Sáng ngày hai trăm tám mươi ba, Mặc nghiêng cái hũ thứ ba trong kho thóc, thò cả cánh tay vào vét lớp gạo cuối dưới đáy, được nửa vốc, đổ sang hũ thứ tư rồi úp cái hũ rỗng xuống nền cho khô. Còn ba trăm tám mươi tám vốc cho ba mươi mốt người, đủ sáu ngày trọn, dư mười sáu vốc không đủ nổi một bữa, và hắn ghi con số ấy vào sổ trước khi có ai kịp hỏi.
"Gạo mua về trước," Đỗ Nghi nói, đứng ở cửa kho với cuốn sổ của ông kẹp dưới nách. "Chuyện còn lại tính khi bếp có cái nấu."
"Một nghìn vốc, mười bao," Mặc nói, "mười người gánh, đi hai lượt thì về kịp trước khi Thất nhóm bếp tối."
Lão Khúc đứng sau lưng Đỗ Nghi, đọc lại từng con số Mặc vừa nói cho Đỗ Nghi ghi, đọc chậm và rõ như đọc giấy nợ trước mặt người làm chứng.
"Thêm tám đồng nữa," lão nói, "vải sạch thay nẹp cho người gian ngoài, Ôn đại nương bảo vải cũ giặt ba lần rồi, giặt lần tư thì rách, một bình dầu thường, một xấp giấy với mấy thỏi than, vì sổ của ông Đỗ Nghi còn có hai tờ, mà ông ấy viết chữ to như chữ khắc bia."
"Chữ to thì người già đọc được," Đỗ Nghi nói, không ngẩng lên, nhưng vẫn ghi đủ tám đồng.
Họ xuống bến khi sương còn đọng trên hai vệt bánh xe. Mặc đi đầu, khăn Ôn đại nương khâu buộc kín trán, Đỗ Nghi đi cạnh với cuốn sổ, sau là gã trai cao gầy, người sửa móc thuyền, hai người bê nồi và mấy người đàn ông Lạc Thủy, mỗi người một đòn gánh không. Thất ở nhà, ngồi cái ghế có lưng cạnh nồi gang, chỉ cho hai người phụ đổ nước tới vòng dây thứ hai, và nấu riêng một niêu cháo loãng cho người ở gian ngoài, người vẫn nằm với cái chân nẹp ván, vẫn chưa nói một chữ nào.
Bà hàng gạo ở bến đã quen mặt họ. Bà đong đủ mười bao, lấy một trăm đồng, đếm hai lần, rồi chống tay lên bao cuối mà nhìn cả hàng đòn gánh.
"Trên ấy lại thêm người à," bà hỏi, "mười ngày một nghìn vốc, ăn như nhà có đám cưới."
"Không thêm ai đâu bà," Đỗ Nghi nói, "chỉ ăn cho đủ thôi."
"Ăn cho đủ mới tốn," bà nói, "ăn cho no thì còn có bữa nhịn." Gánh lượt đầu lên tới lưng dốc thì mặt trời đã lên khỏi rặng núi phía đông, và ở khúc quanh nơi con đường đất vòng qua một mỏm đá trông sang bên kia thung lũng, Mặc dừng lại.
Bên kia thung lũng có một con đường lát đá chạy dọc sườn núi, những bậc đá cũ tới mức không ai nhớ ai lát, đi về phía bắc. Đó là con đường hắn đã đi bốn ngày, hai trăm tám mươi ba ngày trước, với hai cái bánh nguội và một ngọn lửa không phải của mình trong ngực. Hắn nhận ra nó vì chỗ con đường gặp khe suối có một phiến đá phẳng nhô ra mặt nước, nơi buổi sáng đầu tiên hắn đã ngồi xổm gỡ vải trên bàn tay phải.
Trên những bậc đá ấy, từ chân dốc phía bắc xuống tới gần khe suối, có một vệt xám. Không phải bóng mây, vì bóng mây thì trôi, còn vệt ấy nằm yên, từng chấm một, cách nhau đều như bước chân người, và chỗ nào có chấm thì đá mất màu, như một bức tranh bị ai lấy ngón tay ướt ấn vào.
"Đó là," Thẩm Chiêu nói, rồi dừng.
Hắn biết vì sao nàng dừng, vì trên trán hắn, dưới lớp khăn, đốm lửa đầu kim vừa chớp lên một cái theo chữ đầu tiên của nàng, rồi tắt, và nàng không nói thêm chữ nào nữa.
Ở đầu vệt xám, cạnh phiến đá bên khe suối, có một cái bóng đen đứng. Nó cao hơn người thường một cái đầu, tay cầm một cây trượng nằm ngang, đầu trượng có một ngọn đèn không lay, và hắn đã thấy cây trượng ấy một lần, lướt qua cửa tổ đường mà không làm tắt một nén hương nào. Cái bóng đứng cạnh phiến đá lâu tới mức nắng bò qua mặt đá được một đốt tay. Tay kia của nó mở một cuốn sổ, lật, rồi dừng ở một trang.
"Có chuyện gì thế," gã trai cao gầy hỏi, đặt gánh xuống.
"Gánh tiếp đi," Mặc nói, "đừng nhìn sang bên ấy, đi đều, đừng chạy."
Gã nhìn hắn, rồi nhìn sang bên kia thung, chỉ thấy sườn núi với sương, nhún vai rồi gánh lên. Người đi sau cũng gánh lên theo. Chỉ có Đỗ Nghi chậm lại một bước, đứng cạnh hắn, không hỏi gì.
Cái bóng gập sổ rồi đi tiếp, xuôi theo khe suối tới một xóm nhỏ ba nóc nhà dưới chân dốc, nơi có một ngọn đèn treo trước hiên. Trước mái hiên ấy nó lại dừng, mở sổ, đứng lâu như đã đứng bên phiến đá, rồi gập sổ đi qua, không quay đầu. Ngọn đèn trước hiên vẫn sáng.
Mặc kéo Liễm Tức xuống tận xương, giữ khí lặng như nước đáy giếng, và đếm một vệt xám, một phiến đá hắn đã ngồi, một ngọn đèn nó không lấy, rồi đếm sai một lần, phải đếm lại từ đầu.
"Nó không tìm đèn," Đỗ Nghi nói khẽ, "nó tìm một chỗ."
"Nó đi lại con đường ta đã đi," Mặc nói, "phiến đá ấy ta đã ngồi."
Ông nhìn sang bên kia thung lũng thêm một lúc, như người nhà sông nhìn một khúc nước đục trước khi quyết có thả bè hay không.
"Có nói với mọi người không," ông hỏi.
"Nói," Mặc nói, "nhưng tối nay, khi gạo đã vào kho. Bây giờ họ đang gánh, nói ra thì họ gánh nhanh, mà gánh nhanh thì đổ gạo."
"Ở bè cũng thế," Đỗ Nghi nói. "Thấy thác thì không ai hô lúc người ta đang buộc dây."
Hắn nhấc gánh lên vai, đi tiếp, đi đều như mọi người. Lượt thứ hai, hắn không cho ai đi đường bến nữa mà dẫn họ vòng qua lối bụi tre, lối người Lạc Thủy vẫn đi lấy nước, dài hơn, dốc hơn, nhưng khuất hẳn sau sườn núi. Tới chiều thì đủ mười bao trong kho, và hắn ghi vào sổ một nghìn vốc, một trăm đồng, tám đồng vải dầu giấy, rồi gạch dòng dự tính bên dưới, "mai xuống bán sáu viên".
"Không bán nữa à," Lão Khúc hỏi, đọc ngược dòng gạch qua vai Đỗ Nghi.
"Mấy ngày tới ta không ngồi sạp," Mặc nói, "ai xuống bến thì đi lối bụi tre, đi theo Đỗ Nghi, không đi một mình."
Lão mở miệng định tính xem mấy ngày không bán thì mất bao nhiêu đồng, rồi ngậm lại, vì Đỗ Nghi đã quay sang nhìn lão.
Chiều ấy việc trên núi đổi đi một chút mà không ai phải hô. Đỗ Nghi đi một vòng, dừng ở từng chỗ nói vài câu, rồi đi tiếp. Người đàn bà đan lưới tháo hai sợi dây hong chiếu chăng ngang lối rộng cuối dãy, cuộn lại treo lên cột. Thất chia củi khô thành hai đống, một đống cho nồi gang, một đống nhỏ để riêng cạnh niêu cháo, rồi lấy chân đẩy cái đống nhỏ vào sát vách, chỗ không ai đá phải. Lau dắt hai đứa nhỏ đi đếm xem từ cửa bếp tới gian ngoài cuối dãy bao nhiêu bước, rồi chạy về báo với Thất như báo một quả trứng mới.
"Bốn mươi mốt bước của cháu," con bé nói, "còn bước của chú Mặc thì hai mươi chín, cháu đếm lúc chú đi qua rồi."
"Bước của ta thì bao nhiêu," Thất hỏi.
"Chú đi chậm," Lau nói, nghĩ một lúc. "Chú đi bao nhiêu cũng được, chú không phải đếm."
Rồi Đỗ Nghi bảo phải dời cái giường ở gian ngoài. Giường ấy kê sát cửa, chỗ gió lùa và chỗ ai đi qua cũng nhìn thấy, mà từ hôm nay ông không muốn ai đi qua cũng nhìn thấy.
Người trên giường nghe tiếng cáng kéo trên nền đất thì giật mình. Bàn tay phải đưa lên úp kín trán, bàn tay trái bấu vào mép chăn chiếu cũ, cái chân nẹp ván co lên được nửa gang rồi rơi xuống, và hơi thở dồn lên ngắn như sắp chìm. Người sửa móc thuyền đứng ở đầu cáng, không dám cúi xuống.
Thất chống tay đứng dậy khỏi ghế. Thất không tới chỗ giường mà tới cái bàn thấp ở góc gian, nơi cái bát sành của Thất vẫn đặt mỗi ngày, đặt lâu tới mức mặt gỗ đã in một vòng tròn nhạt. Thất không nhấc cái bát ra, mà cúi xuống ôm cả cái bàn lên, chậm, hai cánh tay to run nhẹ, mang sang góc trong của gian, đặt xuống, rồi lấy ngón tay xoay cái bát cho chỗ mẻ ở miệng quay về phía người nằm, như mọi ngày.
"Bát vẫn ở đây," Thất nói. "Chỉ đổi chỗ nằm thôi."
Người trên giường nhìn cái bát, mắt không chớp. Bàn tay bấu mép chăn nới ra từng ngón một. Lúc mấy người luồn tấm vải bố xuống dưới lưng, người ấy không giật nữa, chỉ nhắm mắt, và khi cáng đặt xuống ở góc trong, cạnh cái bàn, bàn tay trái đưa ra sờ vào thành bát một cái rồi mới thu về.
Mặc đứng ở cửa nhìn họ khiêng. Không ai chạy vào chính điện trước, không ai nghĩ tới cái án ba trăm bấc hay hòm đan, người đầu tiên được dời chỗ trên cả ngọn núi này là người không đứng nổi. Hắn đi ra cổng, lấy than vạch một đường trên nền đất từ cửa gian ngoài tới chân cổng, ghi bên cạnh hai chữ, "lối cáng".
Mưa đêm trước để lại nước đọng ở chân cổng, chỗ hai vệt bánh xe đổ vào thanh chắn, và Mặc với người sửa móc thuyền ra khơi lại cái rãnh thoát. Đào sâu chừng một gang thì mũi đục chạm phải thứ gì không phải đá. Họ cạo bùn ra, thấy một cái ổ đá vuông, giữa ổ có một đường rãnh nhỏ lót sắt đã gỉ thành màu gan gà, chạy ra hai phía rồi đứt. Cạo tiếp sang trái thêm một sải tay thì gặp một cái ổ nữa, cùng cỡ, cùng một thứ sắt.
"Cái này không phải rãnh nước," người sửa móc thuyền nói, gõ mũi đục vào đoạn sắt nghe đục như gõ vào xương. "Rãnh nước thì ai lại lót sắt."
Mặc đặt bàn tay lên ổ, nhìn đoạn sắt đứt, rồi nhìn sang cái ổ thứ hai.
"Người ta làm cái này để giữ cái gì đó ở ngoài," hắn nói, "hoặc ở trong."
"Giữ được thì đã không đứt," người sửa móc thuyền nói.
Hắn dẫn một chút khí xuống. Không sáng, không ấm, sắt gỉ vẫn là sắt gỉ, và khí của hắn chảy vào đó như nước đổ vào cát rồi mất. Hắn trải một tờ giấy vừa mua lên, lấy than chà, và trên giấy hiện ra hình một cái ổ vuông với hai đường rãnh, một đường còn liền, một đường đứt giữa chừng như bị ai cắn mất.
Hắn nhớ tấm ván dựng cạnh án, nhớ dòng "Sổ việc cất ngăn cuối", nhưng không đi bới. Trời sắp tối, mà đống giá đổ ở góc tây tàng kinh các không phải thứ bới xong trong một buổi chạng vạng. Lúc đứng dậy, hắn thấy mũi con dao mài ngắn đã mẻ một chỗ nhỏ vì cạy sắt.
"Mai tôi gõ lại cho," người sửa móc thuyền nói, cầm con dao lên ngắm, đo bằng gang tay. "Mẻ ở mũi thì đâm vào đâu cũng trượt."
Bữa tối, Thất xới đủ ba mươi mốt bát, bát cháo cho gian ngoài đi trước. Trước khi ai cầm đũa, Mặc đứng ở đầu hiên, chỗ Đỗ Nghi vẫn đứng đọc sổ.
"Bên kia thung có một thứ đang đi trên con đường cũ phía bắc," hắn nói. "Nó không phải người. Mấy ngày tới không ai đi đường bến một mình, không ai lên mỏm đá mà nhìn sang. Gạo đủ hai mươi ngày, không ai phải đói vì chuyện này."
"Nó đi về phía mình à," người đàn bà đan lưới hỏi.
"Ta chưa biết," hắn nói. "Biết thì ta nói."
"Hai mươi ngày," Lão Khúc nói nhỏ với Đỗ Nghi, "ông ghi vào sổ chưa, ghi đi, nói ra miệng thì người ta quên chứ chữ thì không."
Không ai hỏi thêm. Ông lão lưng còng gắp cho đứa nhỏ có con quay một miếng rau cần, đứa nhỏ gạt sang bát ông, và hai ông cháu cứ đẩy qua đẩy lại miếng rau ấy cho tới khi Ôn đại nương gắp mất. Mặc chờ tới khi bát cuối trong hàng đã có người cầm, rồi mới bưng bát của mình vào gian bếp đã tắt lửa, ngồi quay lưng ra cửa, khăn kéo thấp, và lúc ấy mới mở gói lá Thất đưa. Miếng cơm cháy hôm nay non hơn mọi bữa, vàng nhạt, chưa giòn hẳn, và hắn cắn một miếng, nhai chậm.
"Non," Thẩm Chiêu nói, và đó là chữ đầu tiên nàng nói từ buổi sáng, "Thất cạo sớm vì bận chia củi, ta không chê Thất."
"Ban sáng sư tỷ dừng giữa chừng."
"Ta nói một chữ mà trán ngươi đã chớp," nàng nói. "Ngoài trời, từ giờ ta không nói. Ngươi ngồi chỗ nào có mái thì ta nói, mà ngồi xoay lưng ra cửa như bây giờ thì càng tốt."
Hắn không đáp, chỉ ăn hết miếng cháy non, rồi trải tờ giấy chà ổ đá lên đầu gối, lật mặt sau, lấy than vẽ lại con đường bên kia thung lũng. Phiến đá cạnh khe suối, xóm ba nóc nhà, vệt xám kéo về phía bắc. Vẽ tới chỗ sườn núi bị mây che lúc gần trưa thì hắn dừng.
"Đường ngươi vẽ ngoằn ngoèo như sợi mì," nàng nói. "Mà đem luộc được thì cả nhà đỡ lo gạo."
"Chỗ ấy ta chưa thấy," hắn nói. "Chỗ chưa thấy để trắng."
"Thế thì để trắng," nàng nói, "đừng vẽ tiếp bằng cái ngươi sợ."
Hắn để trắng cả một góc giấy. Rồi hắn mở sổ ở trang hai cột, ghi lại số của ngày: hai trăm bảy mươi hai đồng, một nghìn ba trăm hai mươi sáu vốc, ba mươi lăm viên đan, không mẻ thuốc nào. Dưới đó, hắn viết một dòng ngắn, "ngày hai trăm tám mươi ba, thấy nó bên kia thung", rồi gập sổ lại.
Ngoài cổng có tiếng đá cọ vào đá. Rồi im.
Hắn đứng dậy, đi ra, không cầm đèn. Qua khe giữa hai tấm ván thanh chắn, hắn thấy viên đá kê chân cột cổng, viên mà chiều nay đào rãnh hắn đã xê đi nửa gang, giờ đã được đặt lại đúng chỗ cũ, ngay ngắn, và một bàn tay đang rút về. Bàn tay ấy kéo vạt tay áo xuống che kín cổ tay, một cái kéo rất nhẹ, và Mặc đã thấy đúng cái kéo tay áo ấy một lần, trên bậc tổ đường, cạnh hai cái bánh nguội.
Chưởng môn Thanh Đăng đứng ngoài cổng, không mang theo gì, không đèn, không gói. Ông không nhìn vào sân, không nhìn những mái nhà mới. Ông nhìn xuống cái ổ đá vừa đào lộ ra dưới chân cổng, rồi ngẩng lên, nhìn thẳng vào lớp khăn trên trán hắn, như đã biết từ trước là phải nhìn chỗ ấy.

