Thông báo ngừng phát hành tại Việt Nam

Từ ngày 01/01/2027, Last Lantern sẽ ngừng phát hành tại Việt Nam trên Google Play và App Store. Người chơi đã cài vẫn có thể tiếp tục chơi. Cảm ơn bạn đã đồng hành cùng Last Lantern!

Quyển 1 · Bấc Đen

Chương 51: Sáu chỗ đặt tay

12 phút đọc·

Mục lục18 px

Sáng ngày hai trăm tám mươi sáu, Đỗ Nghi quỳ ở chân cổng với tờ hình cửa núi đè dưới cái áo lót gấp tư của Lão Khúc, cạy từng viên đá lát lên theo đúng chỗ than chà đã chỉ, viên nào cạy lên thì lật ngửa đặt sang bên theo thứ tự, để lát lại thì không viên nào lạc chỗ.

Ông vạch hai đường bằng vôi trên nền sân. Đường trong vòng sát sau cổng, trước mái hiên nhà dài. Đường ngoài ôm rộng lấy dốc cổng rồi ngoặt về phía đông, về Luyện Khí Đường. Giữa hai đường ấy ông chừa lại nguyên lối cáng Mặc vạch hôm trước, rộng đủ hai người khiêng đi không phải nghiêng, và lấy cọc tre cắm hai bên lối như cắm cọc bè.

"Đường cáng để nguyên," ông nói với hai người đàn ông đang chực đào thẳng qua. "Trụ dời sang bên này một sải, vẽ lại cho ta."

Ở đầu tờ hình, trên dòng "cửa núi", người chết trăm năm trước đã viết bốn chữ to hơn mọi chữ khác trong sổ, và hôm trước Thẩm Chiêu đã đọc nó cho hắn nghe dưới mái tàng kinh các, Sơn Môn Đại Trận.

"Người xưa đặt tên to cho cái họ sửa mãi không xong," nàng đã nói. "Ngươi đừng để cái tên làm ngươi tưởng nó to."

Hắn không tưởng thế, vì mười hai cái ổ đá thì còn, nhưng mọi đoạn sắt nối giữa chúng đã gỉ tới mức bóp là vỡ, và thứ hắn có trong tay không phải một đại trận ngủ trăm năm chờ người đánh thức, mà là mười hai cái lỗ trên mặt đất cùng một tờ giấy ghi cách lấp chúng.

Đỗ Nghi với Lão Khúc xuống bến từ sáng sớm bằng lối bụi tre, mang theo sáu người gánh. Lão đọc, Đỗ Nghi ghi, bốn mươi tám đồng cho sắt thanh, đinh, một cuộn dây gai to, mấy tấm da bò thuộc để lót ổ, và một thỏi thép nhỏ người sửa móc thuyền dặn mua để gia cố con dao. Hai mẻ thuốc thì mua ở hàng bà bán thuốc quen, tám đồng, không hơn hai mẻ, vì lò chỉ đứng được thế.

"Bà ấy hỏi sao dạo này nhà mình mua sắt nhiều thế," Lão Khúc kể lúc về, đặt gánh xuống. "Ta bảo làm hàng rào nuôi gà. Bà ấy bảo gà nhà ông chắc to bằng trâu."

"Ông nói thế là được," Đỗ Nghi nói.

"Ta nói dối có một câu," lão nói, "mà phải nghe bà ấy chê gà ta cả buổi."

Chưa tới trưa sắt đã vào kho, rồi họ mới đào nền Luyện Khí Đường.

Người sửa móc thuyền tự tay dỡ cái bễ tay ra khỏi chỗ cũ, đặt sang góc lán, tháo đe đá kê sang bên, rồi cầm thuổng đào xuống đúng chỗ dây gai đêm trước đã chỉ. Sâu chừng hai gang thì lộ ra ổ thứ tư. Ổ ấy khác năm ổ kia, vì trong lòng nó có hai đoạn sắt nằm cạnh nhau, một đoạn gỉ cũ đã gãy làm ba, một đoạn còn mới hơn, mặt sắt chỉ xỉn chứ chưa ăn gỉ sâu, mới tra vào được một nửa, nửa kia còn nằm chéo trên mép ổ, như có người đang tra dở thì bị gọi đi, và không bao giờ quay lại.

Người sửa móc thuyền ngồi xổm nhìn cái đoạn sắt tra dở, hai tay đặt trên đầu gối, không chạm vào. Anh ta không biết đọc, không biết Tề Viễn là ai, chỉ biết nhìn một mối nối.

"Người ta bỏ dở ở đây," anh ta nói, "tôi làm nốt."

Anh ta không tra đoạn sắt cũ ấy vào, vì nó đã yếu, mà nhấc nó ra, lau sạch, đặt lên tấm ván kê cao trong tàng kinh các cạnh những thanh gỗ có chữ, rồi rèn một đoạn mới theo đúng hình của nó. Mặc đứng kéo bễ cho anh ta cả buổi chiều. Mối nối đầu tiên rèn xong, tra vào ổ, hắn lấy cây gỗ dài từ hôm nhấc đá đặt lên đè thử, và mối hàn nứt chân chim ngay ở chỗ uốn.

"Hỏng chỗ nối thì sửa chỗ nối," Mặc nói, khi người sửa móc thuyền đã cầm búa định đập lại tại chỗ. "Đừng gõ cho nó liền mặt ngoài rồi bắt người giữ gồng thêm."

Họ tháo mối ấy ra, nung lại bằng củi thường, vì than đã dành cho Ám Lô, nung lâu gấp đôi mới tới màu, rèn lại từ đầu. Mất trọn buổi sáng hôm sau cho một đoạn sắt dài chưa bằng cánh tay. Đoạn hỏng thì không ai ném đi. Người sửa móc thuyền treo nó lên cái đinh riêng ở vách lán, cạnh tấm ván tên viết than, để nhớ.

Giữa hai lượt nung, anh ta làm việc thứ hai. Con dao mài ngắn của Mặc được đặt lên đe, lưỡi giữ nguyên chiều dài như hắn quen tay, chỉ gò thêm thép vào sống cho dày, quấn lại chuôi bằng dây gai tẩm sơn, và gắn thêm một cái chắn tay nhỏ bằng sắt, cong như cái móng ngựa. Cầm lên, nó không còn là con dao chẻ củi hay con dao mài. Nó là một thanh đoản kiếm thường, xấu, nặng đầu hơn trước một chút.

"Không có phép gì trong này đâu," người sửa móc thuyền nói, đưa chuôi cho hắn. "Chỉ là sắt dày hơn. Gặp thứ gì cứng thì nó không gãy trước tay cậu, thế thôi."

"Thế là đủ," Mặc nói.

Hắn đâm thử một nhát Châm vào cọc. Mũi kiếm lệch xuống nửa đốt ngón tay. Cái chắn tay đẩy cổ tay hắn ra ngoài một góc nhỏ, góc mà chín năm nghìn nhát chưa từng có. Hắn đâm lại, lệch ít hơn, rồi lại lệch, và hắn đứng ở cọc tới khi trời tối.

"Chín năm của ngươi không quen cái móng ngựa ấy," Thẩm Chiêu nói lúc hắn vào gian bếp. "Thanh kiếm không mạnh hơn con dao đâu. Nó chỉ đỡ cho tay ngươi khỏi trượt xuống lưỡi khi người ta đánh mạnh hơn ngươi."

"Ta biết," hắn nói, "cổ tay ta biết trước cả ta."

"Biết thì tập cho tới khi tay ngươi quên nó có ở đấy," nàng nói. "Chứ đừng tập cho tới khi ngươi quên tay mình có ở đấy."

Ngày hai trăm tám mươi bảy và hai trăm tám mươi tám, mỗi sáng hắn đứng Ám Lô một mẻ, mỗi mẻ bốn viên, theo đúng cách đã thành từ mùa trước. Đỗ Nghi xếp người giữ ca nước quanh hầm, chum đầy, rãnh nước vẫn chảy, và Ôn đại nương đứng ở miệng hầm hong lá ngải trên nong như mọi lần. Đứng lò xong thì hắn ngủ một giấc tới quá trưa, không tập, vì Đỗ Nghi đã gạch tên hắn khỏi mọi việc buổi trưa trong sổ, gạch đậm tới rách giấy.

Chiều hai trăm tám mươi tám, mười hai ổ của hai đường đã có mối nối mới, mặt sân lát lại nhưng chừa mười hai ô vuông trống ngay trên các ổ, mỗi ô vừa một bàn tay úp. Hôm nay họ chỉ thử đường ngoài.

Sáu người giữ trụ là Đỗ Nghi với năm người Lạc Thủy có đốm Luyện Khí trên trán, ba đàn ông, hai đàn bà, có người đốm sáng gọn, có người đốm còn mờ như đèn sắp cạn dầu. Đỗ Nghi đứng ổ thứ nhất, sát cổng. Ổ thứ tư dưới nền lán rèn thì người kéo bè đứng, cái người hôm nhấc đá đã giữ dây ngay dưới chỗ Lão Khúc.

Lão Khúc mở túi linh thạch, đếm ra sáu viên dưới mắt Đỗ Nghi, đưa cho từng người một viên, rồi ghi.

"Một người một viên," lão đọc, "sáu viên một lượt. Viên này ta mua gạo được mười vốc đấy, ai làm rơi thì ta trừ vào phần cơm."

"Ông trừ phần ta trước," Mặc nói.

Mặc đứng ngoài vạch đường ngoài, ôm cây gỗ dài. Người đục gỗ đã đẽo đầu gỗ tù lại như đầu một cái chày, và hắn sẽ đẩy nó vào cổng như một cái gì đó muốn vào nhà.

"Một, hai, ba," Đỗ Nghi gọi, "đặt."

Sáu người đặt viên linh thạch vào ô vuông trên ổ, úp bàn tay lên.

"Dẫn," ông gọi, và hắn đẩy. Đầu gỗ đi thẳng vào vạch cổng, qua vạch, chạm vào cột cổng đánh cộp, và chẳng có gì giữ nó lại cả. Không gì hết. Dưới bàn tay người đứng ổ thứ ba, viên linh thạch đã ngả sang màu tro, rồi vỡ vụn ra thành một nhúm bột xám, và năm viên kia cũng thế, viên nào cũng thành tro.

"Mối ổ ba lệch," người sửa móc thuyền nói, quỳ xuống chỗ ấy ngay, áp má xuống đất nhìn ngang. "lệch nửa móng tay, khí chạy tới đây thì rớt."

Sáu viên đã thành tro, và Lão Khúc ghi sáu viên mà không nói gì, chỉ gõ bàn tính mạnh hơn thường lệ một chút.

"Lượt sau cũng thế," Đỗ Nghi nói với cả sáu người, giọng như đọc sổ, "chưa nghe ta gọi nhả thì không ai nhấc tay, kể cả lúc thấy nó chẳng giữ được gì, vì đến lúc thật thì không ai trong chúng ta biết trước nhịp nào nó giữ được, nhịp nào không."

Họ nhấc mặt nối ổ ba lên, người sửa móc thuyền giũa lại chỗ khe, tra xuống, gõ, lại nhấc lên nhìn, lại gõ. Không ai hỏi Thẩm Chiêu chỗ nào lệch, vì nàng chỉ thấy cái Mặc thấy, mà cái mắt nhìn ra được chỗ lệch nửa móng tay ấy là mắt người đã ba mươi năm sửa móc thuyền trên bè.

Lượt thứ hai, Lão Khúc đếm thêm sáu viên.

"Dẫn," Đỗ Nghi gọi, và Mặc đẩy. Lần này, khi đầu gỗ chạm vạch cổng, hắn thấy nó nặng lên, không phải nặng như đẩy vào tường mà nặng như đẩy một cây sào vào dòng nước xiết, và dòng nước ấy bẻ đầu sào sang bên trái, đều, chắc, bẻ đi một gang tay. Đầu gỗ trượt dọc cột cổng. Không vào. Một nhịp. Rồi cái sức ấy nhả ra, như nước rút, và đầu gỗ lại thẳng.

Không ai hô lên, sáu người vẫn úp tay trên ổ, nhìn nhau, nhìn sáu nhúm tro dưới lòng bàn tay mình.

"Nặng thế nào," Mặc hỏi người kéo bè, người đứng ổ thứ tư.

"Như chống sào ngược nước lúc lũ đầu mùa," anh ta nói, "mình không đẩy được nước lại, chỉ đẩy được mũi bè sang một bên."

"Thế thì đúng như sổ ghi," Đỗ Nghi nói. "Lệch đi một bên, không giữ được nó lại."

"Lệch một bên cũng là không vào," người đàn bà đứng ổ thứ năm nói, giọng run mà cười.

Mặc lùi lại, dồn sức, đẩy mạnh hơn. Cái dòng nước ấy lại bẻ, nhưng lần này đầu gỗ cứ thế mà tiến, chậm, từng đốt tay, qua vạch, và ở ổ thứ tư người kéo bè kêu lên một tiếng, bàn tay úp trên ổ đỏ rực lên như vừa nắm phải thanh sắt nung.

"Nhả," Đỗ Nghi gọi.

Sáu bàn tay nhấc lên cùng lúc. Người kéo bè thổi phù phù vào lòng bàn tay. Da chưa phồng, chỉ đỏ.

"Sáu tay chỉ giữ một đường," Đỗ Nghi nói, nhìn hai vạch vôi trên sân, "đổi đường thì phải có lúc trống. Mà ép mạnh quá thì nó không giữ, nó đốt tay người giữ."

Trong lượt ghì thứ hai ấy, Lau với hai người đàn ông đã khiêng cáng của người ở gian ngoài đi dọc lối cáng giữa hai đường vôi, từ gian ngoài ra tới gần cổng rồi quay về, như Đỗ Nghi dặn, để biết lối ấy có thật sự đi được khi sáu người đang đứng trụ. Cáng đi qua đúng lúc đầu gỗ của Mặc bị bẻ lệch dọc cột cổng. Người trên cáng nghe tiếng gỗ trượt thì giật mình, và cái bát sành của Thất đặt trên ngực người ấy, cái bát Lau cứ khăng khăng phải mang theo, nghiêng đi. Bàn tay phải của người ấy, bàn tay lúc nào cũng úp kín trên trán, lần đầu tiên rời khỏi trán, đưa xuống giữ lấy cái bát.

Cáng quay về gian ngoài, người ấy nằm lại chỗ cũ, ngửa mặt nhìn mái nhà của mình, và cho tới lúc Lau đặt cái bát về vòng tròn trên bàn thấp, bàn tay ấy vẫn chưa đưa lên trán lại.

Bữa tối chia hai ca, vì sáu người giữ trụ còn phải ngồi lại cho tay nguội, và vì người ở bếp muốn ăn trước khi trời tối hẳn.

"Ca này ăn trước," Thất nói, chỉ những người không đứng trụ. "Ta giữ phần người đổi ca, ai ăn trước mà ăn hai bát thì ta biết."

"Sao ông biết," gã trai cao gầy hỏi.

"Ta đếm bát từ hồi nhà có ba cái," Thất nói, "mà bát thì không biết nói dối."

Mặc ăn sau cùng, sau cả ca thứ hai, khi Đỗ Nghi đã ăn xong bát của mình và ngồi chép sổ. Ăn xong, hắn lấy viên đan đã ghi sẵn trong sổ cho tối nay, uống, rồi ngồi xếp bằng trong góc gian bếp dẫn khí cho những chỗ vừa đẩy gỗ đến căng cứng. Đứng lò hai buổi, đẩy gỗ hai lượt, cái bấc đen cạn tới mức hắn ngồi mà thấy như đang đứng.

"Giữ được cửa rồi," Thẩm Chiêu nói, "mà ai giữ giúp ngươi ngồi yên ăn hết bát. Nãy ngươi ăn được nửa bát thì đứng dậy ra xem Đỗ Nghi ghi sổ."

"Ta ăn hết rồi," hắn nói, "sư tỷ nếm được cả miếng cuối mà."

"Ngươi ăn hết vì Thất đứng sau lưng ngươi," nàng nói, "Thất mà không đứng đấy thì ngươi bỏ."

Trên tấm ván ngoài hiên, Đỗ Nghi kẻ một cái bảng. Cột đầu là lượt, hai lượt, cột hai là viên, mười hai viên, cột ba là giữ được gì, ông ghi "lượt một không, lượt hai một nhịp, gỗ người đẩy". Cột bốn ông viết tên ở đầu cột, "đỡ được mấy lần", rồi bỏ trống cả cột.

"Sao không ghi," Lão Khúc hỏi.

"Ghi cái gì," Đỗ Nghi nói, "ta mới thử bằng gỗ của tông chủ, chưa ai thử bằng cái trượng."

Mặc cầm mẩu than của Đỗ Nghi lên, định viết vào cột ấy một chữ gì, rồi đặt xuống. Hai đường ổ đã nối liền, mối ổ thứ tư người chết trăm năm bỏ dở đã có người làm nốt, mà cây trượng bên kia thung lũng hôm nay đã tới đâu, đánh nặng bằng mấy cây gỗ, thì không ai trên núi này biết.

"Để trắng," hắn nói.

Đỗ Nghi treo tấm ván lên cột hiên, chỗ ai đi lấy cơm cũng phải đi qua, và cái cột trắng ấy nằm dưới ngọn đèn dầu thường suốt đêm, chờ một thứ mực không ai trên núi muốn mua.

Hết chương 51

Tự tay đưa họ về nhà trong game

Thắp lại đèn, dựng lại tông môn trong Last Lantern.

Google PlayApp Store