Sáng ngày một trăm năm mươi, bếp nhóm lửa mà không có gạo, vì Đỗ Nghi đun nước để rửa vết rách trên sườn Thất, và mười lăm người ngồi quanh hiên nhìn cái nồi nước sôi như nhìn một nồi cơm chưa ai bỏ gạo vào.
Mặc buộc tám đồng vào thắt lưng, gói bốn viên đan trong lá dong, và xuống núi cùng Đỗ Nghi trước khi trời sáng rõ. Tới khúc quanh đầu tiên thì hắn dừng, ngồi sau bụi sim, nhìn xuống cây gạo cụt rất lâu, và dưới gốc gạo không còn ai đứng. Ở đầu bến, một chiếc bè buộc sát quầy cờ xanh đang chất người lên, một người nằm trên cái cáng tre gấp, cái cáng thứ hai bỏ trống dựng cạnh mui, vì gã vai rộng đã ngồi dậy ở mũi bè, cổ tay phải quấn vải dày tới khuỷu. Một người áo xanh khác cưỡi ngựa đi trước bè, dọc con đường men sông về phía thượng nguồn, không quay đầu.
"Họ đi hết rồi à," Đỗ Nghi hỏi, ngồi xổm xuống cạnh hắn mà thở.
"Mới đi một nửa," Mặc nói, "người bị thương thì về, người cưỡi ngựa thì đi báo. Quầy kia vẫn còn hai người ngồi, mà người đo đường thì ta chưa thấy về."
"Thế cậu có xuống chợ không, hay mình quay về nấu nước tiếp."
"Xuống," hắn nói, "nhưng ông đi lối khác ta, tới hàng gạo thì gặp nhau. Hai người đi một lối thì một cái cáng là đủ."
Đỗ Nghi nhìn hắn, rồi cười, lần đầu từ hôm qua, cái cười của người già nghe một câu đùa mà biết nó không hẳn là đùa.
Chợ đã khác. Hắn thấy ngay khi đi qua dãy hàng thuốc, khi mấy người bán quay lại nhìn, không phải nhìn trán hắn như hồi đầu mùa, mà nhìn con dao ngắn ở thắt lưng. Gã râu quai nón đang ngồi uống nước ở đầu lều, thấy hắn thì đứng dậy, lau tay vào ống quần, đi tới.
"Sáng qua có bè chở hai người bị rạch tay xuống bến," gã nói khẽ, "cả chợ bảo trên núi có thằng cầm dao đẩy sáu người xuống dốc. Ta bảo cả chợ, sáu người là ít, ta uống đan của nó rồi."
"Họ tự đi xuống," Mặc nói, "không ai đẩy ai, ta chỉ đứng ở cổng nhà ta."
"Thì tự đi xuống," gã nói, "nhưng đi xuống mà mang theo hai cái cáng có người nằm thì cũng gần như bị đẩy."
Hắn thuê một sạp đầu dãy cho một phiên, hai đồng, đặt bốn viên lên tấm lá. Gã râu mua một viên, bà bán cá khô mua cho chồng một viên, và hai viên còn lại một người kéo bè thượng nguồn mua cả, không trả giá. Bốn mươi tám đồng nằm trong túi hắn chưa đầy một khắc.
"Gạo mùa mưa qua rồi, bè thượng nguồn xuống đều," bà hàng gạo nói khi hắn tới, "nhưng tôi vẫn bán cậu giá cũ, mười vốc một đồng, vì hôm kia thằng nhà tôi gánh tới chân núi rồi phải gánh về, tôi nợ cậu cái chuyến ấy."
"Bà không nợ gì ta cả," Mặc nói, đếm tiền ra lòng bàn tay.
"Thế thì tôi nợ cái bao gạo," bà nói, "nó đi tới chân núi rồi đi về, thế là nó nợ."
Hắn mua bốn trăm vốc, bốn mươi đồng, và bà bảo thằng con với ba người gánh thuê đưa tới chân núi, còn trên dốc thì người nhà tự gánh. Ở hàng thuốc, hắn mua hai mẻ, tám đồng, rồi mua thêm một xấp vải trắng với một vò rượu trắng nhỏ để rửa vết thương, bốn đồng. Ông thợ rèn cuối dãy cầm con dao mẻ của hắn lên soi, xoay cái chỗ mẻ ra nắng.
"Cái này không mài cho hết mẻ được," ông nói. "Mài cho mép mẻ bớt sắc, lưỡi ngắn đi một chút, chuôi thì quấn lại, hai đồng."
"Lưỡi ngắn đi bao nhiêu," Mặc hỏi, vì hắn đã quen độ dài ấy chín năm.
"Bằng cái móng tay," ông nói, "cậu chém xích thì phải trả cho xích chứ."
Túi hắn trống khi hắn ra khỏi chợ, và hắn không ghi bốn trăm vốc là của trận hôm qua, hắn ghi bán bốn viên, mua bốn trăm vốc, và tám đồng mang xuống đã thành không.
Bữa trưa ngày ấy Đỗ Nghi nấu, và Thất nấu cùng ông từ chỗ nằm.
Họ kê chỗ nằm của Thất ở góc kho thóc gần cửa bếp nhất, để từ đó Thất nghiêng đầu là thấy được hai cái niêu. Người ngồi canh đặt tay lên ngực Thất mỗi lần Thất định nhổm dậy, và Thất không nhổm nữa, chỉ nghiêng đầu, mắt dõi theo tay Đỗ Nghi.
"Bớt củi bên trái," Thất nói, giọng khàn mà rõ. "Đáy bên ấy mỏng."
Đỗ Nghi rút một que củi bên trái ra, cẩn thận như rút một cái nêm.
"Thêm một que bên phải," Thất nói, "rồi chờ. Nghe tiếng nước sôi lục bục thì rút hết lửa ra, chỉ để than."
"Lục bục là thế nào," Đỗ Nghi hỏi.
Thất nghĩ một lúc rất lâu, rồi chụm môi lại thổi ra mấy tiếng phì phì, giống tiếng nước sôi tới mức đứa nhỏ ngồi ở hiên bật cười, và Đỗ Nghi nghiêm mặt gật đầu, như nhận một lời dặn của người lái bè cũ.
Nồi cơm ấy chín đều, và dưới đáy có một lớp cơm cháy mỏng, vàng, không đen, giòn mà không đắng, và Đỗ Nghi xới đủ mười sáu bát, bát Thất xới trước, bát mềm nhất, rồi mới cạy lớp cháy lên. Ông bẻ một miếng to bằng bàn tay, đi ra ngoài hiên, đưa cho Mặc, người vẫn đang đứng chờ chưa xới bát mình.
"Nấu được mười sáu phần, tôi mới biết cậu ấy đã chạy bao nhiêu lần," ông nói.
Mặc cầm miếng cơm cháy, nhìn vào góc kho thóc, nơi Thất đã nhắm mắt, sợi dây gai vẫn nắm hờ trong tay.
Từ hôm ấy, người Lạc Thủy tự chia nhau việc quanh chỗ nằm của Thất mà không ai phải giao. Ôn đại nương giữ lịch thay vải, sáng một lần, tối một lần, rửa bằng nước đun sôi để nguội rồi mới lau rượu, hai người già thay nhau ngồi canh, đặt tay lên ngực Thất mỗi lần Thất quên mình đang gãy, và gã trai cao gầy, mặt vẫn còn sưng một bên, nhận luôn phần gánh nước lẫn phần bổ củi của Thất mà không nói một lời nào về cây tre gãy. Mặc giữ ca đêm, ngồi ở cửa kho thóc tới gần sáng, rồi ngủ bù lúc trưa.
"Nàng có thấy hắn khá hơn không," hắn hỏi, đêm thứ hai, lúc Thất đã ngủ.
"Ta thấy hắn ăn hết bát," nàng nói. "Còn khá hơn hay kém đi mấy năm thì ta không thấy, mà ngươi cứ hỏi mãi thì ta cũng không thấy thêm được."
Ngày một trăm năm mươi mốt, hắn đi tìm ván kê. Nằm sát nền đất thì hơi ẩm bốc lên, mà vết rách của Thất cần khô. Kho thóc không còn tấm ván thừa nào, ván sàn xe đã thành nẹp, nên hắn với Đỗ Nghi ra cái góc nền sập cạnh Kiếm đường, chỗ một cái giá binh khí cũ đổ xuống từ trăm năm trước, đè lên một đống gạch vụn. Họ nhấc gạch từng viên một, xếp thành đống bên cạnh, viên nào còn nguyên thì để riêng cho ngày dựng bếp.
Dưới lớp gạch thứ ba có một hòn đá phẳng đặt nghiêng, vẫn còn kê dưới chân cái giá đổ. Mặc lật nó lên định lấy làm chân giường. Hắn dừng tay. Mặt dưới hòn đá có chữ, không nhiều, chỉ ba dòng chữ cổ, nhỏ, bên cạnh ba nét khắc như ba vết mũi dao, và mép hòn đá bị gãy thành một đường răng cưa. Hắn ôm hòn đá ra Kiếm đường, đặt sát chân tấm bia Châm, xoay đi xoay lại cho tới khi đường răng cưa ấy khớp vào một chỗ mẻ dưới đáy bia. Không khớp trọn, vì trăm năm đã mài mòn mất mấy chỗ, nhưng nét khắc thì cùng một bàn tay, cùng một cách bỏ dao ở cuối nét.
"Kiếm phổ ở ngăn tây thì thành bụi cả rồi," hắn nói. "Cái này không nằm ở ngăn tây."
"Người ta lấy nó kê chân giá," Thẩm Chiêu nói. "Chắc ngày ấy chẳng ai nghĩ có ngày đá kê chân lại đáng giá hơn cái giá."
Mất thêm một buổi chiều nữa mới nhấc hết gạch, lật được cả mặt đá ra ánh sáng. Ca canh hầm phải đổi, người Lạc Thủy đứng thay chỗ hắn. Hắn lấy than chà lên một tấm vải trắng còn thừa, hong cho khô, rồi mang vải vào ngồi dưới hiên.
"Nàng đọc cho ta," hắn nói, trải tấm vải lên đầu gối, "đọc chậm thôi, ta chép lại."
Nàng đọc chậm, từng chữ, như người ta đọc cho một đứa trẻ chép.
"Dòng một, kim vào, chân chưa đi. Dòng hai, chân đi nửa bước, kim về chỗ cũ. Dòng ba, chân đi nửa bước nữa, kim về chỗ cũ lần nữa. Ba kim, một lỗ." Nàng dừng một lúc. "Còn một chữ ở cuối, ta đọc là không, hoặc là chớ, vì đá mòn mất nửa rồi."
"Không có câu nào bảo dồn thêm sức vào à," hắn hỏi.
"Không có chữ nào nói thêm sức," nàng nói. "Chỉ nói chỗ cũ, ba lần cùng một chỗ trong một nhịp, mà chân thì đã đi tới chỗ khác, thế thôi. Ngươi có bao nhiêu sức thì vẫn chừng ấy sức, chỉ là nó không tản ra ba chỗ."
Hắn cắm một cái cọc thấp ở góc Kiếm đường, lấy than vẽ một chấm to bằng hạt đậu lên đó, và thử.
Lần thứ nhất, mũi dao vào đúng chấm, và lần thứ hai, chân bước nửa bước sang trái, cổ tay xoay theo, mũi dao về được mép chấm. Lần thứ ba, chân bước tiếp, và mũi dao đi ra ngoài chấm một đốt ngón tay, cắm xiên vào thớ gỗ, mắc lại. Hắn rút ra thì cả cổ tay tê rần lên tận khuỷu.
Hắn thử lại cho tới khi trời tối, và lần nào cũng thế. Nhát một đúng. Nhát hai sát. Nhát ba lệch.
"Ngươi đọc đúng cả ba dòng," Thẩm Chiêu nói, "cổ tay ngươi chỉ đọc được hai."
Ngày một trăm năm mươi hai và một trăm năm mươi tư, hắn đứng lò hai mẻ thuốc. Đỗ Nghi xếp người giữ ca nước quanh hầm như mọi lần, hai hàng, chum đầy, rãnh nước vẫn chảy, và con thú không tới. Mỗi mẻ bốn viên, tám viên gói lá dong cho vào hộp gỗ. Sau mỗi mẻ hắn nằm ngủ một giấc dài, vì đứng lò xong thì cái bấc đen cạn tới mức đi một vòng công cũng thấy nặng.
Ngày một trăm năm mươi lăm, sáu ngày sau trận, hắn thử lên tầng tám.
Hắn đã tu đủ những vòng chậm mấy hôm nay, đã thấy chỗ nghẽn ở đường khí phía trên vai, cái chỗ mà con đường tầng bảy đi tới thì dừng lại như dòng nước gặp đập. Hắn uống một viên đan, ngồi xếp bằng trong hầm, dẫn khí lên, từ từ, tới sát chỗ nghẽn thì đẩy.
Vai trái hắn co lại, không phải vì đau, mà vì từ hôm trận đến giờ, mỗi lần phải dồn sức là cái vai ấy tự gồng lên trước, như một người sợ bị đánh lại vào chỗ cũ. Hắn gồng vai, và luồng khí đang đi lên bị cái vai gồng ấy chặn mất một nửa. Nửa còn lại đâm vào chỗ nghẽn, không qua, tản ra khắp ngực như nước hắt vào vách.
Hắn ngừng lại. Hắn ngồi im chờ cho khí tán hết, không nôn máu, chỉ mệt, và một viên đan đã đi mất.
"Chưa qua thì ghi là chưa qua," hắn nói, nói với chính mình nhiều hơn với nàng.
"Ngươi biết vì sao chưa qua không," nàng hỏi.
"Tại cái vai," hắn nói, "ta gồng vai thay cho dẫn khí. Cái vai nó sợ chứ không phải ta sợ."
"Cái vai là của ngươi," nàng nói, "nó sợ thì là ngươi sợ, đừng đổ cho nó."
"Thế thì mai sửa từ cái vai," hắn nói.
"Mai nhớ ngủ trước đã," nàng nói, "ngươi thức mấy đêm canh Thất rồi, mà người thức hai đêm mà đòi lên tầng thì trời cũng phải cười."
Ngày một trăm năm mươi sáu hắn không thử gì cả, chỉ ngủ tới trưa, dậy thay vải cho Thất, rồi ra Kiếm đường tập xoay vai, chậm, không cầm dao, chỉ đưa cánh tay lên xuống cho tới khi nó thôi tự gồng mỗi lần hắn hít sâu. Buổi tối Đỗ Nghi nấu, Thất dặn từ chỗ nằm, cơm lần này không cháy chút nào, và Mặc ăn bát cuối, bát có cái vị khói nhẹ mà Thẩm Chiêu bảo là vị của người đang học.
Trước khi ngủ, hắn treo tấm vải chà lên vách Kiếm đường, cạnh cái cọc thấp có chấm than bị đâm lỗ chỗ xung quanh mà giữa chấm thì chỉ có một vết. Dưới tấm vải, hắn lấy than viết lên vách mấy chữ "đường ba còn lệch", rồi mở sổ đan, dưới dòng mười hai viên, viết thêm "tầng tám chưa qua".
Qua cửa kho thóc, hắn thấy Thất đang chống tay xuống chiếu, cố nhổm người lên, lần đầu tiên từ hôm trận. Người ngồi canh đã ngủ gục bên cạnh, và Thất nhổm được nửa người, rồi dừng, rồi từ từ nằm xuống lại, không phải vì đau mà vì cánh tay chống đã run lên mà Thất không hiểu vì sao nó run.
Mặc không vào mà đứng ở cửa, nhìn Thất nằm xuống, rồi đi ra Kiếm đường, đâm vào cái chấm than trong bóng tối cho tới khi vai mỏi. Cái vai của hắn thì mai hắn sửa. Còn cánh tay của Thất phải sửa từ đâu, cả cái núi này chưa ai biết.

