Sáng ngày hai trăm tám mươi hai, Lão Khúc bước ra khỏi gian ngoài cùng khi trời vừa hửng, mắt đỏ vì hai đêm không ngủ, đi thẳng tới chỗ Mặc đang ngồi buộc dây giày ở bậc thấp đầu dãy, và không chào, chỉ chìa ra cuốn sổ nợ bìa sờn, mở sẵn ở trang gần cuối.
Dòng "nợ thằng trán rỗng một nắm cơm cháy" đã bị gạch, một nét than thẳng, đậm, từ đầu tới cuối. Bên cạnh, bằng thứ chữ to và nghiêng của người quen viết số hơn viết lời, lão ghi thêm mấy chữ nhỏ, "trả bằng hai đêm canh".
"Hai đêm ngồi thì ta không tính ra đồng," lão nói, "nắm cơm cháy cũng không tính ra đồng. Cái không tính ra thì đổi cho cái không tính ra, ta nghĩ mãi mới ra cách ấy."
Mặc nhìn dòng gạch một lúc lâu. Hắn không cảm ơn, vì hắn biết lão sẽ ghi lời cảm ơn ấy thành một khoản khác.
"Người ấy ngủ được không," hắn hỏi.
"Gần sáng thì nhắm được một lúc," lão nói, "chừng mười hạt bàn tính. Rồi mở ra, nhìn ta, thấy ta còn đó thì lại nhắm. Ta gõ đều đều thì người ấy nhắm lâu hơn, ta dừng gõ thì người ấy mở mắt."
"Từ mai ông đếm gạo cùng ông Đỗ Nghi," Mặc nói, "ông đọc, ông ấy ghi."
Lão gập cuốn sổ nợ lại, cất vào vạt áo, gật đầu một cái rất nhỏ, như người ta gật đầu khi vừa nhận đủ tiền mà không muốn để ai thấy mình đã đếm.
Mặc mang cái đục mượn từ hôm nhấc đá trả về kệ ở Luyện Khí Đường, cái đục có mũi đã mẻ vì đẽo bậc kê trên đá lở. Người sửa móc thuyền đặt nó lên đe, gõ lại mũi, rồi treo lên đúng cái đinh của nó. Ngoài sân, người Lạc Thủy đang hong chiếu sau mấy đêm mưa, căng dây từ góc kho thóc tới cột hiên nhà dài. Thất ngồi ghế cạnh nồi gang, đong thêm hai vốc vào phần của ngày, thêm một niêu nhỏ nước nhiều cho người ở gian ngoài, đúng cái cách Thất đã nấu hôm qua và sẽ nấu cho tới khi người ấy nhai được. Ôn đại nương mang vải sạch với ván nẹp mới tới gian ngoài, vừa đi vừa càu nhàu rằng cái chân ấy bẹp tới mức ván nẹp thường không ôm được, phải đẽo lõm vào.
Mặc mở sổ ra ở trang hai cột. Gạo còn bốn trăm năm mươi vốc, ba mươi mốt người, hơn một tuần một chút. Chưa phải xuống chợ hôm nay, mà hôm nay hắn cũng không đứng lò. Hắn khoanh một việc khác ở dòng dưới cùng, việc hắn để từ ngày đầu lên núi, "dọn một lối khô trong tàng kinh các".
Hồi mới lên núi, hắn chỉ bới ngăn bắc để tìm bia Liễm Tức, chống xà bằng cây, buộc dây vào từng tấm ván rồi đứng ngoài mà kéo. Góc tây của tàng kinh các thì hắn để nguyên, vì ở đó giá sách đổ chồng lên nhau thành gò, giấy mục dính vào đất như lá ủ, và hắn không có lý do gì để bới. Giờ thì hắn có, vì Đan phòng cần chỗ khô để cất rễ thuốc qua mùa mưa, Đỗ Nghi cần chỗ để giấy sổ, và nhà ba mươi mốt người thì không thể lấy chính điện làm kho.
"Ngươi định đốt mấy cái giá ấy làm củi à," Thẩm Chiêu hỏi.
"Không đốt," hắn nói, "gỗ còn chữ thì giữ, gỗ không còn chữ mới thành củi."
Hắn gỡ từng thanh bằng tay, không dùng dao, không giật. Thanh nào mục thì hắn đặt sang trái, Lão Khúc đứng ngoài cửa đếm vào sổ củi. Thanh nào còn vết khắc, vết mực, hay chỉ một nét gì như chữ, hắn đặt sang phải, lên một tấm ván kê cao khỏi nền ẩm. Thẩm Chiêu chỉ đọc cái gì lộ ra trước mắt hắn, và phần lớn những gì lộ ra chỉ là số ngăn, tên sách đã mất nửa, một dòng đánh dấu "đã chép" ở góc.
Gần trưa, hắn nhấc một tấm ván che đã bong khỏi cái giá thứ ba tính từ cửa, một tấm mỏng, gỗ còn tốt, vì nó bị cả cái giá đổ úp lên nên trăm năm không thấy mưa. Mặt ngoài tấm ván trơn, mặt trong có chữ, nhiều dòng, viết bằng mực đã ngả màu gỉ sắt.
"Đọc đi," hắn nói.
"Ngươi nghiêng nó ra chỗ sáng," nàng nói, "ta chỉ thấy cái ngươi thấy, mà ngươi đang nhìn bằng một mắt."
Hắn mang tấm ván ra gần cửa. Nàng đọc chậm, từng dòng, giọng như đọc một tờ biên nhận.
"Giá thứ ba, thay hai thanh ngang, gỗ lấy ở cây đa sau Kiếm đường. Giá thứ năm, nêm lại chân, kê đá. Ván che giá ba đóng lại bằng đinh tre, không dùng đinh sắt, sắt gỉ thì ăn vào giấy. Sổ việc cất ngăn cuối." Nàng dừng một chút. "Dưới cùng ký tên, Tề Viễn, Vọng Tinh Tông."
Hắn nhìn cái tên, rồi nhìn những dòng bên trên nó. Một người sửa giá sách, biết sắt gỉ thì ăn vào giấy, biết lấy gỗ cây đa sau Kiếm đường, cái cây hắn đã chặt mất ba cái rễ, cái cây hắn buộc dây xuống khe tây hai lần. Người ấy đã đứng ở đúng chỗ này, đóng đúng tấm ván này bằng đinh tre.
"Ngăn cuối ở đâu," hắn hỏi.
"Ở dưới đống kia," nàng nói, "dưới chỗ ngươi chưa bới, mà hôm nay thì đừng bới."
Hắn lật tấm ván lại, định đặt sang bên phải, thì thấy ở mép dưới, sát chỗ đinh tre, còn một dòng nữa, viết nhỏ hơn hẳn những dòng kia, cùng một nét tay, nét mực đậm hơn như người viết đã ấn bút mạnh hơn.
Thẩm Chiêu đọc dòng ấy từng chữ một, không đọc liền.
"Nếu," nàng nói, "có ai, đọc được, dòng này." Nàng dừng lâu hơn mọi chỗ khác. "Thì đừng sáng."
Trong tàng kinh các không có tiếng gì. Ngoài sân có tiếng búa ở Luyện Khí Đường, tiếng Thất gọi người nhấc nồi, tiếng gà Nắng.
"Hết rồi à, không còn gì bên dưới nữa à," hắn hỏi.
"Hết," nàng nói, "không có dòng nào dưới nữa, và ta không biết người ấy muốn nói sáng là gì, ngươi đừng hỏi ta."
Hắn không hỏi, mà ngồi xuống bậc cửa tàng kinh các, mở sổ ra ở một trang trắng, chép lại đúng từng chữ, cả dòng sửa giá, cả cái tên, cả dòng cuối, không sửa chữ nào, không thêm chữ nào. Dưới dòng cuối, hắn kẻ một vạch than ngang, chừa trống một khoảng rộng bằng ba dòng.
"Ngươi chừa chỗ ấy làm gì," nàng hỏi.
"Chép nguyên," hắn nói. "Chỗ chưa hiểu để trống. Khi nào hiểu thì viết vào, viết sai thì ít ra còn biết mình đã sai từ chỗ nào."
Hắn ôm tấm ván ra sân, và sân đang đầy người. Người đàn bà đan lưới hong một tấm lưới vá dở dưới hiên dài, hai đứa nhỏ chạy quanh cái cọc thấp đuổi theo con quay, khói bốc lên từ nồi gang của Thất, từ ống khói Đan phòng, từ lò rèn còn đỏ. Trên trán những người tu, những đốm lửa nhỏ chẳng ai giấu mờ mờ trong nắng trưa. Gã trai cao gầy với người đục gỗ đang đứng trên thang chằng lại một góc mái nhà dài bị gió đêm qua lật mất ba viên ngói. Cả cái đỉnh núi này, từ ngày hắn lên với hai cái bánh và một con dao rựa, chưa bao giờ sáng như trưa nay.
Hắn đứng giữa sân với tấm ván trong tay một lúc lâu.
"Ngươi định bảo họ tắt bếp à," Thẩm Chiêu hỏi, khẽ.
"Tắt bếp thì ba mươi mốt người ăn gì," hắn nói.
Đỗ Nghi đi ngang, nhìn tấm ván trong tay hắn, nhìn nét mực gỉ sắt.
"Ván ấy viết gì," ông hỏi.
"Một người sửa giá sách dặn người tới sau," Mặc nói.
"Dặn gì."
"Dặn một việc ta chưa biết làm thế nào," hắn nói, "nên ta cất đi, chưa làm."
Đỗ Nghi gật đầu, không hỏi thêm, vì ở bè người ta cũng có những lời dặn của người chết mà chưa ai hiểu hết, và người ta vẫn chèo.
Hắn mang tấm ván vào chính điện, dựng vào vách bên cạnh án, chỗ khô nhất, mặt có chữ quay vào trong, đủ để ngày mai hay mười năm sau hắn tìm lại được. Rồi hắn đi ra, tới chỗ dây hong chiếu, nơi Ôn đại nương đang một mình kéo một tấm chiếu to bị gió thổi lệch, và hắn cầm đầu kia, kéo thẳng, buộc lại vào cột cho chặt. Ôn đại nương nhìn hắn, rồi nhìn tay hắn buộc.
"Nút ấy tuột," bà nói, "cậu buộc như người chưa bao giờ ở bè."
Hắn tháo ra, buộc lại theo cách bà chỉ, nút buộc bè lúc nước xiết, kéo không trượt, giật một cái thì tuột, và tấm chiếu đứng yên trong gió. Lau chạy ngang, cái lồng tre ôm trước bụng, dừng lại khoe với hắn.
"Nắng đẻ quả thứ ba rồi," con bé nói, "ông Khúc bảo từ giờ cháu giữ sổ trứng, mỗi quả một vạch, ông không giữ nữa."
"Ông ấy giao sổ cho cháu à," Mặc hỏi.
"Ông bảo ai đặt tên gà thì người ấy đếm trứng," Lau nói, "ông chỉ đếm củi."
Chiều hôm ấy hắn không vào tàng kinh các nữa. Hắn giã thuốc với hai người đàn bà ở Đan phòng, sửa cái then cửa gian ngoài cho khỏi kêu, và đứng xem Ôn đại nương thay nẹp cho người không tên, người lần này đã để bà nâng cái chân lên mà không giật lại, chỉ nắm chặt mép chăn.
Bữa tối, Thất xới ba mươi mốt bát. Đỗ Nghi đi một vòng đếm, rồi đứng ở đầu hiên nói to cho cả sân nghe.
"Ba mươi mốt phần. Không thiếu."
Mặc ăn sau cùng, và miếng cơm cháy hôm nay không nằm trong ngực áo hắn. Lúc chiều, khi Thất cạo đáy nồi gang, hắn đã xin lớp cháy vừa, gói lá, rồi trèo lên đặt nó lên thanh xà ngang dưới mái hiên Đan phòng, chỗ cao nhất trong tầm tay, chỗ không con gì trèo lên được. Giờ hắn trèo lên lấy xuống, mở lá ra, miếng cháy vẫn giòn, vẫn ấm hơi bếp.
"Giấu kỹ thế," Thẩm Chiêu nói, "ngươi tưởng ta còn tay để giành à?"
Giọng nàng không sắc như mấy tháng trước. Hắn nghe được trong đó một chút gì giống cái giọng trên bậc đá ngày xưa, khi nàng chê nhát kiếm của hắn mà không định để hắn sửa.
"Sư tỷ bảo đặt chỗ cao," hắn nói.
"Ta bảo chỗ mèo không trèo được," nàng nói, "chứ không bảo chỗ ngươi phải bắc thang."
Hắn bẻ một góc, ăn, nhai chậm. Nàng không nói thêm, hắn cũng không. Hắn không nhắc lại cái sáng ở Thanh Đăng, không nhắc con mèo, không nói câu xin lỗi nào, vì hắn biết lời hẹn ấy không phải để nói lại mà để giữ, và hôm nay hắn đã giữ.
Đêm, hắn mở sổ ra ở trang hai cột. Gạo còn ba trăm tám mươi tám vốc, đủ sáu ngày trọn cho ba mươi mốt người, dư mười sáu vốc. Chuyến gạo sau hắn ghi vào dòng dự tính, chưa chi. Dưới đó hắn ghi một dòng cho người ở gian ngoài, nẹp đổi rồi, mai đổi vải. Rồi hắn đứng dậy, đi qua gian ngoài, dừng ở cửa.
"Mai giữ chỗ ấy cho người thay nẹp," hắn nói với Lão Khúc, người đã lại ngồi ở góc với cái bàn tính, dù không ai bắt lão ngồi đêm thứ ba.
Hắn vào chính điện lần cuối trong ngày. Ba trăm cái bấc vẫn nguội, và tấm ván trước án vẫn khắc con số cũ. Bên cạnh án, tấm ván của Tề Viễn dựng quay mặt vào vách. Hắn đứng giữa hai tấm ván ấy một lúc, một tấm đếm những người chưa về, một tấm bảo người còn ở lại đừng sáng, rồi hắn đi ra, khép cửa chính điện, nhẹ tay, cho cánh cửa khép lại êm.
Xa lắm, ở phía trên những tầng mây mà từ Vọng Tinh Phong ngẩng lên chỉ thấy là trời, có một bàn chân đen đặt xuống một chỗ không có đất, và chỗ ấy mất màu.
Kiếp Ma đứng đó, cây trượng đen nằm ngang trong tay, ngọn đèn ở đầu trượng không lay. Tay kia nó mở cuốn sổ, những trang mỏng tới mức thấy được bóng sao phía sau, lật từng trang, không nhanh, không chậm, như người ta lật sổ thuế cuối năm. Tới một trang thì nó dừng, vì giữa trang ấy có một dòng không có sao nào đứng ở bên cạnh, chỉ có một dấu son nhỏ đã đóng từ đêm trời đếm sao, và bên dưới tên là bốn chữ, "đã gọi, chưa nhận".
Nó không đọc to mà gập cuốn sổ lại, kẹp ngón tay ở đúng trang ấy, rồi bước xuống.
Một tầng mây, rồi một tầng nữa. Ngọn đèn ở đầu trượng lướt qua những tầng mây ấy mà không làm chúng sáng lên, và dưới chân nó, cõi người hiện ra dần, những dãy núi tối, những con sông như những sợi chỉ bạc, những đốm đèn nhỏ của những ngọn núi có người ở, đốm nào cũng nhỏ, đốm nào cũng giống đốm nào. Kiếp Ma không nhìn những đốm ấy, vì nó không bao giờ nhìn người, nó chỉ đi theo cái dòng chữ trong cuốn sổ đang kẹp dưới ngón tay mình, xuống, và xuống nữa, về phía Nhân Giới.

