Sáng ngày một trăm tám mươi mốt, Mặc lật sang trang hai cột, và bên cạnh lịch lò do Đỗ Nghi giữ, hắn kẻ thêm một cột thứ ba, cột của chính hắn.
Ngày nào đứng lò thì cột ấy ghi ngủ. Ngày nào không đứng lò thì ghi tu, và chỉ những ngày ấy mới được dẫn khí tới chỗ nghẽn ở cổ. Hắn gạch bỏ hai chữ "thử tầng" mà hắn đã lỡ viết vào một ngày đứng lò ở cuối tháng trước, gạch bằng một nét thẳng, chậm, như gạch tên một người khách xin thôi mua.
"Cậu kẻ thêm cột thì sổ hết chỗ," Đỗ Nghi nói, ngồi xuống cạnh hắn, "mà tôi thì cũng có việc muốn kẻ thêm. Tiền ăn với tiền trận, tôi muốn để hai túi riêng."
"Ông nghĩ ta sẽ tiêu lẫn," Mặc hỏi.
"Tôi nghĩ một hôm nào đấy gạo hết đúng lúc cậu đang cần đan," ông nói, "và hôm ấy cậu sẽ lấy đan đi đổi gạo, vì cậu là người ăn sau cùng. Hai túi thì cậu phải hỏi tôi trước khi lấy."
Từ hôm ấy có hai túi vải treo ở hai cái đinh khác nhau trong bếp, một túi Đỗ Nghi giữ, đựng tiền gạo và tiền dây, một túi hắn giữ, không đựng tiền mà đựng những viên đan đã gói lá, để riêng cho ngày người cầm thương lên dốc.
Hai mươi tám ngày sau đó lại trôi theo cái nhịp của kỳ trước, nhưng chặt hơn, bảy phiên chợ thì hắn đi sáu, mua thuốc, bán đan, gánh gạo, mua thêm dây thay với mấy tấm ván dày làm chắn bên, và lần nào trước khi qua cây gạo cụt hắn cũng ngồi ở khúc quanh đầu tiên một lúc. Phiên hắn bỏ là hôm thấy người áo xanh cầm sào đi lên lối dốc nam, đo từng đoạn, đứng nhìn vườn thuốc rất lâu rồi mới quay về, và hôm ấy hắn ngồi nhà mà đâm cọc, không xuống, không bán, không mua.
"Ngươi bỏ một phiên thì mất cả trăm đồng," Thẩm Chiêu nói, cái hôm hắn ngồi nhà.
"Mất phiên thì mất tiền," hắn nói, "còn đi đúng hôm người ta đo đường thì mất người đo đường đi xuống chợ với ta."
Ở bến, người cầm thương không ngồi chờ. Mỗi lần nhìn xuống, Mặc lại thấy một thứ đã đổi. Hai người bị rạch tay hôm trước đã được thay bằng hai người khác, đốm lửa sáng hơn. Một hôm có mấy người khiêng lên bãi đất cạnh lều hai cái thang tre dài và một bó dây thừng to như cổ chân. Một hôm khác, người áo xanh đo đường dẫn ba người đi vòng ra phía bụi tre sau núi, đi tới đâu thì cắm một que gỗ xuống tới đó. Họ đang chuẩn bị, cùng lúc với nhà hắn, và họ không cần ai báo cho biết hắn đã lên tầng nào.
Một buổi chiều cuối kỳ, hắn thấy cái điều hắn cần thấy nhất.
Người cầm thương đứng giữa bãi đất, không cầm thương, hai tay buông, và một người theo hầu cầm một cây gậy gỗ cứng quật thẳng vào cẳng tay người ấy. Cây gậy bật ngược lại như quật vào một tấm da trâu căng, người theo hầu suýt buông tay, còn cẳng tay kia thì không đỏ lên chút nào. Rồi người theo hầu quật lần nữa, đúng lúc người cầm thương đang xoay người bước sang trái, và lần này gậy không bật mà lún vào một chút, rồi người cầm thương nhíu mày, đứng vững lại, và lần quật thứ ba lại bật ra như lần đầu.
"Hộ thân," Thẩm Chiêu nói, rất khẽ. "Ngày ta còn ở Thanh Đăng, mấy sư thúc Trúc Cơ đi qua mưa mà vai áo không ướt. Khí của họ ra ngoài da một lớp. Đứng yên, giữ trọn thế, thì lớp ấy kín như vỏ trứng. Lúc đổi thế, nó mỏng đi ở chỗ đang đổi."
"Thế thì mũi dao ta vào được không," hắn hỏi.
"Ngươi vừa thấy rồi đấy," nàng nói. "Gậy gỗ mà còn lún vào được một lần."
"Hắn còn giữ trọn thế thì mũi này không vào được," Mặc nói, nhiều với chính mình hơn với nàng. "Phải để hắn đổi thế trước, mà phải đâm đúng vào chỗ đang đổi, chứ chỗ khác thì vẫn là vỏ trứng."
Về núi, hắn lấy tấm ván dày nhất trong mấy tấm vừa mua, bọc quanh cái cọc ngang vai, buộc chặt bằng dây gai, rồi vạch lên mặt ván một vệt than. Hắn đâm một nhát thì mũi dao chỉ cắm vào gỗ chừng một hạt gạo, rút ra là thấy một vết lõm nhỏ. Hắn đâm thêm nhát hai vào đúng vết lõm, nó sâu thêm một hạt gạo nữa. Nhát ba vào đúng chỗ ấy, và mũi dao đi qua tấm ván, chạm vào lõi cọc bên trong.
Một lỗ. Cả tấm ván không nứt, chỉ có một cái lỗ to bằng đầu đũa xuyên qua.
Hắn đứng nhìn cái lỗ một lúc, rồi thử chuỗi thứ hai ngay bên cạnh, và tới nhát hai thì cánh tay hắn run lên, mũi dao lệch, khí trong người như cái túi đã dốc ngược.
"Một chuỗi," hắn nói, ngồi phệt xuống đất. "Một chuỗi thì qua được một tấm ván. Chuỗi thứ hai thì ta không còn gì để đâm."
"Thế thì đừng có chuỗi thứ hai," nàng nói. "Ngươi tính một nhát mà sống được thì tính, còn tính hai nhát thì ngươi đang tính cho người khác."
Ngày một trăm tám mươi mốt tới ngày hai trăm lẻ hai, những ngày không đứng lò, hắn ngồi tu. Đoạn đường tầng tám đã từng tản ở ngày một trăm bảy mươi tám, hắn đi lại từng vòng, chậm, không đụng tới chỗ nghẽn ở cổ, cho tới khi đi một vòng trọn mà không thấy chỗ nào rung, rồi hai vòng, rồi mười vòng, mỗi ngày nhích thêm một chút như đắp bờ ruộng. Có những hôm hắn chỉ ngồi được nửa buổi vì vai còn mỏi sau buổi tập, và hắn ghi nửa buổi, không ghi cả buổi.
Sáng ngày hai trăm lẻ ba, sau hai ngày không đứng lò, ngủ đủ, ăn đủ, hắn uống một viên đan trong hầm và dẫn khí lên cổ. Luồng khí đi qua đoạn tầng tám mà không rung một chỗ nào, chạm vào chỗ nghẽn, đứng lại lâu hơn lần trước, lâu tới mức hắn đếm được bảy hơi thở, và hắn không đẩy thêm, chỉ giữ, như giữ một cái nêm cho nó tự lún vào gỗ ướt. Tới hơi thứ chín. Nó qua.
Hắn không đứng dậy cầm dao mà ngồi đó cho con đường mới chạy hết một vòng, rồi bò lên khỏi hầm, ăn bát cơm cuối của bữa trưa đã nguội, và ngủ một mạch tới sáng hôm sau. Mãi tới khi đó hắn mới ra cọc, đâm một chuỗi thức ba vào tấm ván, và lần này khi rút dao ra, cánh tay không run.
"Tầng chín," Thẩm Chiêu nói, "mà ngươi ngủ trước rồi mới thử, ta cứ tưởng phải nhắc ngươi thêm ba lần nữa."
"Lần trước ta thử ngay," hắn nói, "và ta mất một viên vì nhìn cái cọc của người khác."
Thất đi lại được vào khoảng giữa kỳ. Đi chậm, một tay vịn vách, nẹp ván vẫn quấn quanh sườn, và mỗi lần bước thì dừng một nhịp như người đang nghe xem trong mình có gì kêu không, vì Thất không biết đau, nên phải nghe thay cho đau. Hôm đầu đi được tới cửa bếp, Thất đứng ở đó nhìn ra cổng rất lâu.
"Ta giữ cửa được rồi," Thất nói, khi Mặc đi tới.
"Ngươi đi được tới cửa bếp," Mặc nói, "chưa đi được tới cửa ngoài."
"Đứng một chỗ thì không cần đi," Thất nói.
Mặc không đáp, chỉ bê cái ghế có lưng của Thất đặt ngay cạnh hai cái niêu, đặt cái gàu nước bên chân ghế, đặt cái bát sành lên đùi Thất, rồi đứng lùi lại.
"Ngươi đong nước," hắn nói, "mỗi bữa hai niêu, ngươi đong cho ông Đỗ Nghi nấu. Ông ấy nấu được rồi, nhưng nước thì ông ấy vẫn đổ quá dây một ngón."
Thất nhìn cái gàu, nhìn cái bát, nhìn hai cái niêu, rồi nhìn ra cổng thêm một lần nữa.
"Ta ngồi vẫn đong được," Thất nói, và múc bát nước đầu tiên.
"Cái ghế được giao trông bếp rồi," Thẩm Chiêu nói. "Ngươi còn đang được giao đi ngủ. Ta không hiểu sao trên núi này ghế được thăng chức nhanh hơn ngươi."
Tổng tập làm vào ngày hai trăm lẻ sáu.
Đỗ Nghi buộc dây vào cọc bọc ván, đứng sẵn. Hai tốp Lạc Thủy ra hai lối bên, mỗi lối hai tấm ván, đầu dây quấn ba vòng quanh gốc cây, một người ngồi giữ, mấy người khác cầm sào tre làm người lên. Lau với hai đứa nhỏ theo dây ra vách đá, Thất ngồi ghế cạnh niêu, và Mặc uống một viên đan trước, ngồi dẫn khí cho tới khi trong người không còn chỗ nào trống, rồi mới đứng vào trước cọc.
"Việc bên này để chúng tôi," Đỗ Nghi nói, trước khi kéo, "và cậu đừng quay lại giữa chừng, vì cậu quay lại thì chúng tôi biết là cậu không tin chúng tôi, mà chúng tôi biết thế thì tay chúng tôi run."
Lượt đầu, Đỗ Nghi kéo cọc sang trái, rồi bất ngờ kéo giật về. Mặc đã đâm nhát một, chân đã đi, nhát hai đang tới thì hắn thấy bàn tay Đỗ Nghi trượt trên dây, trôi sát vào cọc, chỉ cách vệt than một gang. Hắn dừng. Mũi dao đứng lại giữa không trung, cách mu bàn tay ông chưa tới hai đốt ngón tay.
"Sao cậu dừng," Đỗ Nghi hỏi, nhìn bàn tay mình.
"Tay ông ở đấy," Mặc nói, "nhát ấy mà vào thì trúng, nhưng trúng ông."
Lượt thứ hai, phía lối dốc nam có tiếng gõ ván. Mặc không quay lại, chỉ nghe tiếng Ôn đại nương nói gì đó, rồi tiếng ván kéo lê trên đất, rồi tiếng một người khác đáp, và sau này hắn mới biết tấm ván ở lối ấy bị kê lệch, người ngồi giữ dây không thấy vì bị chính tấm ván che mắt, và Ôn đại nương đã tự đổi chỗ người giữ, kéo tấm ván về đúng chỗ mà không ai phải gọi hắn. Lối dốc nam đứng vững, lối bụi tre đứng vững, và không ai lọt vào sân sau lưng hắn.
Và trước mặt hắn, có đúng một nhịp mà không ai cần hắn cả.
Đỗ Nghi kéo cọc đổi hướng. Mặc đâm. Nhát một mở vết trên ván. Chân đi nửa bước, nhát hai khoét sâu thêm vào đúng vết ấy. Chân đi nửa bước nữa, nhát ba vào đúng chỗ, đi qua tấm ván, cắm vào lõi.
Cái cọc đã bị khoét lõi ở chỗ ấy từ bao nhiêu buổi tập, giờ gãy gập, đổ nghiêng xuống đất.
Phía sau, ở lối rút ra vách đá, hàng người già và trẻ con vẫn đi đều theo dây, không ai dừng lại nhìn, không ai bị chặn.
Không ai hô to cả, chỉ có gã trai cao gầy cười một tiếng ngắn, Ôn đại nương gật đầu với người ngồi giữ dây ở lối mình, và Đỗ Nghi đi tới nhặt cái cọc gãy lên, xoay mặt ván có cái lỗ ra trước mặt Mặc, như đưa một cái sổ đã cộng xong.
"Nhát ấy không phải một mình cậu đâm," ông nói.
"Ta biết," Mặc nói, "cái nhịp để trống ấy là của Ôn đại nương, ta chỉ đâm vào nó thôi."
Ngày hai trăm lẻ tám, đoàn ở bến đi lên, và hắn thấy họ từ đầu buổi chiều. Người cầm thương đi đầu, sáu người theo hầu đi sau, mang theo thang, dây, và ván. Họ dừng ở chỗ con đường chẻ làm hai, như đoàn hôm trước, dựng một cái lều nhỏ, nhóm một bếp. Ở cuối đoàn, cách một quãng, có một người nữa đi lên chậm hơn, áo xanh vải mịn, và khi người ấy đứng lại dưới ánh bếp, Mặc thấy cái tay trái buông thõng, cổ tay quấn vải, mấy ngón tay duỗi cứng. Người ấy đưa tay phải lên, búng móng vào cái chụp đèn mang theo, nghiêng tai nghe.
Tần Hưởng. Gã đứng dưới dốc, nhìn lên.
Người cầm thương thì không nhìn lên. Người ấy ngồi xuống trước lều, đặt thương ngang đùi, không thử chiêu, không đi lên thêm bước nào.
Mặc vào bếp, nơi Đỗ Nghi đã gói sẵn hai viên đan vào ống tre, đặt lên bàn, ba mươi hai viên còn lại thì cất trong hộp gỗ dưới bệ lò. Hắn buộc ống tre vào thắt lưng, rồi đi một vòng quanh hai cái niêu, nhìn gạo đã vo sẵn cho sáng mai, nhìn mười sáu cái bát xếp chồng, nhìn cái ghế của Thất kê sát vách.
"Ta chỉ đánh nhát đã tập," hắn nói với Đỗ Nghi, "hỏng thì rút theo đường cũ, ông giữ dây, ta giữ cửa, Thất giữ niêu."
"Nhỡ hắn không cần đánh lâu," Đỗ Nghi nói, "nhỡ hắn lên chỉ để giết cho xong."
"Hắn cần ông sống," Mặc nói. "Lệnh nộp thay là nộp người đang sáng, xác thì không sáng. Hắn mang thang với dây chứ không mang cung, vì hắn lên để lôi người về. Hai cánh mà đứng được thì hắn không lôi được ai, mà muốn có người thì phải giết dọc đường, giết thì hắn về tay không."
"Thế đêm nay ai canh ca đầu," ông hỏi.
"Ca đầu ta ngủ," Mặc nói, "người đánh ngày mai thì phải ngủ đêm nay."
Trước khi nằm, hắn ra cổng nhìn xuống lần cuối. Bếp dưới dốc vẫn cháy. Người cầm thương vẫn ngồi trước lều, thương ngang đùi, không ngẩng lên. Tần Hưởng thì đứng cách bếp một quãng, búng móng vào cái chụp đèn mang theo rồi nghiêng tai về phía núi, như nghe xem trên này đêm nay có bao nhiêu ngọn đang sáng.

