Sáng ngày một trăm năm mươi bảy, Mặc nhổ cái cọc thấp ở góc Kiếm đường lên, cắm lại cho cao tới ngang vai, rồi vạch lên đó ba vệt than nhỏ chồng lên nhau ở đúng một chỗ, to bằng hạt đậu.
Cái cọc thấp bắt hắn phải cúi, mà cúi thì vai trái kéo căng, kéo căng thì nó lại tự gồng như hôm thử tầng tám. Cọc ngang vai thì hắn đứng thẳng được, đâm thẳng được, và cổ tay không phải gập xuống mỗi lần chân bước. Hắn tập chậm, từng đường một, đường một rồi nghỉ, đường hai rồi nghỉ, và hễ thấy mũi dao bắt đầu lệch ra khỏi vệt than là dừng, ngồi xuống uống nước, không cố thêm nhát nào.
"Hôm qua ngươi đâm mười nhát trong bóng tối," Thẩm Chiêu nói. "Hôm nay ngươi đâm ba nhát rồi ngồi. Ta không biết nên khen hay nên lo."
"Mười nhát hôm qua lệch cả mười," hắn nói, "còn ba nhát hôm nay thì chỉ lệch một, nàng cứ chọn cái nào thì chọn."
Ba ngày đầu, hắn chỉ làm có thế, đâm chậm, ngủ đủ, ngồi tu những vòng quen của tầng bảy vào lúc không đứng lò, và mỗi lần ngồi hắn để ý cái vai trước tiên, để nó buông xuống như một cái gàu treo, rồi mới dẫn khí. Sáng ngày một trăm sáu mươi, hắn uống một viên đan trong hầm, dẫn khí lên tới sát chỗ nghẽn trên vai, và lần này cái vai không gồng. Luồng khí đi lên trọn vẹn, chạm vào chỗ nghẽn, dừng một hơi, hai hơi, ba hơi, rồi đẩy qua như nước tràn qua một bờ đất đã bị ngâm mềm từ trước.
Hắn ngồi rất lâu sau đó, không dám đứng dậy, cho tới khi con đường mới chạy thêm một vòng trọn nữa mà không tản ra chỗ nào.
"Tầng tám," hắn nói, khẽ, như sợ nói to thì con đường ấy tản mất.
"Ta thấy nó qua," nàng nói, "một lần hỏng, sáu ngày ngủ, bốn ngày đâm chậm, một viên đan, ngươi ghi đủ chưa."
"Ghi rồi," hắn nói, "ghi cả cái vai."
Hai mươi bốn ngày ấy trôi theo một nhịp mà kể ra thì ngày nào cũng giống ngày nào, cứ cách hai ba hôm hắn xuống chợ mua hai mẻ thuốc, vì bà bán thuốc chỉ có từng ấy rễ đỏ mỗi lần bè xuống, đan ra lò đợt này thì bán cho khách quen để mua thuốc đợt sau, ngày đứng lò thì không tu sâu, và gạo lên núi lần nào cũng có hai người Lạc Thủy xuống tận chân núi gánh. Cuối kỳ, trả đủ gạo rồi mà sổ vẫn dư hơn hai trăm đồng, lần đầu tiên từ ngày lên núi, và Đỗ Nghi nhìn con số ấy lâu hơn mọi dòng khác, vì người Lạc Thủy chưa bao giờ có một con số dư để mà lo.
Mỗi chuyến xuống, hắn đều ngồi ở khúc quanh đầu tiên một lúc rồi mới đi tiếp. Quầy cờ xanh vẫn mở, lúc hai người, lúc ba, và có hôm hắn thấy người áo xanh cầm sào tre đi dọc bờ sông, nhưng không ai đứng chặn ở cây gạo cụt nữa.
"Họ đang làm gì," Đỗ Nghi hỏi, một chiều đi cùng.
"Họ chờ người," Mặc nói, "vì sáu người không mang được ai về, thì lần sau họ không gửi sáu người nữa."
Chuyến thứ ba, hắn mua thêm một cây tre đực thẳng, to bằng cổ tay, với hai cuộn dây gai mới và một tấm ván dày làm chỗ kê thử, hết sáu đồng. Cây tre ấy hắn không dùng làm thanh chắn. Hắn vác nó lên, đặt dựa vào vách cạnh chỗ Thất nằm.
"Đòn gánh của ngươi," hắn nói, "cây cũ thì gãy làm hai rồi, ta để một nửa làm cọc."
Thất nhìn cây tre rất lâu, đưa tay sờ dọc thân nó, chỗ nào có mắt thì dừng lại, như đếm đốt. Rồi Thất gật đầu.
"Ta chưa gánh được," Thất nói, tay vẫn đặt trên một mắt tre.
"Chưa," Mặc nói, "thì nó đứng đây chờ, tre không biết sốt ruột."
Thức ba hỏng theo một cách mà ai đứng xem cũng thấy được. Hắn đứng trước cái cọc ngang vai, đâm nhát một vào vệt than, chân đi nửa bước, đâm nhát hai, và nhát hai bây giờ đã vào được mép vệt. Nhưng tới nhát ba, chân đi nửa bước nữa thì cả người hắn xoay theo chân, và mũi dao đi theo người, ra ngoài vệt đầu một đốt tay, lần nào cũng thế, như có một sợi dây vô hình kéo mũi dao về phía hắn vừa bước tới.
Đỗ Nghi đứng xem nhiều buổi, rồi một hôm ông mang ra một sợi dây bè, buộc vào đầu cọc.
"Ở bè, người ta không tập lái trên nước đứng," ông nói. "Cậu đâm cái cọc đứng yên thì cậu chỉ học được đâm cái cọc đứng yên, chứ người ta thì không đứng yên cho cậu đâm, để tôi kéo, cậu đâm theo."
Lần đầu ông kéo, cái cọc nghiêng sang trái. Mặc đuổi theo nó, và nhát thứ ba của hắn không chạm vào vệt than mà chém đứt sợi dây bè ở ngay trên đầu cọc. Đỗ Nghi ngã ngồi xuống đất, tay vẫn nắm đoạn dây đứt.
"Ông có sao không," Mặc hỏi, vứt dao xuống mà đỡ ông dậy.
"Tôi không sao," ông nói, nhìn đầu dây đứt gọn, "nhưng cái dây thì sao rồi. Cậu chém trúng chỗ cậu không nhắm, mà chỗ cậu nhắm thì không chạm."
Họ bỏ sợi dây ấy đi, nối lại sợi khác, và Mặc tự sửa cách tập. Hắn đâm cọc đứng cho tới khi ba vết thật sự chồng lên nhau, một ngày được một lần, rồi hai ngày được ba lần, và chỉ khi đó mới bảo Đỗ Nghi kéo, kéo nhẹ, kéo chậm, rồi mỗi ngày nhanh hơn một chút. Có hai buổi tập dài tới mức cạn cả khí, hắn uống một viên hồi khí, mỗi buổi một viên, uống xong thì ngồi dẫn cho trọn rồi mới cầm dao lại, không uống giữa hai nhát.
Trong lúc ấy, người Lạc Thủy tập một việc khác.
Sau trận hôm ấy, Mặc đã đi một vòng quanh núi, và hắn thấy ngoài chỗ hẹp ở cổng thì còn hai lối khác người lạ có thể lên được nếu chịu leo, một lối men theo dốc nam qua vườn thuốc, một lối luồn qua bụi tre sau kho thóc. Sáu người thì đi một lối, nhưng nhiều người hơn thì sẽ chia ra. Đỗ Nghi chia người Lạc Thủy thành hai tốp, mỗi tốp giữ một lối bằng mấy tấm ván và hai sợi dây. Gã trai cao gầy quấn đầu dây ba vòng quanh một gốc cây sát lối, như hôm giữ xe trên dốc, để chỉ một người ngồi giữ mà tấm ván vẫn đứng, còn những người khác rảnh tay. Họ tập kéo ván ra chắn, tập rút về khi có người ngã, và tập chừa một khoảng trống sau lưng để người đưa nước và người kéo người bị thương đi qua.
Lần tập thứ ba, cả hai tốp cùng dồn ra lối dốc nam vì nghe Đỗ Nghi hô ở phía ấy, và lối sau kho thóc bỏ trống. Mặc đi vòng qua bụi tre, vào tận giữa sân mà không ai thấy, đặt tay lên vai Ôn đại nương đang cầm gàu.
"Bỏ lối sau thì kéo được một người, mất cả đường về," Đỗ Nghi nói tối hôm ấy, ngồi gạch lại lịch trên trang hai cột.
Ông sửa lịch theo người thật, không theo người mình muốn có. Gã trai cao gầy với hai người khoẻ nhất giữ lối dốc nam, ba người khác giữ lối bụi tre, người già và Ôn đại nương đứng giữa sân lo nước với vải, Lau với mấy đứa nhỏ đi theo dây ra vách đá. Không ai học trận pháp, vì không ai biết trận pháp. Họ học đứng đúng chỗ của mình.
"Họ chặn được người theo hầu," Mặc nói với Đỗ Nghi, khi hai người đi kiểm lại lối bụi tre. "Họ không chặn được một chưởng Trúc Cơ. Ông đừng để ai đứng trước chưởng ấy."
"Tôi biết," ông nói, "người Lạc Thủy biết nước nào thì chống bè, nước nào thì buộc bè vào bờ mà ngồi chờ."
Thất ngồi dậy được vào khoảng ngày thứ mười của kỳ ấy, ngồi dựa lưng vào vách, nẹp ván vẫn quấn quanh sườn. Từ hôm ngồi dậy được, Thất bảo gã trai cao gầy mang tới một khúc gỗ với mấy thanh tre, rồi ngồi chỉ cho gã đóng một cái ghế, ghế thấp, có tựa lưng, chân choãi ra như chân con cua, và gã trai đóng mất hai buổi mới xong. Thất ngồi lên thử, lắc người sang trái, sang phải, nhổm lên ngồi xuống mấy lần.
Bữa tối hôm ấy, Mặc đợi mọi người xới xong, đứng định ăn ở bậc bếp như thường lệ, thì Thất lấy cái thìa gõ hai tiếng vào chân ghế, rồi chỉ cái ghế đã được kê sát vách, cạnh chỗ Thất ngồi.
"Ghế này không lung lay," Thất nói. "Ta thử rồi, ta lắc mười lần."
"Ghế ấy của ngươi," Mặc nói, "ngươi bảo người ta đóng thì ngươi ngồi."
"Ta có chiếu," Thất nói, nói chậm như sợ quên mất chữ, "ngươi tập xong thì vai đau, mà ngồi bậc bếp thì phải cúi, ghế này có lưng."
Mặc ngồi xuống ghế, tựa lưng vào thanh tre, và lần đầu tiên từ hôm vai bị chưởng quệt, hắn ăn hết một bát cơm mà không phải xoay vai lần nào.
Khoảng ngày một trăm bảy mươi lăm, ở khúc quanh đầu tiên, hắn thấy người ấy.
Một chiếc bè lớn có mui cập bến, và từ bè bước xuống một đoàn chừng mười người áo xanh, khác đoàn sáu người hôm trước. Người đi đầu mặc áo xanh sẫm hơn, cổ áo thêu chỉ trắng, vác trên vai một cây thương ngắn, cán chỉ dài hơn sải tay, mũi thương bọc vải. Tóc người ấy buộc gọn bằng một dải vải xanh, và giữa trán, không che, là một đăng ấn mà Mặc chưa từng thấy rõ đến thế. Không phải đốm, mà là một ngọn lửa đứng thẳng, có đế bên dưới như ngọn lửa trên một cái đĩa đèn, sáng chắc và đều.
"Trúc Cơ," Thẩm Chiêu nói, "ngọn có đế thì là Trúc Cơ, còn đầu hay cuối Trúc Cơ thì ta không đọc được từ xa thế này."
Người ấy không vào quầy cờ xanh ngay. Người ấy bảo người theo hầu cắm một cái cọc gỗ to bằng bắp đùi xuống bãi đất cạnh bến, rồi tháo vải bọc mũi thương, và đánh cọc ấy. Mặc nằm sau bụi sim xem hết.
Lối đánh của người ấy đơn giản, ép thẳng, mũi thương đi thẳng vào cọc rồi rút về rất nhanh, rút về thì đầu thương luôn dừng ở trước cổ, che cổ. Một đòn thẳng. Cọc gỗ nứt dọc. Nhưng khi người ấy đổi hướng, từ đâm thẳng sang quét ngang, cổ tay cầm thương phải xoay một vòng ngắn, và trong nửa nhịp ấy, mặt trong cổ tay mở ra, không có gì che, chỉ nửa nhịp thôi, rồi thương lại về trước cổ.
Mặc không biết tên người ấy, không biết tầng, chỉ biết cái mắt hắn thấy. Về núi, hắn mở sổ, vẽ một cổ tay với một vòng xoay ngắn, đánh dấu chỗ mặt trong, và viết dưới hình mấy chữ "nửa nhịp, khi đổi hướng".
Buổi tập cuối của kỳ ấy, Đỗ Nghi kéo cọc mà không báo trước. Ông kéo sang phải, đúng lúc Mặc đang đâm nhát hai, và cái cọc bật sang một bên như con cá giãy. Nhanh quá. Mặc không đuổi theo cọc, hắn đổi chân, bước nửa bước về phía cọc vừa nghiêng tới, và đưa mũi dao về đúng chỗ vết đầu, không phải chỗ vết đầu đã từng nằm mà chỗ nó đang nằm.
Ba vết vào một.
Một lỗ. Không ai nói gì trong một hơi thở. Rồi gã trai cao gầy vỗ tay, Ôn đại nương vỗ theo, hai đứa nhỏ đang ngồi xem thì nhảy lên. Mặc nhìn cái lỗ duy nhất trên vệt than, sâu hơn mọi lỗ khác, rồi bảo Đỗ Nghi kéo lại.
Lần thứ hai hụt, nhát ba lệch ra ngoài. Lần thứ ba cũng hụt.
"Một lần trong ba," Đỗ Nghi nói, cuộn dây lại. "Ở bè, lái được một lần trong ba qua thác thì chưa ai dám giao bè cho cậu, nhưng ai cũng bắt đầu nhớ mặt cậu."
Người Lạc Thủy vẫn vỗ tay xong mới thôi, rồi gã trai cao gầy cùng một người nữa đi tới dựng cái cọc lên lại, buộc lại dây, như dựng lại một cái cột buồm vừa bị gió quật, không ai bảo thôi tập.
Lau chạy ra với bát nước, đưa cho hắn bằng hai tay, ngẩng lên nhìn hắn một cái rồi chạy về chỗ mấy đứa nhỏ.
"Ở tông cũng có một đứa đưa nước cho người tập kiếm bằng hai tay như thế," hắn nói khẽ, khi con bé đã chạy xa.
"Đừng nhắc nó bằng cái giọng ấy," Thẩm Chiêu nói, và trong giọng nàng không còn chút gì để đùa. "Đêm ấy ngươi đếm ba hơi thở cho ta, và nó trả cho ba hơi ấy. Ngươi không được nhớ nó như nhớ một cái bát nước."
Hắn không đáp. Tới tận tối, hắn hỏi nàng hai lần về cái cọc, và nàng không trả lời lần nào.
Ngày một trăm bảy mươi tám, hắn muốn thử tầng chín. Hắn đã tu đều suốt mười tám ngày, đã thấy chỗ nghẽn kế tiếp ở đường khí đi qua cổ, và hắn nghĩ một lần ba vết vào một nghĩa là tay hắn đã vững. Hắn uống một viên, ngồi xuống, dẫn khí, và luồng khí lên tới cổ, chạm vào chỗ nghẽn mới, và ngay lúc ấy thì đoạn đường tầng tám ở dưới, đoạn hắn mới đi được mười tám ngày, rung lên rồi tản mất một khúc, như cây cầu tre mới bắc mà đã cho cả đoàn người đi qua, nên hắn phải ngừng.
"Tầng chín chưa được," hắn nói, ghi vào sổ, "từ giờ đừng tính nó vào trận."
"Ngươi tính nó vào trận từ lúc nào," nàng hỏi.
"Từ hôm ta thấy cái cọc ở bến nứt dọc."
"Thế thì ghi thêm một dòng," nàng nói. "Mất một viên vì nhìn cái cọc của người khác."
Hắn ghi đúng như thế, và hai ngày cuối kỳ hắn không thử gì, chỉ ngủ, ăn, đâm cọc chậm, ngồi tu những vòng của tầng tám cho chúng chắc lại.
Tối ngày một trăm tám mươi, hắn đi xuống khúc quanh lần cuối trong kỳ. Ở bãi đất cạnh bến, người của đoàn mới đang dựng lều, không phải lều chợ dựng sáng tháo chiều mà là lều có cột chôn sâu, có mái lợp cói, có bếp đắp bằng đất, và người cầm thương ngồi trước một cái lều như thế, lau mũi thương bằng một tấm vải trắng. Người ấy chưa lên núi, nhưng người ấy đã quyết định chờ.

