Sáng ngày một trăm bốn mươi bảy, Mặc buộc tám linh thạch cuối cùng vào thắt lưng, khoác cái gùi không lên vai phải, và xuống núi mua gạo.
Mưa đã tạnh từ hôm kia, con dốc khô dần từ trên xuống, chỗ đá trơn đã thành chỗ đá thường, và vũng bùn dưới cây gạo cụt chỉ còn là một vệt đất nứt. Nếu bè thượng nguồn đã xuống đều thì giá gạo sẽ hạ, tám đồng có khi được trăm vốc, và hắn vừa đi vừa tính trong đầu, tám mươi vốc là hai ngày rưỡi, trăm vốc là ba ngày, như người ta đếm bước trên một con đường đã đi quen.
Tới khúc quanh đầu tiên thì hắn dừng lại, ngồi xuống sau bụi sim hôm trước.
Dưới cây gạo cụt có năm người áo xanh đứng dàn ngang con đường đất, không ngồi, không dựng lều, chỉ đứng, như người đứng gác một cái cổng không có cánh, và người đứng giữa là Tần Hưởng. Gã khoanh tay phải trước ngực, tay trái buông thõng bên sườn, cổ tay quấn vải trắng, mấy ngón tay vẫn duỗi thẳng cứng như hôm ở quầy, và ánh đốm lửa to trắng trên trán gã rõ tới mức từ khúc quanh nhìn xuống vẫn thấy.
Một lúc sau có người đi lên từ phía chợ, gánh một bao gạo trên đòn gánh. Mặc nhận ra cái dáng cao lêu nghêu ấy, thằng con trai bà hàng gạo. Nó đi tới cây gạo cụt thì bị chặn lại. Một người áo xanh hỏi gì đó, nó chỉ tay lên núi, và Tần Hưởng lắc đầu, không to tiếng, chỉ chìa tay phải ra chỉ về phía chợ. Thằng con trai đứng đó một lúc, nhìn lên núi, rồi quay gánh xuống. Bao gạo đi tới chân núi, rồi đi về.
Mặc ngồi sau bụi sim rất lâu. Năm người, một người là Tần Hưởng, Luyện Khí đỉnh, cái tay trái hỏng nhưng tay phải thì không. Mở đường xuống chợ thì phải qua năm người ấy, mà dù qua được thì lúc gánh gạo về, trên núi không ai giữ thanh chắn. Hắn đứng dậy, đi lên, gùi vẫn không, tám linh thạch vẫn buộc nguyên ở thắt lưng.
"Tiền vẫn còn mà gạo không lên được," Đỗ Nghi nói, khi nghe hắn kể. Ông nói chậm, như đọc lại một dòng trong sổ mà mình không muốn tin.
"Đêm nay để tôi xuống bằng lối suối," gã trai cao gầy nói. "Đi men bờ nước, tới chợ phía sau dãy kho, gánh một bao về trước khi trời sáng."
"Đừng cho người đi thử đường ấy nữa," Mặc nói. "Họ đã đứng ở chỗ con đường chẻ làm hai từ mấy hôm trước, chỗ nhánh suối rẽ ra. Người họ đo đường lên được thì cũng đo được đường xuống."
Gã trai cao gầy nhìn hắn, rồi nhìn Đỗ Nghi, và Đỗ Nghi lắc đầu. Gã ngồi xuống, cuộn tiếp cuộn dây đang cuộn dở.
Chiều ấy, khi mọi người đã đi làm việc của mình, Đỗ Nghi đến ngồi cạnh Mặc ở bậc bếp, hai tay đặt trên đầu gối như hôm ở cây gạo cụt.
"Tôi hỏi cậu một câu, cậu đừng giận," ông nói. "Nếu tôi dắt sáu người trên xe xuống, trả cho họ, thì họ có đi không."
Mặc không trả lời ngay, vì hắn biết đây không phải câu xin, mà là câu của người giữ sổ thử một con đường cuối cùng trước khi gạch nó đi.
"Ông xuống thì họ nhận sáu người," hắn nói. "Tờ giấy ghi gã nhận thay, gã phải đem người về, ông đem sáu người tới thì gã có cái để trả lời. Rồi Hắc Kiếp tới họ lên lấy tám người kia, vì lệnh nộp thay không viết trên tờ giấy ấy, mà họ cũng chưa quên người làm mất giấy. Ông giao người thì không mua được gì cả, chỉ đổi được một ngày nào đó cho một ngày khác."
"Tôi cũng tính ra thế," Đỗ Nghi nói. "Nhưng tôi phải hỏi, để mai sau không ai bảo tôi chưa hỏi."
"Ai muốn đi thì vẫn đi được," Mặc nói, "chỉ là đi lối nào thì ta không bảo đảm."
"Không ai muốn đi, tôi hỏi rồi, từng người," ông nói, đứng dậy. "Thế thì những người đã tập dây, tôi giao cho họ giữ dây."
Sáng ngày một trăm bốn mươi tám, Mặc đi kiểm lại từng thứ đã dựng.
Hắn giật cho cái nút buộc bè tuột một lần, nhìn thanh chắn rơi xuống đất, rồi cùng gã trai cao gầy nhấc lên buộc lại, và bảo Lau nhắm mắt đi dây dẫn tay thêm một lượt. Mấy tấm chiếu ở hành lang hắn dời sát vách hết, cho lối đi giữa không vướng chân ai.
Rồi hắn ra Kiếm đường, tập thức hai trên túi đất, mũi dao vào điểm, xoay hông, rạch ngắn, thoát ra, mười lần, chậm, rồi thôi. Cái vai đã đỡ nhiều, xoay được, giơ lên được, nhưng hắn biết nếu phải đỡ một cái chưởng thẳng như cái chưởng ở gốc gạo thì nó sẽ không chịu được lâu. Hắn không đỡ. Hắn ghi điều ấy vào sổ từ hôm lên tầng bảy, và bây giờ đọc lại.
Trưa, hắn mở hộp gỗ, đếm đan, mười một viên, rồi lấy hai viên, gói lá dong, cho vào một ống tre nhỏ, buộc ống tre vào thắt lưng, sát chỗ túi tiền, không bỏ vào ngực áo.
"Lần này ngươi nhớ," Thẩm Chiêu nói.
"Nàng nhắc ta một lần rồi, ở chỗ bánh xe," hắn nói.
"Ta nhắc ngươi chín lần chuyện cầm dao lệch, ngươi nhớ được ba," nàng nói. "Chuyện ngực áo ta mới nhắc một lần mà ngươi đã nhớ, thì chắc là ngươi sợ ngã đè lên đan hơn sợ ta."
Chín viên còn lại hắn cất trong hộp gỗ, đặt vào khe đá dưới bệ lò, rồi dẫn Thất với Đỗ Nghi xuống hầm, chỉ cho cả hai cái khe đá ấy. Hắn không nói nếu có chuyện gì thì lấy ra dùng, vì cả hai đều hiểu.
Chiều hắn ngồi tu, không dồn, chỉ đi những vòng quen của tầng bảy cho con đường linh lực ấm lên, rồi ngủ một giấc ngắn trước bữa tối.
Cả buổi chiều ấy, trên núi ai cũng làm việc của mình, và không ai làm việc gì to tát. Ôn đại nương ngồi dưới hiên khâu cho mỗi đứa nhỏ một cái túi vải đeo chéo, trong mỗi túi bỏ một nắm cơm cháy gói lá với một cái khăn, để nếu phải chạy theo dây ra vách đá lõm thì đứa nào cũng có cái mà cầm. Gã trai cao gầy tháo hết những cái nút trên sợi dây dẫn tay ra buộc lại từng cái một, chậm, kéo thử từng cái, như ngày còn ở bè gã vẫn buộc lại dây neo trước một đêm nước lớn. Lau đi dọc tấm ván ở hiên kho thóc, cắt bấc cho từng ngọn đèn trong mười bốn ngọn, cắt bằng cái trâm mài dẹt, nín thở, cắt xong ngọn nào thì úp chụp lại ngọn ấy, và tới ngọn có chụp hoa giấy thì nó dừng lâu nhất, vuốt cái cánh hoa lệch một lần, rồi để nguyên.
"Con bé cắt bấc cho cả tông," Thẩm Chiêu nói, lúc hắn đi ngang hiên, rồi không nói gì thêm nữa, và chỗ nóng trong ngực hắn lại im như mỗi lần nó ngẩng lên.
Lúc hắn thức dậy thì Thất đang làm một việc mà hắn chưa thấy bao giờ.
Thất ngồi xổm cạnh hai cái niêu đã rửa sạch, mỗi niêu đổ nước tới đúng mức nấu cơm, cái niêu nhà ba bát, cái niêu Lạc Thủy bốn bát rưỡi. Rồi Thất lấy một sợi dây gai, quấn quanh thân niêu, kéo cho sợi dây nằm đúng ngang mặt nước, buộc chặt, rồi làm y thế với niêu thứ hai. Xong Thất đổ nước đi, giơ cái niêu không lên nhìn, sợi dây vẫn nằm vòng quanh thân niêu, đúng chỗ mặt nước vừa ở.
"Ngươi buộc dây vào niêu làm gì thế," Mặc hỏi.
"Vạch than trên tảng đá thì chỉ người đứng ở bếp mới thấy," Thất nói. "Mai ai nấu cũng được, cứ đổ nước tới sợi dây là đúng. Ông Đỗ Nghi nấu được, con Lau cũng nấu được."
"Mai ngươi không nấu à," Mặc hỏi.
Thất không trả lời ngay mà xoay cái niêu trong tay, sờ sợi dây gai cho nó nằm phẳng.
"Mai ta đứng ở cửa," Thất nói. "Xong ngoài cửa, ta vẫn về nấu được chứ."
"Chỗ của ngươi vẫn ở đó," Mặc nói.
Thất gật đầu, đặt cái niêu xuống bếp đá, đúng chỗ cũ, như người ta đặt một vật mình sẽ quay lại lấy.
Bữa tối Đỗ Nghi đong mười sáu bát gạt bằng, ba mươi hai vốc, không bớt bát nào, không đổ thêm nước cho cháo loãng ra mà tính là đủ. Mặc đi chằng lại góc tấm cói ở đầu hiên, chỗ đứa nhỏ nhất với mẹ nó nằm, vì gió dốc nam lùa vào đấy mạnh nhất, rồi mới xới bát mình, và ăn như mọi bữa, mỗi miếng một nhịp.
"Ăn chậm thôi," Thẩm Chiêu nói. "Ta chưa muốn bữa này có vị của cuốn sổ."
Hắn ăn chậm lại, và cơm có vị khói, vì đáy niêu cháy hôm thử thanh chắn Thất cạo mãi vẫn còn một lớp ám.
"Mấy hôm nay ngươi ăn như đếm," nàng nói, "hôm nay ngươi ăn như ăn."
Hắn ăn hết, tới hạt cuối cùng, và lúc đặt bát xuống thì hắn biết nàng đã ăn cùng hắn trọn bữa ấy.
Khi trời tối hẳn, Mặc ra chỗ thanh chắn, trèo lên chân tấm bia nghiêng, chỗ đứng cao nhất ở cổng, nhìn xuống dốc.
Ban đầu chỉ có bóng tối, rừng, và xa xa ánh lửa quầy cờ xanh ở đầu bến. Rồi ở chỗ cây gạo cụt có ánh sáng dịch chuyển. Không phải đuốc. Là những đốm sáng nhỏ, tròn, trên ngang tầm đầu người, lắc lư theo bước chân, những cái trán không che. Hắn đếm được năm. Có lúc hình như sáu, khi một đốm khuất sau đốm khác rồi tách ra, nhưng hắn không chắc, và hắn ghi vào đầu là năm, có thể sáu, trong đó một đốm sáng hơn mấy đốm kia đi trước. Họ đi lên tới chỗ con đường chẻ làm hai thì dừng lại, dàn thành một hàng ngang, và hắn nghe tiếng gì đó đặt xuống đất, tiếng gỗ, tiếng sắt, rồi thôi. Họ không lên tiếp mà ngồi xuống chờ.
Hắn không xuống. Trời tối, dốc lạ với họ nhưng không lạ với hắn, nhưng xuống thì phải bỏ thanh chắn lại cho người khác, và hắn không biết ngoài năm đốm ấy còn bao nhiêu cái trán đã che, nên hắn quay vào.
Trong bếp, Đỗ Nghi đang ngồi cạnh hũ gạo, cuốn sổ của Mặc mở trên đầu gối, cục than trong tay, khoanh một dòng rồi ngẩng lên.
"Mai cần ba mươi hai," ông nói, "trong hũ còn hai mươi chín."
"Ba vốc," Mặc nói.
"Ba vốc," Đỗ Nghi nhắc lại, "mà tiền thì còn tám đồng, tám đồng ở đây thì chẳng đổi được hạt nào."
Mặc cầm lấy cuốn sổ, nhìn dòng ông khoanh, rồi lật sang trang hai cột, viết vào cột phải lịch canh đêm. Ca đầu gã trai cao gầy với Ôn đại nương, ca giữa Đỗ Nghi với một người nữa. Thất không có ca nào, Thất ngủ tới sáng, còn ca cuối, trước khi trời rạng, hắn viết tên mình.
"Ngươi không cho Thất canh," Thẩm Chiêu nói.
"Mai Thất phải đứng ở cửa," hắn nói, "người đứng cửa thì phải ngủ."
Thất không cãi, chỉ nhìn tờ lịch rất lâu, rồi đi vào nằm xuống chỗ cửa hầm, lần đầu tiên từ ngày lên núi nằm thay vì ngồi, quay mặt ra rừng bắc, và một lúc sau thì thở đều.
Tới ca cuối, Mặc ra ngồi sau thanh chắn, lưng tựa vào chân tấm bia, con dao mài ngắn đặt trên đùi, tay phải đặt lên chuôi. Sau lưng hắn là cái sân, cái bếp có tấm cói che, kho thóc có mười mấy người đang ngủ trên những tấm chiếu khô, hiên có mười bốn ngọn đèn dưới chụp, và tất cả những người ấy hôm nay đều đã có chỗ nằm và đã có phần ăn. Phía trước hắn là con dốc tối, và chưa có nhát đánh nào.
Dưới chân dốc, ở chỗ con đường chẻ làm hai, có tiếng người khẽ khàng, tiếng một cái bọc được mở ra, tiếng kim loại chạm vào đá, tiếng ai đó nói nhỏ một câu không nghe rõ chữ, rồi im. Họ đang dọn đồ, chờ sáng.

