Sáng ngày hai trăm tám mươi lăm, Mặc đứng ở cửa gian ngoài chờ cho tới khi Lau bưng bát cháo vào, đặt xuống đúng vòng tròn trên cái bàn thấp đã chèn ngói, và người trên giường đưa tay trái ra chạm vào thành bát một cái như mọi sáng, rồi hắn mới đi ra cổng.
Trong tay hắn có hai tờ giấy. Tờ thứ nhất hắn chép lại từ sổ đêm qua, chữ to, đủ cho một người ngồi trên ghế đọc mà không phải cúi, "giao bấc trước, che sau", và không có hai chữ bảo đảm. Tờ thứ hai là hình cửa núi, hai đường rãnh, mỗi đường sáu cái ổ, chỗ đứt nhiều hơn chỗ liền, và dòng chép tay của một người chết trăm năm. Hắn đặt tờ thứ nhất xuống bậc đá, cạnh cái bát đất chưởng môn đã úp sẵn từ đêm, rồi gấp tờ thứ hai bỏ vào ngực áo.
Chưởng môn nhìn tờ giấy dưới chân, không cúi xuống nhặt.
"Không giao," Mặc nói.
Ông im một lúc lâu, và ở trong sân, Đỗ Nghi đang lấy than vạch lại lối cáng trên nền đất theo đường Mặc vạch hôm trước, chỗ nào mưa đêm làm nhòe thì ông vạch đậm lên, và tiếng than cọ trên đất nghe rõ tới tận cổng.
"Ngươi giữ một ngọn lửa," chưởng môn nói, "lấy gì giữ cả núi?"
"Ta chưa biết lấy gì," Mặc nói. "Ta chỉ biết không lấy họ ra mà đổi."
"Ngươi ở lại thì cái kia lên đây. Nó không nhìn người, nhưng nó đánh vào chỗ nó cần vào, mà người nào đứng giữa thì nó không tránh. Ngươi định đem ba mươi mốt cái mạng ra giữ một ngọn lửa, rồi gọi thế là không nộp ai à?"
Câu ấy đúng, và Mặc không cãi chỗ đúng của nó.
"Ta biết giá của nó," hắn nói. "Giữ cái bấc ở đây thì ta mất đường về ngồi cạnh thân sư tỷ dưới hầm Dược đường. Ông ra khỏi cổng này rồi thì cửa hầm ấy không mở cho ta nữa."
Chưởng môn không gật, cũng không lắc.
"Còn họ thì ta nói cho họ biết," Mặc nói tiếp. "Ai muốn xuống thì để đường mở."
"Xuống đâu," ông nói, giọng vẫn đều. "Bến có lệnh Thanh Vân, nhận người sống. Lên thì gặp trượng, xuống thì gặp lệnh. Ngươi mở đường cho họ chọn chỗ nào mà khổ."
"Thì họ được chọn," Mặc nói. "Đêm ấy ở tổ đường, chưởng môn đặt bút ký sổ nộp, gió đen thổi tắt từng ngọn, ngọn của sư tỷ Dược đường, ngọn của Lưu sư huynh còn kịp đẩy chuôi kiếm về phía ta. Ba ngọn đèn ấy không ai được hỏi."
Chưởng môn không đáp, bàn tay phải ông đưa lên kéo vạt tay áo trái xuống che kín cổ tay, cái kéo rất nhẹ ấy, và Mặc lần đầu tiên tự hỏi dưới tay áo ấy có gì, rồi gạt câu hỏi sang bên, vì hôm nay hắn không có chỗ cho nó.
"Lần trước chưởng môn bảo không cứu ta, chỉ giữ vốn," hắn nói. "Lần này ta không xin ông cứu. Còn vốn trên núi này thì ông đừng tính vào sổ của Thanh Đăng."
Chưởng môn đứng dậy, nhìn lớp khăn trên trán hắn lần cuối, lâu, như muốn đọc qua lớp vải mà không đọc được.
"Giữ một cái thân một năm tốn ba ngọn dầu," ông nói. "Ngươi nhớ con số ấy mà sống cho tới khi về được, vì băng thì không chờ ai."
Ông đi ra bằng đường bến, đi theo hai vệt bánh xe, không quay đầu, và đi rất nhanh, nhanh như người có thể đi nhanh hơn thế mà không muốn để ai thấy. Tờ giấy chép lời đổi vẫn nằm dưới bậc, không ai nhặt. Mặc cầm cái bát đất vào bếp, rửa bằng nước rãnh, úp lên giá ở góc trong, tách riêng khỏi hàng ba mươi mốt cái bát trên phản.
Lúc rửa, cái giá hắn vừa nói ra miệng mới hiện thành hình. Không phải lời che chở, vì lời ấy hắn chưa bao giờ tin, mà là cái hầm dưới Dược đường, nơi có một cái thân nằm trong băng với mái tóc chưa chải, nơi nếu gật đầu thì sáng mai hắn đã được đi về phía ấy, bốn ngày đường, rồi ngồi cạnh nàng mười năm, gần tới mức đưa tay ra là chạm được vào mép quan tài. Hắn úp cái bát lên giá, lau tay vào vạt áo, và không cho phép mình đứng ở đó lâu hơn thời gian rửa một cái bát.
Rồi hắn với Đỗ Nghi đi nói với mọi người.
Không ai đánh chiêng, không ai họp. Đỗ Nghi bảo họp thì người ta nghe theo người đứng đầu chứ không nghe theo mình, nên hai người đi tới từng chỗ đang có việc, đứng cạnh, nói đủ ba điều. Có một thứ từ trên trời xuống, đang đi về phía núi, hắn đã thấy nó bên kia thung. Nó tìm hắn, vì ngọn lửa hắn mang. Ai muốn xuống núi thì cổng không khóa, gạo chia đủ mười ngày để mang theo, không ai bị giữ đèn làm tin.
Ở bờ rãnh, người đàn bà bế con nghe xong thì đứng dậy, không nói gì, đi vào dãy nhà dài, và một lúc sau đã ngồi buộc một gói vải trên chỗ nằm của mình, đứa con ngồi cạnh nghịch đầu dây.
Ở Đan phòng, hai người đàn bà đang giã thuốc dừng chày, nhìn nhau, rồi giã tiếp, và giã mạnh hơn.
Ở Luyện Khí Đường, người sửa móc thuyền nghe hết ba điều mà tay vẫn kéo bễ, mắt vẫn nhìn thanh sắt trong lửa cho tới khi nó chuyển sang màu cam.
"Tôi ở," anh ta nói, gắp thanh sắt ra đặt lên đe. "Lò đang đỏ, bỏ đi bây giờ thì nó nguội, mà nhóm lại thì tốn củi của cả nhà."
"Lò nguội thì nhóm lại được," Đỗ Nghi nói.
"Thế thì để lúc nào nó nguội hẵng hay," anh ta nói, và giáng búa xuống.
Ở gian ngoài, Ôn đại nương nghe xong thì đi lấy một tấm chiếu mới khâu, chưa ai nằm, trải lên cái cáng dựng ở vách, vuốt cho phẳng bốn góc.
"Đi hay ở thì cáng cũng phải có chiếu," bà nói, không nhìn hắn. "Người nằm trên này không tự đi được, cậu đừng có nói ba điều ấy với ông ấy."
"Ta không nói với ông ấy," Mặc nói.
"Thế thì tốt," bà nói, "vì ông ấy chưa nói được câu nào để trả lời cậu."
Gã trai cao gầy nghe xong thì đi thẳng ra cổng, đứng ở thanh chắn nhìn xuống con đường hai vệt bánh xe, lâu tới mức Mặc tưởng gã sẽ bước qua. Rồi gã quay vào bếp, cầm con dao thái rau cần lên, thái tiếp chỗ rau đang thái dở, không nói một lời nào với ai.
Lão Khúc thì không cần ai nói. Tới chỗ lão ngủ cuối dãy, sát lối cáng, họ thấy lão đã buộc xong gói đồ, cái bàn tính đặt trên gói, cuốn sổ nợ nhét bên hông, và lão đang ngồi trên mép chiếu, hai tay đặt trên đầu gối như người chờ đò.
"Ta biết rồi," lão nói, trước khi Mặc kịp mở miệng. "Ta bán đường lên núi này một lần. Giờ có cái gì đi lên, đi đường nào thì cũng là đường ta đã bán."
"Nó đi đường của ta," Mặc nói. "Nó đi lại đúng từng bậc đá ta đã đi từ Thanh Đăng về, không đi đường ông bán."
Lão ngẩng lên.
"Còn đường ông bán thì Thanh Vân đã đi," Mặc nói tiếp, "và người Lạc Thủy bị toạc bắp tay ở lối bụi tre vẫn còn vết. Hai việc ấy ông đừng gộp làm một mà tính cho nhẹ."
Lão nhìn hắn, rồi gõ một hạt bàn tính, không để tính gì, chỉ để có tiếng.
Trưa ấy, Thất xới ba mươi mốt bát, và Mặc tự tay đặt bát của Lão Khúc vào hàng thứ ba, đúng chỗ của lão, rồi bảo Đỗ Nghi chiều nay cùng lão đếm số sắt còn lại ở Luyện Khí Đường, lão đọc, Đỗ Nghi ghi, chìa kho thì Đỗ Nghi vẫn giữ. Lão ăn xong không nói gì, quay về chỗ ngủ, cởi nút gói đồ. Mặc tưởng lão mở ra để cất đồ lại. Nhưng lão chỉ lôi ra một cái áo lót cũ, gấp làm tư, mang ra chỗ Đỗ Nghi đang trải tờ hình sáu ổ trên tấm ván ngoài hiên, đặt cái áo lên một góc tờ giấy cho gió khỏi lật, rồi đi xuống Luyện Khí Đường, không buộc lại gói đồ.
Suốt buổi chiều, thanh chắn cổng để mở, hai vệt bánh xe chạy thẳng xuống bến dưới nắng, và ai đi ngang sân cũng nhìn ra phía ấy một lần, có người nhìn lâu, có người nhìn nhanh rồi cúi xuống việc của mình như sợ bị ai bắt gặp. Mặc không đứng ở cổng, vì hắn biết nếu hắn đứng đó thì người muốn đi sẽ không dám đi qua mặt hắn, nên hắn ngồi trong Đan phòng giã thuốc với hai người đàn bà, giã cho tới khi cái cối đá ấm lên dưới tay.
Chiều ấy không ai xuống núi.
Chạng vạng, Đỗ Nghi đi một vòng, bảo ai ở lại thì tối ra chân bia trước cổng. Họ ra đủ, cả người già, cả trẻ con, cả hai người đàn ông bê nồi khiêng cái ghế có lưng của Thất ra theo. Người ở gian ngoài thì không ra, nhưng Lau đứng ở cửa gian ấy, chỗ nhìn được cả bia lẫn giường.
Mặc quỳ xuống chân tấm bia, lấy tay nhổ đám cỏ đã mọc lên che kín dòng chữ nhỏ hắn khắc từ đêm trăng tròn thứ ba. Nhổ xong, hắn không đọc mà quay sang Thất, người đã được hai người đàn ông đặt ngồi trên cái ghế có lưng ngay cạnh tấm bia, gần tới mức đầu gối Thất chạm vào đá.
"Hôm khắc câu này," Thất nói, nhìn xuống dòng chữ mà Thất không đọc được, "ngươi bảo ngày nào ngươi ăn trước ai, hay đem ai đi nộp, thì ta đọc cho ngươi nghe. Hôm nay ngươi không ăn trước ai, cũng không đem ai đi."
"Hôm nay đọc cho họ nghe," Mặc nói.
Thất ngồi thẳng lưng trên ghế. Thất đọc chậm, như đặt từng cái bát xuống phản, không sót cái nào, không đặt lệch cái nào.
"Không nộp ai. Ai về thì có bát. Người giữ tông ăn sau cùng."
Không ai nói gì, và trong cái im ấy chỉ có tiếng gió lùa qua đám cỏ vừa nhổ. Ông lão lưng còng cúi xuống trước, chống tay lên đầu gối, nheo mắt nhìn dòng chữ sát cỏ, rồi lấy ngón tay sờ lên mấy chữ cuối, chỗ đá ngả màu nâu sẫm. Người ta lần lượt cúi xuống theo ông, từng người một, như cúi xuống uống nước ở một cái giếng. Lau chạy từ cửa gian ngoài ra, ngồi xổm, dò ngón tay theo từng nét, mấp máy môi. Người đàn bà bế con đứng ở cuối cùng, nhìn qua vai người khác, rồi lặng lẽ quay vào dãy nhà dài. Lúc Mặc đi ngang qua sau đó, gói vải trên chỗ nằm của chị đã được cởi ra, đồ đạc xếp lại như cũ, chỉ còn sợi dây buộc vắt trên vách.
Hắn nói việc của từng người, ngắn, như Đỗ Nghi vẫn chia nền. Hắn đứng cửa, Đỗ Nghi chia người, cùng hắn nối hai đường ổ. Lão Khúc đếm sắt, đếm gạo, đếm linh thạch, dưới mắt Đỗ Nghi. Thất giữ bếp và người cần chăm. Không ai hỏi người ở gian ngoài có đánh được không, và hắn cũng không nói gì về người ấy, ngoài một câu, rằng cáng của người ấy đi trước mọi thứ.
Bữa tối Thất xới đủ, và Mặc chờ tới khi bát của Lão Khúc, bát của gã trai cao gầy, bát của người đàn bà bế con đều đã có người cầm, rồi mới vào gian bếp ăn bát cuối.
"Ăn bát cuối thì rửa luôn nhé, tông chủ," Thẩm Chiêu nói. "Ngươi khắc lên đá là ăn sau cùng, chứ không khắc là được bỏ bát đấy cho người khác rửa."
"Ta rửa," hắn nói.
Hắn ăn hết, cả miếng cháy, rồi ngồi đó với cái bát rỗng trong tay.
"Ta vẫn nhớ con bé," nàng nói, khẽ hơn.
Hắn không đáp, không kể những người ngoài kia, không kể hôm nay không ai đi, không đặt cái gì lên bàn cân bên kia câu ấy. Hắn để câu ấy nằm yên trong gian bếp tối, như cái bát đất của khách nằm riêng trên giá, rồi đứng dậy đi rửa bát.
Trang hai cột trong sổ tối ấy không đổi, hai trăm sáu mươi tám đồng, một nghìn hai trăm lẻ hai vốc, ba mươi lăm viên, ba mươi mốt người, không ai rời sổ. Đêm, hắn với Đỗ Nghi mang dây gai ra sân, cầm đèn dầu thường che tay, đo theo hình cửa núi. Đường trong đi gọn sau cổng, vòng qua trước mái hiên nhà dài, không vướng gì. Đường ngoài thì đi rộng hơn, ôm lấy dốc cổng, rồi ngoặt về phía đông, về phía lò cũ, và sợi dây trong tay Đỗ Nghi căng tới đâu thì dừng ở đó, ngay trước bức vách đất của Luyện Khí Đường.
Mặc cúi xuống đếm ổ đường ngoài trên tờ hình. Ổ thứ nhất, ổ thứ hai dưới cổng, ổ thứ ba vừa đào thấy hôm qua. Ổ thứ tư, cái ổ người chết trăm năm trước ghi thay mối chưa xong, nằm đúng dưới nền lán rèn, dưới cái bễ tay họ vừa dựng tháng trước, dưới chỗ người sửa móc thuyền mỗi sáng đứng đập sắt.
"Muốn nối đường ngoài thì phải đào nền nhà rèn," Đỗ Nghi nói.
"Đào xong thì nhà rèn đứng trên đường ngoài," Mặc nói, "và cái gì muốn đánh vào cửa thì cũng đánh vào nó."
Họ đứng đó, sợi dây căng giữa hai người, ngọn đèn dầu thường run trong tay Đỗ Nghi. Cái lán rèn đầu tiên của Khải Phong Tông, cái lán có tấm ván tên viết bằng than treo trên cửa, thì từ đêm nay đã nằm vắt ngang con đường mà một cây trượng đen sẽ phải đi qua.

