Sáng ngày hai trăm mười, khi Mặc đang ngồi ở bậc bếp để Ôn đại nương thay vải trên sườn, gã trai cao gầy từ cổng chạy vào báo có người đứng ngoài thanh chắn, một người, đi một mình, dắt theo một con gà.
Lão Khúc đứng đúng chỗ đất trước thanh chắn, không bước qua, cũng không gọi. Lão gầy đi nhiều, tóc hoa râm vẫn vuốt sụp xuống trán, đốm lửa Luyện Khí nhỏ và mờ vẫn nằm lệch về một bên, và cái bàn tính vẫn đeo ở thắt lưng, nhưng trên lưng lão không có cái chõng gấp mà mười mấy năm nay lão đi đâu cũng vác theo. Con gà mái đứng dưới chân lão, mổ vào một vệt đất khô. Thấy Mặc đi ra, lão cúi xuống, đặt sáu đồng linh thạch lên phiến đá phẳng ở chân cọc, xếp thành một hàng, rồi lùi lại một bước.
"Ta bán," lão nói. "Sáu đồng, không ai ép, ta tới để nói câu ấy trước khi cậu phải hỏi."
Mặc không cầm sáu đồng ấy lên mà đứng yên bên trong thanh chắn, tay còn giữ mép vải băng chưa buộc, nhìn lão. Hắn đã nghĩ tới chuyện này từ hôm thấy người đo đường dừng đúng khúc quanh lão từng dừng, nhưng nghĩ thì chỉ là nghĩ, và hắn chưa bao giờ nói ra với ai ngoài nàng.
"Ông bán cái gì," hắn hỏi, dù hắn đã biết, vì hắn muốn nghe chính lão nói ra.
"Bán đường," lão nói, nói chậm, như đọc lại từng hạt trên bàn tính. "Bán cho Tần Hưởng cái ngã rẽ dưới cổng, giờ người trên núi xuống suối lấy nước, và số người trên núi, mười sáu, trong đó có một người to vác đòn gánh, giá sáu đồng, ta tự tính ra cái giá ấy, bằng gạo của nhà cậu."
"Người ta đã đòi tiền chỗ của ông," Mặc nói, "ta có nghe bà bán cá khô kể ở chợ, năm đồng, mà ông thì không có."
"Có đòi," lão nói, "năm đồng, hạn mười ngày, mà ta có ba, cái chõng của ta đặt trên đất cờ xanh, nhưng không ai cầm dao bắt ta vẽ đường. Ta vẽ vì ta tính ra vẽ thì lời, cậu ghi đúng như thế."
"Ghi đúng như vừa nói," Mặc nói, quay sang Đỗ Nghi, người đã đi ra đứng sau hắn từ lúc nào.
Đỗ Nghi không ghi ngay mà đi vào bếp, rồi đi ra, tay cầm nửa cây tre gãy, nửa cây đòn gánh cũ của Thất mà từ hôm trận đầu vẫn dựa ở góc bếp, và đặt nó nằm ngang trên phiến đá, ngay cạnh hàng sáu đồng. Ông không nói gì về cây tre, chỉ nhìn vào trong cửa kho thóc, chỗ Thất đang ngồi trên cái ghế có lưng.
"Người bị thương chưa đứng được," ông nói, "sáu đồng không làm cậu ấy đứng."
"Ta biết," Lão Khúc nói, nhìn cây tre gãy rất lâu. "Ta không mang sáu đồng tới để mua cái gì, ta mang tới vì nó không phải của ta."
"Sáu đồng này là sáu đồng ấy à," Mặc hỏi.
"Không," lão nói, và lần đầu lão ngẩng lên nhìn thẳng. "Tiền bán đường thì ta đã nộp tiền chỗ cho cờ xanh rồi. Hôm sứ của họ bị khiêng xuống, họ cho người tới bảo ta dọn đi, cái đường ta bán đã làm họ mất mặt hai lần. Chõng bán được bảy đồng. Đây là sáu."
Rồi lão nhìn qua vai Mặc vào sân, chỗ một người Lạc Thủy đứng với cánh tay quấn vải từ khuỷu lên tới vai.
"Còn một thứ không nằm trong sáu đồng," lão nói. "Cái giờ lấy nước ta bán thì đi qua bụi tre. Người đo đường cắm que ra phía ấy là nhờ cái giờ của ta."
Người đàn ông bị toạc bắp tay ở lối bụi tre hôm qua nghe hết câu ấy. Anh ta không nói gì, chỉ quay vào bếp, và từ đó tới tối không đi ngang chỗ thanh chắn lần nào.
Thẩm Chiêu trong ngực hắn im lặng, không nói lão thật hay lão dối, vì nàng chỉ nghe được những gì hắn nghe, và hắn nghe thấy một người già đứng ngoài thanh chắn đếm lại những đồng tiền mình đã mất như đếm hạt trên bàn tính.
Mặc cúi xuống nhặt sáu đồng lên, nhưng không bỏ vào túi mình. Hắn đưa cả sáu đồng cho Đỗ Nghi, rồi đưa cuốn sổ và cục than cho Lão Khúc.
"Ông tự ghi," hắn nói, "ghi nó là tiền gì, ghi bằng chữ của ông."
Lão cầm cục than, nhìn trang sổ hai cột rất lâu. Tay lão quen viết số hơn viết chữ, và mấy chữ lão viết ra to, nghiêng, như chữ của người ít khi phải viết lời. Ở đầu trang, trên cả dòng gạo, lão viết "tiền bán đường, sáu đồng, trả lại". Lão viết xong thì dừng ở chữ "bán", cục than lơ lửng trên đó như định sửa, rồi không sửa, và đưa sổ lại.
"Ông có thể viết là tiền góp," Mặc nói.
"Góp thì phải có cái gì của mình mà góp," lão nói, "cái này không phải của ta, ta chỉ mang nó về chỗ cũ."
Mặc nhìn dòng chữ ấy một lúc, nhìn cái nét than đã dừng lại ở chữ bán mà không sửa, rồi gập sổ lại.
"Ông ở thử," hắn nói, "có phần ăn từ hôm nay, gánh củi, thu ván, đếm bao gạo, dưới mắt ông Đỗ Nghi. Chìa kho chưa giao, lối xuống hầm chưa chỉ, ông chưa được xuống chợ một mình mà nói chuyện với ai thay cho núi. Ông muốn đi thì lúc nào cũng đi được."
"Ta làm việc nào trước," lão hỏi.
"Củi trước," Thẩm Chiêu nói, và Mặc nhắc lại y như thế.
"Lão kể với người ta trên núi có một người to," Thất nói từ cửa kho thóc, chậm, như sợ quên chữ. "Người ta lên tìm người to. Lão ở thì ở, nhưng nước vào niêu thì ta đong."
Con gà mái vẫn đứng cạnh chân lão, và Lau, đứng sau lưng Ôn đại nương từ đầu, giờ mới dám đi ra mấy bước, ngồi xổm xuống nhìn nó.
"Con gà tên gì ạ," Lau hỏi.
Lão Khúc nhìn con gà, rồi nhìn con bé, như không ngờ lại có người hỏi câu ấy ở đây.
"Ta đặt tên gà theo người nợ ta," lão nói. "Bây giờ người đứng nợ ở đây là ta, nên nó chưa có tên."
"Thế cháu gọi nó là Nắng được không," Lau hỏi, và ngẩng lên nhìn Mặc thay vì nhìn lão.
Trong ngực hắn, Thẩm Chiêu im bặt, như mỗi lần con bé ngẩng lên. Hắn không trả lời con bé mà nhìn Lão Khúc.
"Gà ấy của ông," hắn nói, "ông cho tên thì nó mới có tên."
"Gà của ta thì ta cho mượn tên," lão nói, đưa đầu dây buộc chân con gà cho Lau. "Đặt Nắng đi, ở chợ đèn mưa cả mùa, nó chưa thấy nắng bao giờ."
Ngày hai trăm mười hai, sau khi Hàn Kính và đoàn của người ấy đã chèo bè ngược về thượng nguồn được hai hôm, Mặc với Đỗ Nghi xuống chợ, đi hai lối, ngồi ở khúc quanh đầu tiên một lúc rồi mới qua cây gạo cụt. Quầy cờ xanh còn hai người, đứng gói đồ. Họ mua bốn trăm vốc gạo, bốn mươi đồng, rồi tám đồng vải băng với rượu rửa cho mấy người bị rách da. Lão Khúc đi theo, nhưng chỉ tới chân núi, rồi cùng gã trai cao gầy gánh một lượt gạo lên. Hắn không giao túi tiền cho lão, cũng không để lão đi một mình.
"Cậu không tin ta gánh gạo lên tới nơi à," lão hỏi, giữa dốc, thở hổn hển.
"Ta tin ông gánh tới nơi," Mặc nói, "nhưng ta chưa tin ông đi một mình mà không gặp ai."
Lão không cãi. Lão đổi vai gánh, đi tiếp.
Việc đếm củi thì lão đếm sai ngay hôm đầu. Lão đếm bó củi như đếm tiền, gõ ngón tay lên từng bó, mắt không nhìn, và tới bó thứ hai mươi thì lão đếm thành hai mươi hai, vì có hai bó xếp chồng lên nhau mà lão gõ hai lần. Đỗ Nghi đứng bên cạnh, không nói gì, chỉ chờ, và lão đếm lại từ đầu, lần này cúi xuống nhìn từng bó, ra mười chín.
"Cái bàn tính không biết bó củi to hay nhỏ," lão nói, lau mồ hôi.
"Bàn tính thì không biết," Đỗ Nghi nói, "nhưng ông thì phải biết, tôi ghi mười chín."
Đỗ Nghi giữ tờ củi ấy trong sổ của ông, không đưa cho lão giữ, và khi người Lạc Thủy hỏi ông gọi lão là gì thì ông bảo cứ gọi là ông Khúc, chưa gọi là người nhà.
Thất ngồi được lâu hơn, đi được từ kho thóc ra bếp mà chỉ cần vịn vách hai lần. Chiều ngày hai trăm mười bốn, Thất ngồi ghế cạnh niêu, và người gánh nước tới đổ vào niêu là Lão Khúc.
"Thêm," Thất nói, nhìn sợi dây gai, "chưa tới, còn một ngón nữa."
Lão đổ thêm một ngón, chậm, mắt dán vào sợi dây như dán vào hạt bàn tính. Thất gật đầu, rồi chống tay vào mép ghế định nhổm lên để kéo cái niêu vào gần bếp. Lão Khúc thấy thế thì cúi xuống, định ôm cả cái ghế lẫn người Thất mà nhấc, như bê một sọt hàng nặng cho nhanh.
"Khoan," Mặc nói, đứng ở cửa bếp, không nhìn lão mà nhìn Thất. "Ngươi muốn đứng hay muốn ngồi, ngươi nói, đừng để người khác nhấc ngươi."
Thất nghĩ một lúc, nhìn cái niêu, nhìn lão, rồi nhìn xuống hai đầu gối mình như hỏi chúng nó trước.
"Ta ngồi," Thất nói, "ông kéo niêu vào, kéo niêu thôi, đừng kéo ta."
Lão kéo cái niêu, còn Thất ngồi nguyên, chỉ cho lão đặt niêu chỗ nào, cách bếp bao nhiêu, rồi tự cầm que khơi lửa. Mặc thấy cái sườn của Thất dưới lớp vải vẫn lệch đi một chút mỗi lần Thất với tay, và hắn biết Thất sẽ không bao giờ gánh lại được như ngày trước, dù nẹp có tháo ra, dù cây đòn gánh mới vẫn dựng chờ bên vách.
Bữa tối có mười bảy người ăn, Đỗ Nghi đong mười bảy bát, ba mươi tư vốc, Thất đong nước, và Lão Khúc được một bát, ngồi ở mép hiên, chỗ gió lùa, không ngồi gần bếp, không ngồi chỗ nào Thất vẫn ngồi, và không ai bảo lão ngồi đó, lão tự chọn.
Mặc chờ cho cả mười sáu bát đã có người cầm, rồi mới xới bát mình, và hắn ngồi ăn ở bậc bếp, nhìn ra mép hiên, chỗ lão già ăn từng miếng chậm, bát kê trên đầu gối, như người ăn bữa ở nhà người lạ.
"Ngươi nhìn lão như nhìn sổ," Thẩm Chiêu nói, "như nhìn một dòng chưa biết nên gạch hay nên khoanh."
"Ta không biết nên nhìn thế nào," hắn nói, đặt bát xuống.
"Thì nhìn như nhìn người ngồi mép hiên," nàng nói. "Ngồi mép hiên chưa phải ngồi trong nhà, nhưng cũng không phải đứng ngoài thanh chắn. Củi lão đếm sai một lần rồi đếm lại đúng. Ngươi đừng đòi lão đếm đúng ngay từ bó đầu, cái niêu của Thất cũng sượng mất mấy chục bữa."
Hắn không trả lời, và nàng cũng không nói gì thêm, không nói gì về hắn, về tiểu sư muội, về việc ai tha ai, và hai người cùng trông bữa cơm ấy trôi qua như trông một nồi nước chờ sôi.
Sau bữa, Lão Khúc mang bát đi rửa, rồi lại đứng ở cửa bếp, xoay xoay cái bàn tính trong tay.
"Ta giữ sổ được," lão nói, "sổ tiền, sổ gạo, sổ gì cũng được. Ta tính nhanh hơn ông Đỗ Nghi, cậu hỏi cả chợ thì biết."
Mặc nhìn lão một lúc, rồi rút trong sổ ra tờ củi mà Đỗ Nghi đã kẹp vào, đưa cho lão.
"Ông giữ sổ củi," hắn nói, "sổ củi đúng được ba mươi ngày thì ta nói chuyện sổ khác."
Lão cầm tờ giấy, gật đầu, không hỏi tại sao không phải sổ tiền.
Rồi lão lục trong vạt áo ra một cuốn sổ nhỏ bìa sờn, cuốn sổ nợ lão mang theo từ hồi còn ngồi chõng ở chợ, lật tới một trang gần cuối, và đưa cho Mặc xem mà không buông tay. Trên trang ấy chỉ có một dòng, viết từ hôm Mặc gửi lão nắm cơm cháy gói lá dong cho đường xuống núi dài, "nợ thằng trán rỗng một nắm cơm cháy". Mọi dòng khác trong cuốn sổ đều đã bị gạch, hoặc đòi được, hoặc xoá đi vì người nợ đã chết. Dòng này thì chưa.
"Hôm bán đường xong, ta mở trang này định gạch," lão nói. "Gạch rồi thì coi như ta không nợ ai trên núi này, bán gì cũng được. Ta cầm than lên rồi không gạch."
"Sao không gạch," Mặc hỏi.
"Vì ta tính mãi không ra một nắm cơm cháy bằng bao nhiêu đồng," lão nói, gập sổ lại. "Cái gì không tính ra đồng thì ta không biết trả, nên cứ để đấy. Ta ở đây ăn cơm của cậu thì sẽ có ngày ta biết." Cuốn sổ đan thì Mặc buộc lại bằng sợi dây gai, cất vào túi vải đeo bên người, không treo lên đinh.
Tối ngày hai trăm mười sáu, vai Mặc đã đỡ, vết thương quét bên sườn phải đã khép miệng, chỉ cái xương rạn bên trái còn nhói mỗi lần hắn hít sâu. Hắn lật sang một trang mới, viết lịch cho những ngày tới bằng nét than nhỏ hơn mọi khi, vì biết sẽ phải viết nhiều. Đóng lò ít đi, chỉ luyện mấy mẻ đầu kỳ, còn lại để tu nền, và đếm gạo cho ba mươi lăm ngày, mười bảy người. Rồi hắn đếm đan trong hộp gỗ, ba mươi hai viên, lấy riêng ra bốn viên, gói vào lá, đặt vào một ngăn khác của hộp. Ngoài hiên, Lão Khúc ngồi dưới ngọn đèn của chính lão, cái chụp giấy cũ lão mang theo, cộng đi cộng lại tờ củi mười chín bó, và con gà Nắng ngủ trong cái lồng tre Lau vừa đan, ở góc sân, chỗ có nắng sớm nhất.
"Bốn viên ấy để làm gì," Thẩm Chiêu hỏi.
"Để thử lên Trúc Cơ," hắn nói. "Hai viên cho lần đầu, hai viên phòng khi lần đầu hỏng. Tầng tám ta hỏng một lần, tầng chín cũng một lần, ta không có lý gì để tin Trúc Cơ thì không."
"Ngươi biết ai dựng nền Trúc Cơ hộ ngươi được không," nàng hỏi.
"Không ai cả," hắn nói, "nên ta mới phải để dành bốn viên chứ không phải hai."
"Gạo ngươi đếm cho ba mươi lăm ngày," nàng nói. "Thế thì cái đế ấy cũng chỉ có ba mươi lăm ngày mà đứng lên."

