Trời chưa rạng thì Thất đã dậy, và việc đầu tiên Thất làm không phải là ra cửa mà là ngồi xổm bên hai cái niêu, lấy ngón tay sờ lại hai vòng dây gai xem đêm qua chúng có tuột xuống phân nào không.
Mặc ngồi sau thanh chắn từ đầu ca cuối, nghe tiếng lục cục trong bếp mà biết là ai. Dưới chân dốc, chỗ con đường chẻ làm hai, những đốm sáng vẫn nằm yên trong sương, và lúc trời hửng xám thì một đốm đứng dậy đi lại mấy bước rồi ngồi xuống cạnh một đốm khác, đủ để lần này hắn đếm được rõ. Sáu người, không phải năm, và cái đốm to nhất, sáng gần trắng, nằm ở đầu hàng.
Hắn vào bếp khi Đỗ Nghi đang đổ hết gạo trong hũ ra cái nia. Ông đong bằng cái bát sành, gạt bằng từng bát, xếp thành từng đống nhỏ trên nia, và tới đống thứ mười lăm thì bát chỉ còn lưng lửng, gạt thế nào cũng không bằng được.
"Hôm nay thiếu ba," ông nói, không ngẩng lên, rồi cầm cục than khoanh dòng hôm qua trong sổ, viết thêm một dòng bên dưới. "Tôi ghi lại, không xoá, mai mua được thì ghi là mua được, chứ không ai được sửa dòng này thành đủ."
"Nấu cả một lần," Mặc nói, "nắm thành từng nắm, mỗi người cầm phần mình. Hôm nay không biết có ai được ngồi xuống ăn trưa không."
"Ba vốc thì chia mười sáu người, mỗi người vơi đi chưa tới một miếng," ông nói, "nhưng người già với trẻ con thì tôi không bớt hạt nào."
"Thế thì bớt của ai," Mặc hỏi, tay vẫn cầm cái bát sành.
"Bớt tôi với cậu," ông nói, "với gã cao gầy kia, nó ăn khoẻ nhất mà hôm nay nó đứng sau thanh chắn, đứng thì không cần no bằng chạy."
"Dây còn nguyên," Thất nói, khi thấy hắn đứng ở cửa bếp. "Ta sờ rồi, nó không tụt xuống phân nào."
"Thế thì nấu đi," Mặc nói, "hôm nay ngươi nấu một bữa thôi, nấu xong thì ra đứng chỗ vách bếp."
"Nấu xong thì ra vách bếp," Thất nhắc lại, rồi ngồi xuống thổi lửa.
Thất nấu, đổ nước tới đúng sợi dây gai mà không nhìn đi đâu khác, như sợ nhìn sang chỗ khác thì nước tự dâng lên. Cơm chín đều, mặt trên không sượng, và Ôn đại nương ngồi nắm cơm thành từng nắm bằng nắm tay, gói lá dong, đưa cho từng người, mỗi nắm nhỏ hơn hôm qua một chút mà không ai hỏi vì sao. Lau xin được nắm mấy nắm cuối, nhưng tay con bé nhỏ nên nắm nào cũng méo, cơm lòi cả ra ngoài lá.
Nắm cuối cùng méo nhất, và con bé đưa cho Mặc, ngẩng lên nhìn hắn một cái, và trong ngực hắn, Thẩm Chiêu không nói gì cho tới khi con bé quay đi.
Hắn ăn ngồi trên chân tấm bia nghiêng, mắt nhìn xuống dốc. Rồi hắn tháo ống tre ở thắt lưng, lấy một viên đan, nuốt, ngồi yên mà dẫn khí theo những vòng quen của tầng bảy, cho tới khi cái dòng ấm chạy đều từ bụng lên vai, chạy qua chỗ da non trên vai trái mà không vấp.
"Họ đứng dậy rồi," gã trai cao gầy nói từ đầu dây.
Mặt trời vừa lên thì sáu đốm sáng bắt đầu đi lên, không chạy, đi đều như người đi chợ sớm. Đi đầu là một gã vai rộng, áo xanh xắn tay, đốm lửa trên trán sáng gần trắng, quàng trên vai một cuộn xích sắt có cái móc ở đầu, và năm người sau mang dây thừng, một cây gậy dài đầu bịt móc, với hai cái cáng tre gấp.
"Họ mang cáng," Đỗ Nghi nói khẽ sau lưng hắn. "Người ta không vác cáng lên núi để chở người chết về."
Đỗ Nghi hô một tiếng nhà sông. Người già cầm dây dẫn tay đi trước, trẻ con đi giữa, theo sợi dây ra sau bếp tới vách đá lõm chân Kiếm đường, mười một người đi trong lặng im. Ba người đàn ông ở lại, gã trai cao gầy giữ đầu dây thanh chắn, hai người kia đứng cạnh hai chum nước, còn Thất đứng sát vách bếp, cạnh lối rút, mặt ra cổng, hai tay buông.
Gã vai rộng tới chỗ mô đất thì dừng lại nhìn xuống, thấy sợi dây ngang tầm gối, và bước qua, hai người sau gã cũng bước qua theo. Gã không nói gì, chỉ hất cằm về phía thanh chắn.
Một người áo xanh lên trước, đốm lửa trên trán cỡ hạt đậu, chừng tầng năm, cúi xuống chân cọc và thò tay định rút cái nêm.
Mặc đâm.
Châm vào mu bàn tay ấy, mũi dao vào rồi rút ngay như kim khâu chiếu, và gã kia giật tay về, ôm lấy, lùi một bước.
Người thứ hai không rút nêm mà vung cây gậy đầu móc qua đầu thanh chắn, móc vào vai áo người đàn ông đứng cạnh chum, kéo mạnh về phía mình, lôi người ấy đập ngực vào cây tre. Mặc bước lên, xoay hông, lưỡi dao lật trong lòng bàn tay, rạch ngắn qua mặt trong cẳng tay đang cầm gậy rồi thoát ra một bên. Cây gậy rơi xuống đất bên kia thanh chắn, và người đàn ông Lạc Thủy giằng được vai áo ra, ngã ngồi về phía trong.
Ở dưới, ba người còn lại nghe tiếng kêu thì chạy lên, chạy thẳng, không nhìn chân. Người đầu tiên vấp sợi dây ngang tầm gối, ngã sấp, người thứ hai giẫm lên lưng người thứ nhất mà ngã theo, cả hai lăn xuống bên kia mô đất, kéo theo một mảng đất khô, và người thứ ba phải dừng lại kéo hai người kia dậy.
Gã vai rộng không quay lại nhìn. Gã nhìn thanh chắn, nhìn cái nêm quay ngược, nhìn cái nút buộc bè ở đầu dây, như người ta nhìn một cái khoá mà mình không có chìa. Rồi gã lùi nửa bước, hít một hơi, đặt cả bàn tay phải vào giữa cây tre.
Không phải đẩy, mà là một chưởng.
Cây tre đòn gánh của Thất gãy làm hai ở đúng chỗ gã đặt tay. Cái nêm vẫn giữ chặt chân cọc, đúng như nó được đóng để giữ, nhưng nó đang giữ một cái cọc mà thanh chắn đã không còn. Nửa cây tre phía vách đất bật ngược vào trong, quật ngang người gã trai cao gầy đang nắm đầu dây, hất gã văng ra, lăn hai vòng trên nền sân rồi dừng ở mép sân phía dốc nam, chỗ đất đổ xuống thành vách.
Thất rời vách bếp, nhưng không chạy ra chặn cổng mà chạy tới mép sân, cúi xuống ôm lấy gã trai cao gầy bằng cả hai tay như ôm một bó lúa, quay lưng về phía cổng mà kéo người ấy vào, đúng cái việc ba hôm trước Thất đã tập đi tập lại, kéo người vào.
Gã vai rộng đã bước qua chỗ thanh chắn gãy. Gã thấy một tấm lưng to quay về phía mình, và tung chưởng thứ hai.
Chưởng vào sườn trái Thất.
Mặc nghe một tiếng mà cả đời hắn không muốn nghe lại, tiếng sắt lõm vào, trầm và đục, như ai nện một cái cọc xuống đất ướt. Thất không kêu. Thất không biết đau. Thất chỉ khuỵu một gối xuống, rồi gối kia, mà hai tay vẫn ôm, vẫn đẩy gã trai cao gầy vào phía trong thêm một sải nữa rồi mới buông.
"Kéo người vào, đừng ai đuổi xuống dốc," Mặc nói to, cho cả sân nghe.
Gã vai rộng gỡ cuộn xích trên vai xuống, quấn một vòng quanh cổ tay phải, để cái móc lủng lẳng, và không nhìn Mặc mà nhìn Thất đang quỳ, nhìn chữ 七 trên ngực giáp, đôi mắt sáng lên như mắt người đi chợ thấy món hàng đáng giá hơn mình tưởng.
"Cái này mang về được," gã nói với người phía sau, "nhẹ tay thôi, còn nguyên."
Mặc biết mình không đỡ được cái chưởng ấy, hắn đã tự viết điều đó vào sổ. Nhưng Đỗ Nghi với người đàn ông vừa bị móc vai đã ôm lấy nửa cây tre còn buộc ở cọc phía tấm bia, và cái nút buộc bè vẫn còn nguyên. Ông giật một cái, nút tuột, hai người xô nửa cây tre ấy ngang tầm gối gã vai rộng, đúng lúc gã bước tới chỗ Thất.
Gã khựng lại nửa nhịp. Chân gã vướng.
Mặc vào từ bên phải gã, phía cái tay quấn xích. Gã vung tay trái gạt ngang, Mặc cúi người, cú gạt chỉ sượt qua vai trái mà chỗ da non vẫn bật ra như ai giật một sợi chỉ khâu, và cả cánh tay trái hắn tê đi tới đầu ngón. Hắn không dừng. Hắn đã ở trong tầm. Hắn xoay hông, rạch ngắn vào mặt trong cổ tay phải gã, chỗ vòng xích không che, lưỡi dao mài vào mắt xích một tiếng rít, mẻ mất một miếng, rồi đi qua da, qua gân.
Cuộn xích tuột khỏi cổ tay, cái móc rơi xuống nền sân.
Gã vai rộng lùi ba bước, ôm cổ tay, và lần đầu tiên nhìn Mặc, nhìn cái khung đèn đen rỗng trên trán hắn, rồi nhìn con dao ngắn đã mẻ, như không hiểu hai thứ ấy đi cùng nhau thế nào.
Sau lưng gã, ba người đã lên tới mô đất, hai người kia vẫn ôm tay ở ngoài. Sau lưng Mặc, Đỗ Nghi và người đàn ông kia đã dựng nửa cây tre lên thành một cái chắn thấp, không ai chạy. Cái lối hẹp chỉ lọt hai người đi song song, và đứng giữa lối là một thằng cầm dao vừa châm một bàn tay, rạch hai cánh tay trong mười hơi thở.
Gã vai rộng nhìn hai cái cáng tre, nhìn người của mình, rồi nhìn xuống dốc. Gã giơ tay trái lên phẩy một cái.
"Ba người," Thẩm Chiêu nói, lần đầu tiên từ sáng. "Ngươi châm một bàn tay, rạch được hai cái tay, mà cái chưởng vào sườn Thất thì ngươi không với tới kịp."
Họ đi xuống, đi chậm. Gã bị châm mu bàn tay tự ôm tay mà đi, còn hai người bị rạch thì nằm lên chính hai cái cáng đã mang lên cho người khác, vì nhát rạch vào gân thì máu không tự cầm, và gã vai rộng nằm trên cáng rồi vẫn ngoái cổ nhìn lên. Cuộn xích có móc nằm lại trên nền sân, cây gậy đầu móc nằm lại bên kia thanh chắn gãy. Mặc đứng nhìn tới khi đốm sáng cuối cùng khuất sau cây gạo cụt rồi mới quay lại.
Gã trai cao gầy ngồi dậy ở mép sân, một bên mặt đã sưng lên, nhìn nửa cây tre gãy trong tay mình.
"Tôi giữ dây mà để nó gãy," gã nói.
"Dây không gãy, tre gãy," Mặc nói. "Cái nút của ngươi vẫn tuột đúng lúc ông Đỗ Nghi giật, không có nó thì ông ấy không xô được nửa cây tre kia vào chân gã."
"Mười một người đủ cả," Ôn đại nương gọi vọng ra từ vách đá lõm, "không ai vấp, đứa nhỏ nhất ngủ trên lưng mẹ nó từ đầu tới cuối."
Bốn người khiêng Thất qua bếp vào gian kho thóc, vì Thất nặng như một tảng đá. Đi ngang bếp, Thất đưa tay ra phía hai cái niêu, mấy ngón tay sờ tìm sợi dây gai, nhưng người khiêng đi nhanh quá, và tay Thất quờ vào khoảng không.
"Niêu," Thất nói, "còn ở đấy không."
Mặc bảo mấy người khiêng dừng lại ngay cạnh bếp. Hắn cúi xuống, tháo vòng dây gai trên cái niêu nhà, cái niêu ba bát, đặt sợi dây vào lòng bàn tay Thất rồi khép mấy ngón tay to ấy lại quanh nó.
"Còn," hắn nói, "hôm nay thì người khác trông."
Rồi hắn quay sang Đỗ Nghi, và Đỗ Nghi gật đầu, đi tới đứng cạnh hai cái niêu như người đứng vào chỗ cầm lái khi người lái ngã.
Gỡ tấm giáp sườn ra mất cả buổi trưa. Tấm sắt lõm một vết sâu bằng nắm tay, ấn thẳng vào thịt, khớp méo không tháo được, nên Mặc với gã trai cao gầy, một bên mặt sưng vù, phải nậy từng khớp bằng con dao mẻ và cái đục của người Lạc Thủy. Dưới tấm giáp, sườn Thất tím đen một mảng, hai cái xương sườn lệch hẳn khỏi chỗ, và chỗ da rách không chảy máu đỏ mà rịn ra thứ nước nhạt như nước rửa thịt.
Thất nằm im nhìn họ làm, mặt không nhăn.
"Đau không," Ôn đại nương hỏi.
"Không," Thất nói, và đó mới là cái đáng sợ.
Mặc nẹp sườn Thất bằng hai tấm ván sàn xe, quấn vải sạch, chặt mà không siết. Người không biết đau thì không biết lúc nào xương lệch thêm, nên Đỗ Nghi đặt một người ngồi cạnh Thất suốt ngày, hễ Thất định chống tay ngồi dậy thì đặt tay lên ngực mà ấn xuống. Hắn không cho Thất uống đan, vì đan bù khí cho người có lò, mà trong ngực Thất không còn lò nào cả.
"Cậu ấy kéo đúng người," Đỗ Nghi nói, lúc hai người rửa tay ở chum. "Ba hôm trước cậu dạy cậu ấy đừng đứng giữa lối, hôm nay cậu ấy không đứng giữa lối."
"Ta dạy hắn đứng bên lối," Mặc nói. "Ta không dạy hắn quay lưng ra cổng."
"Muốn kéo người vào thì phải quay lưng ra cổng, cậu ạ," ông nói. "Ở sông, ai kéo người ngã nước lên bè cũng phải quay lưng ra phía nước. Chưa ai kéo được người mà vẫn nhìn được con sóng sau lưng mình."
"Hắn còn bao lâu," Mặc hỏi khẽ, khi đã ra ngoài hiên.
"Ta thấy cái ngươi thấy," Thẩm Chiêu nói. "Ngươi thấy sườn gãy thì ta cũng thấy sườn gãy, ngươi đừng bắt ta đếm năm hộ ngươi."
Chiều, hắn ngồi ở góc bếp uống viên đan thứ hai, dẫn khí cho tới khi cánh tay trái thôi tê. Hai viên mang theo, hai viên đã dùng, và trong hộp gỗ dưới bệ lò còn chín.
Tối, Đỗ Nghi nấu phần gạo ông đã tách riêng từ sáng. Ông đứng trước cái niêu Lạc Thủy, nhìn cái vòng dây gai còn lại, rồi đổ nước tới đúng sợi dây, như Thất đã dặn. Cơm không chín đều, đáy cháy một mảng, mặt trên còn sượng một mảng.
"Nước thì tới đúng sợi dây," ông nói, cầm đũa xới thử, "mà lửa bên nào mạnh thì sợi dây không chỉ cho tôi được."
Mặc xới bát sau cùng, cạo nốt lớp cháy dưới đáy, rồi mang bát vào gian kho thóc, ngồi xuống cạnh chỗ Thất nằm. Thất vẫn nắm sợi dây gai trong tay, và hắn ăn ở đó, chậm, cho Thất nhìn thấy cái bát.
"Sượng," Thất nói, nhìn mặt cơm trong bát hắn rất lâu.
"Sượng," hắn nói, "mai ông Đỗ Nghi nấu lại, hôm đầu ngươi nấu cũng sượng thế này."
"Đáy bên trái mỏng hơn," Thất nói, mắt nhắm lại, "lửa bên ấy phải bớt, hôm qua ta quên dặn ông ấy."
Đêm, hắn mở sổ dưới ngọn đèn dầu nhỏ trong bếp. Hũ gạo không còn hạt nào, tiền tám đồng, đan chín viên, thanh chắn gãy, cây tre đòn gánh của Thất thành hai nửa, và con dao mẻ một miếng to bằng móng tay. Hắn ghi việc đầu tiên của ngày mai là xuống núi xem đường còn bị chặn không, rồi mua một chuyến gạo.
"Ngươi không viết chữ yên," Thẩm Chiêu nói.
"Ta viết việc," hắn nói. "Viết chữ yên thì mai ta ngủ dậy muộn, mà mai thì cả nhà không có gì ăn sáng."
"Thế thì viết thêm một việc nữa," nàng nói, "mua cây tre khác. Thất mà dậy được thì hắn sẽ hỏi đòn gánh của hắn đâu."
Ngoài hiên, mười bốn ngọn đèn Lạc Thủy vẫn sáng dưới chụp. Trong bếp, cái chỗ Thất vẫn ngồi canh lửa mỗi tối để trống, và cái niêu ba bát không còn vòng dây gai quanh thân.

