Sáng ngày hai trăm lẻ chín, Thất ngồi trên cái ghế có lưng cạnh hai cái niêu, đong nước từng bát cho Đỗ Nghi nấu, và khi mười lăm người đã có cơm thì chính Thất cầm muôi xới bát cuối cùng, gạt cho bằng, rồi đưa lên.
"Bát của ngươi," Thất nói, "ta đếm rồi, đây là bát mười sáu, không ai bị đếm sót."
Mặc nhận bát bằng hai tay, ngồi xuống bậc bếp ngay dưới chân ghế mà ăn. Đây là bát đầu tiên Thất xới cho hắn từ ngày bị chưởng vào sườn, và cơm thì vẫn là cơm Đỗ Nghi nấu, nhưng nước thì Thất đong, đúng tới sợi dây gai, không thừa một ngón.
"Hôm nay ngươi không ăn như đếm," Thẩm Chiêu nói, "mà cũng không ăn như ăn. Ngươi ăn như người sắp phải đứng dậy."
"Thì ta sắp phải đứng dậy," hắn nói.
Ăn xong, hắn đi một vòng kiểm. Hai tốp Lạc Thủy đã ra hai lối bên, ván dựng, dây quấn ba vòng quanh gốc cây, người ngồi giữ dây đã ngồi, Lau dắt mấy đứa nhỏ với hai người già theo dây dẫn tay ra vách đá, Ôn đại nương đứng giữa sân với chum nước và một chồng vải sạch, còn Đỗ Nghi đứng ở đầu dây thanh chắn, cái nút buộc bè dưới tay.
"Ông nhớ không," Mặc hỏi, "ta không quay lại."
"Tôi nhớ," Đỗ Nghi nói, "còn cậu thì nhớ cho tôi một việc khác. Hỏng thì rút theo đường cũ, đừng có đứng đấy mà tính thêm một nhát."
Hắn uống viên đan thứ nhất trong ống tre, ngồi trên chân tấm bia nghiêng mà dẫn khí đủ những vòng của tầng chín, cho tới khi trong người không còn chỗ nào trống, rồi mới đứng dậy đi tới chỗ hẹp.
Họ lên khi mặt trời vừa lên. Người cầm thương đi đầu, đi đều, không vội, sáu người theo hầu đi sau, ba người vác thang, ba người cầm sào có móc và dây. Tần Hưởng đi cuối, cách một quãng, và khi đoàn lên tới mô đất thì gã dừng lại đứng bên vệ đường, hai tay buông, không đi tiếp nữa.
Người cầm thương bước qua sợi dây ngang tầm gối mà không nhìn xuống, như bước qua một ngưỡng cửa đã quen. Tới thanh chắn, người ấy không đánh mà luồn cán thương xuống dưới cây tre, nhấc thử một cái, thấy cái nêm quay ngược chặt lại thì gật đầu như khen một cái nút buộc khéo. Rồi người ấy đặt một tay lên đầu cọc phía vách đất, rút cả cái cọc lên khỏi mặt đất, nêm vẫn dính ở chân, như người ta nhổ một cây cải non, và đưa nó cho người theo hầu đứng sau. Người theo hầu ôm cái cọc mang sang một bên, dựng vào vách, cẩn thận như dọn một gánh hàng khỏi lối đi.
Nắng sớm rọi thẳng vào trán người ấy, và Mặc thấy rõ ngọn lửa có đế giữa ấn đường, sáng chắc, đều, không chập chờn, trên một gương mặt vuông râu cạo nhẵn. Lửa có đế là Trúc Cơ. Hắn mới Luyện Khí tầng chín, thấp hơn người ấy nguyên một đại cảnh, và đây là lần đầu hắn đứng trước một ngọn lửa như thế, sau lưng là cả nhà, không có chỗ nào để chạy.
Một người theo hầu bước lên, cắm một mũi dao găm qua tờ giấy vào cái cọc còn lại phía tấm bia, rồi lùi về. Đỗ Nghi đứng gần nhất nên ông đọc, đọc to, chậm, ngón tay dò theo từng chữ.
"Hàn Kính, sứ Thanh Vân Môn," ông nói. "Trên lệnh ghi Trúc Cơ hậu kỳ, tới nhận về sáu người có tên trên giấy nhận xe, cùng người đã làm mất giấy. Người trên núi nào ngăn cản thì cùng về. Nhận người sống. Người có tên mà chết dọc đường thì sứ chịu."
"Giữ cánh," Mặc nói, không quay lại, "đừng ai tới chỗ thương của hắn."
Hàn Kính không nói gì, chỉ hạ mũi thương xuống ngang ngực, và bước vào chỗ hẹp.
Mặc đâm trước, vì hắn biết nếu để người kia đâm trước thì hắn không còn nhát nào. Châm vào mặt ngoài cẳng tay cầm thương, đúng cái nhát đã tập chín năm, và mũi dao chạm vào da rồi trượt đi như mũi kim chọc vào một quả trứng luộc còn nguyên vỏ, không vào, không xước, chỉ để lại một cái tê lạ chạy ngược lên khuỷu tay hắn.
Thương đâm thẳng.
Mặc lùi. Hắn đã vạch bằng sỏi trên nền đất ba bước lùi từ chỗ hẹp vào sân, ba bước đã tập hàng trăm lần, và hắn lùi đúng ba bước ấy, mũi thương dừng cách ngực hắn một gang, gió của nó quét qua vạt áo. Vai trái hắn giật lên, cái chỗ da non của ba tháng trước, chỉ vì cả thân người phải vặn theo bước lùi. Cổ tay người kia ở đó, gần, nhưng đứng trọn thế, mũi thương đã về trước cổ, và đâm vào lúc ấy là đâm vào vỏ trứng, nên hắn không đâm.
"Hắn nhìn dao ngươi," Thẩm Chiêu nói, khẽ.
Hàn Kính nhìn con dao ngắn một cái, rồi xoay cổ tay vào trong, kéo vạt tay áo che mặt trong cổ tay. Người ấy đã thấy con dao, và người ấy không coi thường nó.
Ở lối dốc nam vang lên tiếng gỗ va vào đá, vì ba người theo hầu đã dựng thang vào vách đất. Mặc không quay lại, chỉ nghe Ôn đại nương hô một tiếng nhà sông, rồi tiếng sào tre dồn vào nấc thang, rồi tiếng thang trượt dọc vách và người trên thang kêu lên, như cái bè bị chống ra khỏi bờ.
"Đẩy theo nước," Ôn đại nương quát, "đừng đẩy ngược, đẩy ngược thì nó đổ vào người mình!"
Phía bụi tre có tiếng ván kêu răng rắc vì bị hai người đẩy cùng lúc, mà tấm ván không đổ, vì đầu dây giữ nó quấn ba vòng quanh gốc tre, và người ngồi giữ đầu dây là một ông già đã sáu mươi tuổi.
"Bên này còn giữ được," Đỗ Nghi nói to, đủ cho hắn nghe mà không cần quay đầu.
Hàn Kính đâm tiếp, một nhát rồi hai nhát, nhát nào cũng thẳng và rút về rất nhanh. Mặc lùi, tránh sang phải, rồi lùi, trong vòng sỏi đã vạch, không bước ra khỏi đó, nhưng mỗi lần tránh thì vai trái lại giật, và hơi thở hắn bắt đầu ngắn đi. Đứng trước mũi thương thế này thì hắn không thắng được, vì người kia không cần vội.
Nên hắn bước sang trái, về phía chân tấm bia nghiêng, chỗ mà muốn đâm theo hắn thì người kia không đâm thẳng được nữa, phải đổi sang quét.
Hàn Kính đổi.
Cổ tay cầm thương xoay một vòng ngắn, cái vòng hắn đã vẽ vào sổ từ ba mươi ngày trước, và mặt trong cổ tay mở ra nửa nhịp. Mặc đã ở đó. Hắn xoay hông, lưỡi dao lật trong lòng bàn tay, rạch ngắn vào mặt trong cổ tay ấy, đúng chỗ lớp vỏ đang mỏng đi vì đang đổi, và lần này lưỡi dao không trượt mà cắn vào, nghe như tiếng một cái bát sành rạn, một vệt máu mảnh như sợi chỉ hiện ra trên da.
Hàn Kính rút thương về ngay, kéo cổ tay vào che sau cán, và không lùi mà ép tới, một đòn quét ngang thấp để kết thúc cho nhanh. Mặc không tránh được hết, và cán thương quét qua sườn phải hắn, xé áo, xé da, nóng rát như ai vừa áp một thanh sắt nung vào, và hắn khuỵu xuống nửa gối rồi đứng dậy.
"Đừng lùi nữa," Thẩm Chiêu nói, "lùi thêm một bước nữa là ra khỏi vòng sỏi rồi, ngoài ấy ngươi chưa tập."
Hắn không lùi nữa mà bước vào phía tay cầm thương, sát tới mức người kia không đâm thẳng được, đúng cái chỗ mà ở bến hắn đã thấy người ấy luôn tránh để ai đứng. Muốn đẩy hắn ra thì Hàn Kính phải thu thương về rồi đổi mũi một lần nữa.
Hàn Kính không xoay cổ tay như ở bến. Người ấy biết chỗ ấy đã bị đọc, và bị ép sát tới mức không còn chỗ cho một vòng quét, nên người ấy dồn khí ra ngoài da, cả lớp hộ thân phình lên như cánh buồm gặp gió, để hất văng thằng cầm dao ra trước rồi mới tính tới mũi thương. Nhưng muốn phình thì lớp ấy phải đổi, mà chỗ đổi mỏng nhất vẫn là vết vừa rạn trên cổ tay.
Nhát một mở lại vết rạn. Chân đi nửa bước, nhát hai vào đúng chỗ. Lớp khí đang phình vỡ ra dưới mũi dao như mặt nước bị ném một hòn đá, hất ngược vào ngực hắn, và hắn nghe một tiếng rắc khô bên sườn trái, mồm mặn máu, cả người bị đẩy lùi nửa bước.
Nửa bước ấy đúng là nửa bước của nhát ba. Hắn không chống lại cú hất mà đi theo nó, như đi theo cái cọc bật dưới tay Đỗ Nghi, và đưa mũi dao về chỗ vết đang nằm chứ không phải chỗ nó vừa nằm. Nhát ba vào sâu, vào tới sợi gân cầm thương.
Cây thương rơi.
Mặc đổi hông theo đường đã tập, và khi Hàn Kính cúi xuống chộp lấy cán thương bằng tay trái thì mũi dao của hắn đã nằm ngay dưới cằm người ấy, sát tới mức một hơi thở mạnh là chạm. Hàn Kính dừng lại giữa chừng, một gối đã chạm đất, tay trái còn cách cán thương một gang. Người ấy không nhìn mũi dao mà nhìn trán Mặc, cái khung đèn đen rỗng, rồi nhìn xuống bàn tay cầm dao của hắn.
Bàn tay ấy đang run, máu từ khoé miệng hắn nhỏ xuống cổ áo, và Mặc biết người kia thấy cả hai.
"Đừng nhìn tay," Thẩm Chiêu nói, rất khẽ, "nhìn mắt hắn, cho hắn nhìn tay ngươi ít thôi." Trong người hắn không còn đủ khí cho một chuỗi nữa, có khi không đủ cả cho một nhát thường, và nếu người kia đứng lên tung một chưởng bằng tay trái thì hắn không có gì để đỡ.
Hàn Kính nhìn bàn tay run ấy rất lâu. Rồi người ấy nhìn sang hai bên, lối dốc nam với cái thang đã đổ nằm dưới chân vách và ba người theo hầu đứng ngoài không lên được, lối bụi tre với tấm ván vẫn đứng và hai người đẩy đã thở dốc. Không cánh nào mở, nên không ai trên núi này lôi ra được mà còn sống, và tờ lệnh trên cọc thì đòi người sống. Rồi ánh mắt người ấy đi qua vai Mặc, vào cửa bếp, dừng ở cái thân to ngồi trên ghế có lưng cạnh hai cái niêu, dừng lâu hơn ở bất cứ ai, như đang so với một dòng ai đó đã tả cho mình nghe.
"Rút," người ấy nói.
Người theo hầu chạy vào đỡ người ấy đứng dậy, nhặt cây thương lên. Lúc nhặt, gã cúi thấp, mắt không rời con dao trong tay Mặc, và khi lùi ra thì gã đi vòng ngoài vòng sỏi, không giẫm lên vạch nào. Đứng dậy rồi, Hàn Kính nhìn vào cửa bếp thêm một lần nữa, rồi mới nhìn Mặc.
"Lần sau không phải ta," người ấy nói. "Người lên lần sau không cần cái gì còn nguyên."
Họ đi xuống, không ai đuổi theo. Mặc đứng nguyên chỗ, mũi dao vẫn chĩa ra trước, cho tới khi người cuối cùng qua khỏi mô đất.
Ở mô đất, Tần Hưởng vẫn đứng đó, đã đứng đó suốt từ đầu, đủ gần để thấy cây thương rơi khỏi bàn tay một người Trúc Cơ hậu kỳ. Tay phải gã đưa lên ngang ngực, ngón giữa đã cong sẵn trên móng cái như mỗi lần gã sắp búng vào một cái chụp đèn để nghe tiếng. Ngón tay ấy không búng mà dừng lại, rồi cái bàn tay trái hỏng, bàn tay ngón duỗi cứng không khép được, gã kéo vào trong ống tay áo như giấu đi một thứ không muốn ai thấy. Gã không nói gì, quay người đi xuống, đi sau cùng như lúc lên.
Mặc ngồi xuống chân tấm bia, ngồi chứ không khuỵu, vì nếu khuỵu thì hắn sợ mình không đứng dậy được trước khi người cuối cùng khuất.
"Đủ người rồi mới đóng cửa," hắn nói, và Đỗ Nghi đi đếm.
"Lối dốc nam hai người rách tay, bị móc sào quật lúc đẩy thang," Đỗ Nghi nói, đi từ đầu sân tới cuối sân, "lối bụi tre một người toạc bắp tay. Ông già giữ dây ba vòng thì rộp hai lòng bàn tay, ông ấy bảo hồi trẻ giữ bè qua thác còn rộp hơn. Ở vách đá, con Lau đếm đủ, không đứa nào khóc. Mười sáu người, không thiếu ai."
Ở cửa bếp, gã trai cao gầy đang kể cho mấy người già vừa từ vách đá về, kể bằng cả hai tay, ba ngón giơ lên. "Ba nhát. Một cái đèn rỗng, ba nhát dao, mà cây thương của Trúc Cơ hậu kỳ rơi xuống đất." Kể xong gã lại kể từ đầu, vì người đứng sau chưa nghe rõ, và lần này gã quỳ xuống nền đất mà vạch cho họ xem cái vòng sỏi.
Ôn đại nương băng cho ba người kia trước rồi mới băng cái sườn của Mặc, rửa bằng rượu, quấn vải chặt, rồi ấn hai ngón tay dọc sườn trái, chỗ hắn thở không trọn, bảo xương rạn chứ chưa gãy, rạn thì tự liền nếu cậu chịu nằm.
"Cậu đứng giữa lối như cái cột buồm," bà nói, thắt nút vải, "mà cột buồm thì còn có dây néo. Lần sau cậu mà để thương quét vào sườn thì tôi khâu luôn áo cậu vào da cho đỡ phải quấn."
Mặc uống viên đan thứ hai, ngồi ở góc bếp dẫn khí dưới mắt Đỗ Nghi, cho tới khi cái run trong tay dịu xuống thành một cái run nhẹ hơn.
Thất vẫn ngồi trên ghế, vì suốt trận Thất không rời cái ghế ấy, hai tay bấu vào hai bên mép ghế tới mức tre kêu lên.
"Ta không đứng dậy," Thất nói khi Mặc vào bếp, "ta ngồi đây suốt."
"Ta biết," Mặc nói. "Hôm nay cái việc khó nhất trên núi là việc ngươi làm."
Tối, hắn ngồi ăn bát cuối, cầm cái thìa lên, và nó rung trong tay hắn, rung tới mức cơm rơi khỏi mép thìa xuống đùi.
"Thìa thôi, không phải thương," Thẩm Chiêu nói. "Ngươi được phép cầm bằng hai tay."
Hắn cầm bằng hai tay, và cơm lên tới miệng.
"Nếu lúc ấy hắn đứng dậy," hắn nói khẽ, khi đã ăn xong.
"Thì ngươi chết," nàng nói, "hắn không đứng dậy vì hắn nhìn hai bên, thấy không lôi được ai về mà còn sống, chứ không phải vì hắn nhìn ngươi. Ngươi nhớ lấy chỗ đó, đừng nhớ cái lúc cây thương rơi."
"Ta nhớ cả hai," hắn nói. "Nhớ cái lúc thương rơi thì ta biết mình làm được gì, nhớ cái lúc hắn nhìn hai bên thì ta biết ai làm cho ta làm được."
"Ngươi nói câu ấy dài quá," nàng nói, "mai nói lại cho ông Đỗ Nghi nghe, ngắn hơn."
Đêm, mọi người đã ngủ, hắn ngồi một mình dưới ngọn đèn nhỏ trong bếp, đặt bàn tay phải lên đầu gối mà nhìn. Nó vẫn còn run. Hôm nay nó đã đưa một mũi dao vào cổ tay một người Trúc Cơ hậu kỳ, mà bây giờ nó không giữ nổi một cái thìa. Tầng chín đủ cho một nhát, một buổi sáng, với cả nhà giữ hai bên. Còn câu Hàn Kính để lại ở cổng thì hắn vẫn nghe rõ như lúc người ấy nói, rằng người lên lần sau không cần cái gì còn nguyên.

