên con dốc như người không biết đường. Thất đứng sau thanh chắn, Đỗ Nghi đứng ở đầu sợi dây dẫn tay, chờ hiệu. Tới chỗ sợi dây ngang tầm gối thì hắn vấp, ngã chúi về phía trước, và cái túi đất văng ra, đập vào thanh chắn đúng chỗ buộc.
Cái nêm gỗ chèn chân cọc sát vách đất bật ra. Cái cọc nghiêng đi, và thanh chắn không rơi xuống phía ngoài như Mặc định mà quay ngược vào trong, rơi chéo xuống ngang con đường phía sau, đúng con đường người trong nhà phải chạy ra sau bếp. Một đầu sợi dây buộc, đã sờn ở chỗ cọ vào mép đá, đứt phựt.
Mọi người đứng im nhìn cây tre nằm chắn ngang lối rút của chính mình.
"Ta chặn được cả nhà ta rồi," Mặc nói.
"Ít ra thì cũng chặn được," Thẩm Chiêu nói. "Lần đầu ngươi cầm dao cũng đâm vào chân mình."
"Nêm quay thế này thì dây càng kéo, nó càng bật," Đỗ Nghi nói. Ông ngồi xổm xuống cạnh chân cọc, nhặt cái nêm lên, xoay trong tay. "Cậu đóng nêm như đóng chân bàn, chỗ dày ở dưới. Ở bè, nêm chèn cột buồm thì quay đầu dày về phía gió, gió càng đẩy thì nó càng chặt."
"Ông chỉ cho ta," Mặc nói, và Đỗ Nghi chỉ.
Họ tháo cả hai cọc ra, đóng lại, nêm quay ngược, đầu dày hướng ra ngoài, về phía người lên. Thất cầm con dao định cắt một đoạn dây từ tấm cói trên bếp để thay sợi đứt.
"Đừng cắt," Mặc nói, "tấm cói còn phải che người rút vào, lấy cuộn dây gã râu bán."
Cuộn dây gã râu chỉ còn đủ một sợi, hắn dùng sợi ấy rồi ghi vào sổ, dây dự phòng hết.
Lần thử thứ hai thì cả nhà cùng chạy. Mặc lại ôm túi đất lên dốc, Đỗ Nghi lại đứng đầu dây, và lần này khi hắn vấp ở sợi dây ngang, Đỗ Nghi hô một tiếng nhà sông, mười bốn người Lạc Thủy rời chỗ, người già cầm dây dẫn tay đi trước, trẻ con theo sau người lớn, đi ra sau bếp. Mặc đâm túi đất vào thanh chắn, thanh chắn rung mà không đổ, cái nêm quay ngược càng bị đẩy càng chặt.
Nhưng ở chỗ con đường rẽ ra sau bếp, có một người đứng chắn giữa lối.
Thất đã bỏ chỗ sau thanh chắn từ lúc nghe tiếng hô, chạy tới đứng ngay giữa con đường rút, quay mặt ra cổng, hai tay dang ra, đứng như một bức vách. Đứng thế thì không ai từ ngoài qua được Thất, nhưng người trong nhà cũng không ai qua được. Người già đi đầu phải dừng lại sau lưng Thất, Lau đâm sầm vào lưng người già, và cả hàng người dồn lại thành một cục giữa sân, đúng chỗ trống nhất, đúng chỗ người từ cổng vào nhìn thấy rõ nhất.
Mặc đi tới, đặt tay lên vai Thất.
"Ta đứng trước được," Thất nói, không quay lại, "ta đứng trước thì không ai vào được."
"Đứng bên này," Mặc nói, kéo nhẹ vai Thất sang mép đường, sát vách bếp, chỗ Thất vẫn chắn được cái lối mà không chắn mất người, "người sau còn phải về."
Thất nhìn chỗ mình vừa đứng, nhìn hàng người dồn cục giữa sân, rồi nhìn chỗ Mặc chỉ. Rồi Thất bước sang. Hàng người chảy qua, đi theo dây, ra tới vách đá lõm.
Họ thử lại lần nữa, rồi lần nữa. Lần thứ tư, khi Đỗ Nghi hô, Thất chạy tới đứng đúng chỗ sát vách bếp, quay mặt ra cổng, hai tay buông, và người già đi đầu dắt cả hàng đi qua sau lưng Thất mà không phải dừng một bước. Không ai phải trèo qua lưng ai. Lau đi qua cuối cùng, ngoái lại nhìn Thất đứng đó, rồi chạy theo dây.
"Đứng thế này thì ta không chắn được nhiều người như lúc nãy," Thất nói, khi Mặc đi tới, mắt vẫn nhìn ra cổng.
"Lúc nãy ngươi chắn được nhiều người nhất," Mặc nói, "nhưng toàn là người nhà."
"Lúc nãy Thất đứng như một cánh cửa đóng," Thẩm Chiêu nói, "người ngoài không vào được mà người trong cũng không ra được. Giờ thì là cánh cửa có then rồi."
Chiều ấy Thất giữ đầu dây thanh chắn suốt mấy lượt thử, mỗi lượt phải ghì cho thanh chắn đứng lại sau khi nhấc lên, và tới lượt thứ bảy thì Mặc thấy bàn tay to của Thất ghì vào sợi dây đã trắng bệch ở các đốt ngón, mà Thất vẫn không buông, vì Thất không biết đau.
"Đổi người," Mặc nói.
"Ta còn giữ được," Thất nói, không buông.
"Ngươi giữ được, nhưng tay ngươi không biết nó đang hỏng," Mặc nói, và gọi gã trai cao gầy vào thay.
"Hắn còn vài năm," Thẩm Chiêu nói trong ngực Mặc, rất khẽ, lúc Thất ra ngồi ở bậc bếp, xoa hai bàn tay vào nhau. "Ngươi đừng tính như hắn có cả đời để thay dây cho ngươi."
Mặc không đáp, chỉ chia lại các lượt, mỗi người giữ dây không quá hai lượt liền, Thất cũng thế.
Tối ngày một trăm bốn mươi lăm, sau mấy chục lần ôm túi đất lao lên dốc, đâm vào thanh chắn, vai trái của hắn giật liên hồi, và tới lúc ngồi xuống thì hai tay hắn run không cầm nổi bát. Hắn lấy một viên đan trong hộp gỗ, uống, ngồi xếp bằng ở góc bếp mà dẫn khí, chậm, theo con đường tầng bảy, cho cái dòng ấm lấp vào những chỗ đã cạn, tới khi tay thôi run. Viên đan không làm vai lành, chỉ làm hắn có sức đi ngủ. Còn mười một viên.
Lúc hắn mở mắt thì cái niêu to đang bốc mùi khét, vì Thất nấu cơm rồi chạy đi thử đường, quên mất niêu bắc sát lửa. Đỗ Nghi nhấc ra kịp, cạo lớp cháy dưới đáy, bẻ thành miếng chia đều vào mười sáu bát, còn Thất thì giao cho ông việc trông niêu những lúc chạy thử, mặt nghiêm như đang giao một việc lớn.
"Giữ được cửa mà quên nấu cơm," Thẩm Chiêu nói, "thì cũng chẳng ai khen đâu."
Ngày một trăm bốn mươi sáu, Mặc tập nhẹ thức hai trên túi đất, rồi đi kiểm từng thứ. Tối, Đỗ Nghi mang bát cơm ra tận thanh chắn, nơi hắn đang giật thử cái nút buộc bè lần thứ mười.
"Cái nút ấy cậu giật mười lần nó vẫn là cái nút," ông nói.
"Lần thứ mười một thì sao," Mặc hỏi.
"Lần thứ mười một thì cơm nguội."
Trước khi trời tối hẳn, hắn đi xuống tới khúc quanh đầu tiên lần nữa, nhìn xuống bến. Chợ đã tan từ chiều, bè đã buộc, những mái lều đã tắt đèn, nhưng ở quầy cờ xanh đầu bến vẫn còn ánh lửa, không phải một ngọn mà ba bốn ngọn, và dưới ánh lửa có bóng người đứng, nhiều hơn mọi tối.
Hắn về, đi qua thanh chắn, qua sân, vào bếp, nơi niêu đã cạo sạch, úp trên bếp đá. Hắn mở sổ, nhìn dòng cuối, chín mươi ba vốc, mười sáu người, ba mươi hai vốc một ngày, chia hai lần, lần nào cũng ra chưa đầy ba ngày.
Gập sổ, hắn ra cửa bếp nhìn về phía rừng dốc nam. Trưa nay gã trai cao gầy ngồi cuộn dây ở bậc cổng đã thấy người áo xanh cầm sào tre của hôm kia lại lên tới khúc quanh, lần này không ghi gì, đứng nhìn một lúc rồi rẽ vào rừng. Từ trưa tới giờ chưa ai thấy người ấy đi xuống, và rừng thì đã tối.

