Chưởng môn ngồi ngoài thanh chắn suốt đêm, trên một hòn đá ven đường, không xin vào, và sáng ngày hai trăm tám mươi tư, Mặc mang ra một cái ghế đẩu người đục gỗ vừa đóng tuần trước, đặt ở bậc đá ngay trong cổng, chỗ đứng đó thì nhìn được sân mà không nhìn được gian ngoài cuối dãy hay mái Đan phòng che miệng hầm.
Ông đứng dậy, nhìn cái ghế, rồi cúi xuống gạt mấy cục đất bám ở chân ghế bằng mu bàn tay, gạt cả bốn chân, rồi mới ngồi. Lúc ông cúi, tóc mai lệch đi, và Mặc thấy giữa trán ông, dưới chân tóc, một cái đèn dầu nhỏ bằng móng tay, có bầu, có ngọn, ngọn ấy đứng yên không lay. Hắn đã thấy cái ấn ấy từ hồi mười tuổi, mỗi lần chưởng môn đi qua sân tổ đường, và hồi ấy hắn luôn cúi xuống chổi trước khi cái ấn ấy kịp nhìn thấy hắn.
Lần này đầu gối hắn cũng chùng xuống một chút, theo thói quen chín năm. Hắn bắt được nó giữa chừng. Đứng thẳng lại.
Chưởng môn thấy, nhưng không nói gì về chỗ ấy, chỉ đặt hai bàn tay lên đầu gối, nhìn qua vai hắn vào sân, nơi Thất đang ngồi cạnh nồi gang chỉ cho hai người đàn ông nhấc nồi xuống, và ba mươi mốt cái bát xếp thành ba hàng trên tấm phản dài.
"Ba mươi mốt cái bát," ông nói, "ngươi tiêu vốn nhanh hơn ta tưởng."
"Đây không phải vốn của Thanh Đăng," Mặc nói.
Hắn đặt xuống cạnh chân ghế một cái bát đất đựng nước suối, nước thường, không trà, rồi lùi lại hai bước. Lòng bàn tay phải hắn ngứa ran, chỗ cánh bướm giấy đỏ đã khô thành một lớp với da. Hai trăm tám mươi tư ngày trước, người này đặt hai cái bánh nguội lên bậc tổ đường cạnh cuốn sổ than của hắn, nói một câu, rồi quay vào. Ta không cứu ngươi, ta giữ vốn của Thanh Đăng, ông đã nói thế, và hắn nhớ cả chỗ ông dừng lại giữa hai vế ấy để nhìn cái khung đèn đen trên trán hắn.
"Nàng còn nói không," chưởng môn hỏi.
"Sư tỷ không nói với ông," Mặc nói, và hắn nghe giọng mình bình thường hơn hắn tưởng.
"Ta không hỏi nàng nói với ai, ta hỏi lửa còn hay hết."
"Còn," Mặc nói, "ngày nào cũng còn."
"Cởi khăn ra cho ta xem," ông nói, như bảo một đệ tử mở sổ ra cho kiểm.
Mặc không cởi, và trong ngực hắn im hẳn đi, không phải cái im của người ngủ mà cái im của người vừa khép một cánh cửa và đứng tựa lưng vào đó, và hắn biết nếu bây giờ hắn có cởi khăn ra thì giữa cái khung đen trên trán cũng sẽ không có đốm lửa nào chớp lên cho ai xem. Nàng đã chọn như thế từ lúc ông bước tới cổng. Hắn không hỏi nàng.
Chưởng môn nhìn lớp khăn một lúc, rồi gật đầu, như kẻ thu nợ chấp nhận một tờ biên nhận chưa có dấu.
"Truy thu đã xuống," ông nói, "ngươi thấy nó rồi, ta biết vì hôm qua ngươi đào rãnh dưới cổng mà không dám đào sâu. Nó đọc sổ, không đọc tường, và nó đi một mình, ta tới để nói với ngươi một việc, nói một lần."
"Chưởng môn cứ nói, ta nghe."
"Giao cái bấc đen. Ta che cho ngươi." Ông nói chậm, từng vế một, như đọc điều lệ. "Ngươi về Thanh Đăng, ở dưới hầm Dược đường, cạnh thân nàng. Cửa Thanh Đăng có ta, một cái trượng đi truy thu muốn vào thì phải qua ta. Cái bấc thì ngươi giao cho ta trước, rồi ta mới che."
"Bấc ở trong ngực đệ tử," Mặc nói, và chữ đệ tử bật ra trước khi hắn kịp giữ, "lửa sư tỷ ở trong bấc. Giao bấc ra rồi thì ai giữ lửa nàng?"
"Chuyện ấy để ta sắp," ông nói, không nhìn hắn mà nhìn bát nước.
"Thân nàng có về cùng không?" Mặc hỏi, "hay thân ở một chỗ, lửa ở một chỗ, bấc ở chỗ thứ ba?"
"Thân nàng vẫn ở Thanh Đăng," ông nói, "năm nay ta đã đổ đủ dầu. Ba ngọn đèn đệ tử mỗi năm, ngươi tự tính xem Thanh Đăng đã tốn bao nhiêu người để giữ một cái thân cho ngươi về."
Mặc mở sổ ra trên đầu gối, cầm mẩu than lên, và hắn không viết "còn đủ mười năm", vì hắn không biết có còn đủ hay không. Hắn viết "ngày hai trăm tám mươi tư kể từ đêm ấy", rồi dưới đó chép lại lời ông, không thêm bớt, "giao bấc trước, che sau", và ở cuối dòng, sau một lúc, hắn viết thêm hai chữ ông đã không nói ra mà hắn nghe được trong giọng ông, "bảo đảm".
"Còn những người trên núi," hắn hỏi.
Chưởng môn nhìn vào sân một lần nữa, nhìn người đàn bà đan lưới đang ngồi gỡ một mắt lưới rối, nhìn hai đứa nhỏ đuổi con quay quanh cái cọc thấp, nhìn Thất.
"Họ không có trong sổ của ta," ông nói.
Mặc gập sổ lại, không trả lời ngay, và ông cũng không đòi hắn trả lời ngay.
Hắn để ông ngồi đó với bát nước, đi vào gọi Đỗ Nghi, và hai người vác thuổng với đòn bẩy sang góc tây tàng kinh các. Đống giá đổ ở đó cao ngang ngực, giấy mục dính vào đất như lá ủ, gỗ chồng lên gỗ, và dưới đáy, theo đúng chỗ tấm ván Tề Viễn đã chỉ, phải là ngăn cuối. Họ không dùng thuổng mà để Mặc bẩy từng thanh, Đỗ Nghi đỡ, thanh nào còn chữ thì đặt sang phải, thanh nào mục thì sang trái, như hôm trước, chỉ có điều hôm nay họ không có cả ngày.
Mỗi thanh gỗ hắn nhấc lên là một vế của lời đổi chác ngoài cổng, và hắn để mỗi vế nằm yên trong tay lâu hơn cần thiết. Thanh thứ nhất là cái hầm dưới Dược đường, nơi hắn chưa bao giờ được xuống, có quan tài băng và ba ngọn dầu đệ tử mỗi năm, nơi hắn sẽ ngồi cạnh thân nàng mười năm mà không được chạm. Thanh thứ hai là cái bấc đen, thứ duy nhất trong người hắn mà không ai trên đời này có, và người đòi nó lại là người đã nhìn nó lâu hơn nhìn vết bỏng trên tay hắn đêm ấy. Thanh thứ ba nặng nhất, là ba mươi mốt cái bát, và lệnh của Thanh Vân vẫn treo ở bến, nhận người sống, người có tên chết dọc đường thì sứ chịu. Hắn đặt thanh ấy sang bên phải, vì trên nó còn một vết khắc.
"Cậu nhấc thanh này lâu thế," Đỗ Nghi nói.
"Nó nặng," Mặc nói.
"Ông ấy ngồi ngoài kia thì cậu bới nhanh hơn," Đỗ Nghi nói khi họ đã đào tới thanh thứ mười.
"Ông ấy ngồi ngoài kia thì ta không muốn ngồi trong này," Mặc nói, "nên bới nhanh."
Gần trưa, dưới cái giá thứ sáu, họ chạm vào một cái hộp gỗ dài chừng một cánh tay, nắp trét sáp kín bốn mép. Sáp đã ngả màu nâu, nứt chân chim, nhưng còn bám chặt như ngày người ta trét nó lên. Mặc lấy mũi dao vừa được gõ lại sáng nay rạch từng đường quanh mép, mở nắp, và bên trong là một chồng giấy đóng gáy bằng chỉ, giấy ố vàng, mép giòn như lá khô. Trang đầu ghi bằng nét tay hắn đã thấy trên tấm ván, "Sổ việc. Giữ nhà, sửa nhà."
Hắn không mở ngay. Hắn mang cái hộp vào dưới đoạn mái còn lại của tàng kinh các, ngồi quay mặt vào vách, và lật.
"Ngươi lật chậm thôi," Thẩm Chiêu nói, giọng nàng khẽ như sợ cả tờ giấy nghe thấy. "Giấy này mà gãy thì ta không đọc được phần gãy, ta chỉ thấy cái ngươi thấy."
Phần lớn là việc vặt, thay ba mươi viên ngói mái bếp, thông cái giếng sau Kiếm đường, mua hai tạ than, mỗi việc một dòng, cuối mỗi dòng một chữ "đã". Rồi tới một phần riêng, có vẽ, và nàng đọc chậm từng dòng dưới hình vẽ ấy.
"Cửa núi, hai đường, đường ngoài và đường trong, mỗi đường sáu ổ, mỗi ổ một người, một viên. Sáu người dẫn cùng một nhịp thì cửa ghì được một nhát đánh vào, lệch đi một bên. Không giữ người, không giữ đường, chỉ giữ cửa. Mỗi lượt sáu viên, không hoàn lại." Nàng dừng. "Dưới đó là một dòng ghi ngày. Ổ thứ tư thay mối, chưa xong."
"Chưa xong là sao," Đỗ Nghi hỏi, nhìn qua vai Mặc mà không đọc được gì ngoài cái hình.
"Là dòng cuối của phần ấy," Mặc nói, "sau dòng ấy không có dòng nào về cửa nữa."
Giấy giòn quá, lật thêm mấy lần là gãy, nên Đỗ Nghi sai người đục gỗ đi lối bụi tre xuống bến mua một xấp giấy dày, một ống hồ và một chai dầu trẩu để quét gáy, hết bốn đồng, còn Mặc ngồi chép lại phần cửa núi vào sổ của mình, chép cả hình. Chép xong, hắn với Đỗ Nghi ra cổng, đối hình trong sổ với hai cái ổ đã đào hôm qua. Hình ghi sáu ổ đường ngoài xếp thành một vòng cung ôm lấy cổng, cách nhau một sải. Hai ổ đã lộ thì nằm đúng chỗ trong hình, không lệch một gang. Nhưng đoạn đường nối từ ổ thứ hai sang ổ thứ ba trong hình bị một vết ố che mất, và họ mất cả buổi chiều để đo lại bằng dây, đào thử ba chỗ mới gặp.
Lúc mặt trời xuống thấp, Mặc nhặt một cái nêm sắt còn thừa từ hôm nhấc đá, đặt bắc ngang chỗ đứt trên đường rãnh giữa ổ thứ nhất và ổ thứ hai, rồi đặt tay lên ổ thứ nhất, dẫn khí xuống.
Lần này khí không mất ngay như hôm qua, khi hắn đặt tay lên sắt gỉ mà không có gì bắc qua chỗ đứt. Nó chạy qua cái nêm, chạy dọc đường rãnh, ấm lên dưới đất một vệt dài bằng hai bàn tay, tới ổ thứ hai thì dừng, rồi tản ra ở chỗ đứt tiếp theo như nước tràn qua bờ ruộng vỡ. Đất chỗ ấy hơi ấm lên một lúc dưới lòng bàn tay hắn, rồi nguội dần như bếp lúc rút củi.
"Đi được một đoạn," Đỗ Nghi nói, cúi xuống áp mu bàn tay vào đất.
"Đi được một đoạn thì chưa giữ được gì," Mặc nói. "Sáu ổ, sáu người, mà ta mới nối được một khúc giữa hai ổ."
Lão Khúc đứng sau họ từ lúc nào, bàn tính trên tay. Lão không nhìn cái rãnh mà nhìn cuốn sổ Mặc mở, chỗ dòng "mỗi lượt sáu viên".
"Hai trăm sáu mươi tám đồng," lão nói, hạt bàn tính kêu tách tách, "chia sáu thì được bốn mươi bốn lượt, dư bốn đồng, mà đồng nào cũng là tiền gạo. Bốn mươi bốn nhát, mà cái thứ bên kia thung đánh bao nhiêu nhát thì cậu có biết không?"
"Không biết," Mặc nói, "chưa ai thấy nó đánh."
"Thế thì mua bốn mươi bốn nhát làm gì," lão nói, "khi chưa biết nó cần mấy nhát."
"Vì không mua thì không có nhát nào," Đỗ Nghi nói, giọng không to hơn mọi khi, và Lão Khúc gõ thêm một hạt nữa rồi im.
Trên bậc cổng, chưởng môn vẫn ngồi nguyên. Có một lúc ông đứng dậy, đi tới bờ rãnh cạnh cổng, nơi mấy khóm rau cần Ôn đại nương cắm lứa sau đang héo rũ vì chỗ ấy bị đào lên, và ông cúi xuống rót nửa bát nước của mình vào gốc chúng, rót chậm, từng chút, như người đã quen tưới một thứ biết là sẽ không sống, rồi về ngồi lại. Ông nhìn họ đào cả chiều mà không nói gì, cho tới khi Thất gọi người nhấc nồi bữa tối. Hai người đàn ông bê nồi gang xuống, Thất ngồi xới, Lau bưng bát cháo cho gian ngoài đi trước, và ba mươi mốt cái bát lại thành ba hàng.
"Chỗ này giữ không nổi," chưởng môn nói, đủ to cho Mặc nghe. "Một cái lán rèn, ba mươi mốt cái bát, một người nấu không tự nhấc nổi nồi của mình, ngươi giữ được ai."
Mặc không đáp mà đi vào gian ngoài, nơi cái bàn thấp Thất bê sang hôm qua đứng hơi chênh trên nền đất mới, và cái bát sành của Thất đặt trên đó đã trượt khỏi vòng tròn một đốt ngón tay. Hắn quỳ xuống, nhặt một mảnh ngói vỡ ở góc gian, chèn vào dưới chân bàn thấp nhất, ấn thử, chèn thêm một mảnh nhỏ, cho tới khi mặt bàn phẳng. Rồi hắn đặt cái bát về đúng vòng tròn, xoay chỗ mẻ quay về phía giường. Người trên giường nhìn hắn làm, bàn tay vẫn úp trên trán.
Khi hắn đứng dậy, chưởng môn đã thôi nhìn vào sân.
Ngoài hiên đã dọn phản thì Mặc mới bưng bát của mình vào bếp. Cơm hôm nay có rau cần xào với muối, miếng cháy để trên mép bát.
"Cái ghế ngươi mang ra cho ông ấy," Thẩm Chiêu nói, "nó ngay ngắn hơn hai chữ bảo đảm ngươi viết trong sổ đấy."
"Ta viết vào vì ông ấy không nói ra," hắn nói.
"Ta biết," nàng nói, "ta nghe giọng ông ấy chín năm rồi, ông ấy chỉ nói chữ bảo đảm khi nào chắc chắn không phải trả." Nàng im một lúc. "Ngươi tính phần những người ở lại chưa?"
"Sư tỷ muốn ta trả lời thế nào."
"Ta không muốn gì cả," nàng nói, "cái bấc ở trong ngực ngươi, lửa thì của ta, mà những người ăn ngoài kia thì không của ai trong hai ta. Ngươi chọn, ta chỉ hỏi ngươi đã tính chưa."
Hắn ăn hết miếng cháy, rửa bát, rồi ra cổng. Chưởng môn đã đặt cái bát đất xuống bậc, đặt ngay ngắn, miệng bát quay về phía trong.
"Sáng mai," ông nói, "ta không đợi nó tới cửa."
Ông lại ra ngồi trên hòn đá ngoài thanh chắn, quay lưng vào núi. Mặc đứng ở cổng một lúc, nhìn xuống hai cái ổ đá dưới chân, rồi nhìn ra bóng tối chỗ bốn cái ổ còn chưa đào tới. Giữa hắn với cái lưng ngồi thẳng ngoài thanh chắn là một đường sắt gỉ đứt năm chỗ, và ở ổ thứ tư, một người chết trăm năm đã để lại cho hắn bốn chữ, thay mối, chưa xong.

