Sáng ngày hai trăm tám mươi chín, gã trai cao gầy chạy vào bếp báo có người đứng ngoài thanh chắn, ướt từ đầu tới chân, và Mặc kéo khăn xuống kín trán rồi mới ra cổng, vì sáu ngày nay ai đứng ngoài thanh chắn hắn cũng ra theo cách ấy.
Người đứng đó đang vắt nước khỏi tay áo, vắt một bên rồi vắt bên kia, chậm như vắt giẻ lau bàn, vai đeo một cây cung bọc vải và một ống giấy cuộn tròn bọc giấy dầu. Vệt mực trên trán đã loang thành những dòng đen chảy xuống chân mày, và Mặc nhận ra cái trán ấy trước khi nhận ra khuôn mặt.
"Mực của ngươi pha tro đấy à," hắn nói, "nước suối mà cũng trôi được."
"Nước sông," Nguỵ Tranh nói, "ta lội qua khúc cạn dưới bến, vì đường bến có người đứng. Mực của ta không pha tro, chỉ là ta bôi từ ba hôm trước."
Mặc mở thanh chắn, và Nguỵ Tranh bước qua, đi thẳng tới mép hiên nhà dài, gỡ cây cung xuống, nhìn quanh một lượt rồi mang nó ra dựng ở góc xa nhất, góc gần cổng, cách gian ngoài cuối dãy cả một dãy nhà, như biết trong gian ấy có người không nên thấy thứ vũ khí gì. Rồi Nguỵ Tranh xin một bát nước, đặt bát lên bậc làm gương, lấy khăn lau sạch vệt mực cũ. Trong một hơi thở, giữa trán hiện ra một đốm lửa Luyện Khí vàng, gọn, không lớn hơn lần đầu Mặc thấy ở chợ, rồi đầu ngón tay chấm vào cái nghiên nhỏ lấy từ trong ngực áo, quệt ngang một vệt, và đốm ấy chìm vào màu đen bóng còn ướt.
"Từ hôm nay sáu mươi tư vốc," Đỗ Nghi nói, đứng ở cửa bếp, không hỏi người mới tới là ai, chỉ ghi vào sổ trước.
"Ta chưa nói là ở," Nguỵ Tranh nói.
"Ta cũng chưa nói là ở bao lâu," Đỗ Nghi nói, "nhưng đã ăn thì phải đong, mà đong thì phải ghi."
Nguỵ Tranh nhìn Đỗ Nghi một lúc, rồi không cãi nữa mà ngồi xuống bậc, mở ống giấy. Bên trong là bốn năm mảnh giấy khác cỡ, mảnh to bằng cái mẹt, mảnh nhỏ bằng bàn tay, mảnh nào cũng vẽ bằng thứ nét mảnh và đều Mặc đã thấy dưới gốc gạo ở chợ.
"Ta vẽ ngươi vào bản đồ chợ," Nguỵ Tranh nói, trải từng mảnh ra trên tấm ván Đỗ Nghi kê sẵn. "Ở chợ ấy ai được vẽ vào thì thường không ngồi lâu. Ngươi ngồi lâu quá, giờ lại có một thứ khác đi tìm đúng những chỗ ngươi đã ngồi, nên ta lên xem bản đồ của ta sai ở đâu."
"Nó tới chợ à," Mặc hỏi, và hắn nghe giọng mình khô đi.
"Chưa," Nguỵ Tranh nói. "Hôm qua nó đứng ở bãi sông bên kia, chỗ bến đò cũ, nhìn sang chợ nửa buổi, cả chợ bên này đóng sạp. Nó không qua. Nó mở sổ, đứng, gập sổ, rồi quay ngược lên một cái miếu đổ ven đường, đứng ở đó lâu gần bằng thế."
"Cái miếu có bức tường sập một nửa," Mặc nói, "trước cửa có cây gạo non."
"Sao ngươi biết."
"Đêm thứ hai ta ngủ ở đấy," hắn nói.
Nguỵ Tranh đặt từng mảnh lên tờ giấy Mặc vẽ hôm hai trăm tám mươi ba, cái tờ có đường đi ngoằn ngoèo bên kia thung và một góc để trắng. Mảnh thứ nhất có khe suối với phiến đá phẳng, khớp với chỗ Mặc đã vẽ. Mảnh thứ hai có xóm ba nóc nhà với cái miếu đổ. Mảnh cuối là bãi sông bên kia và bến đò cũ, và trên các mảnh ấy có những chấm mực nhỏ đánh dấu những chỗ cái bóng đã dừng, chấm nào cũng có một con số nhỏ bên cạnh ghi ngày.
"Chỗ này ta đã đi," Nguỵ Tranh nói, chỉ những chấm mực, "bên kia mây thì chưa thấy."
"Vậy để trắng," Mặc nói, và Nguỵ Tranh ngẩng lên nhìn hắn, như lần đầu tiên nhìn kỹ hắn.
Hai người ngồi đối từng chấm, và chấm nào Mặc cũng gọi được tên, phiến đá bên khe suối chỗ hắn rửa tay buổi sáng đầu tiên, cái miếu đổ chỗ hắn ngủ đêm thứ hai, bãi sông chỗ hắn lội qua sáng ngày thứ tư. Cái bóng ấy không đi đường ngắn nhất về núi. Nó đi lại từng chỗ hắn đã đứng, như người ta dò một cuốn sổ từng dòng, và mỗi dòng nó dò xong thì con đường còn lại ngắn đi một đoạn, hẹp đi một đoạn, chỉ về một đỉnh núi.
Phần còn lại của con đường thì Mặc tự vẽ, ngay trên tấm ván ấy, không phải đoán, vì đó là những chỗ hắn đã đi suốt hai trăm ngày qua, cái sạp dưới gốc gạo, cái chõng của Lão Khúc chỗ hắn bị lừa một vố, cái bến chỗ hắn mua gạo không biết bao nhiêu lần, rồi hai vệt bánh xe lên núi.
"Chỗ này không phải đoán," hắn nói. "Chỗ này ta đã đi."
"Nó đọc ngươi như đọc sổ," Nguỵ Tranh nói.
"Ta biết," Mặc nói, "ta chỉ không biết nó đọc tới dòng nào rồi."
Trước trưa, hai người leo lên mỏm đá phía bắc, cái mỏm cao nhất trông ra được cả thung lũng lẫn khúc sông dưới bến. Mặc nằm sấp sau một tảng đá, khăn kín trán, kéo Liễm Tức xuống tận xương. Nguỵ Tranh nằm cạnh, trán đen bóng mực mới, và không nằm ở chỗ nắng chiếu tới.
Nó ở lưng chừng con đường đá cũ, chỗ đường bị một mỏm đá đổ chắn ngang từ mùa lũ năm nào, người đi qua phải trèo vòng. Cái bóng ấy không trèo vòng mà dừng trước mỏm đá, mở sổ, rồi gập lại, rồi cây trượng trong tay nó đi một đường ngang, không nhanh, không có gì giống một cú vung, giống cái gạt một cành cây khỏi lối đi hơn. Mỏm đá to bằng cái lán rèn vỡ ra làm ba, lăn xuống khe, và tiếng vỡ tới tai họ chậm hơn mắt họ thấy một nhịp thở.
Đánh xong, nó không đi ngay mà thu cây trượng về, kéo đầu trượng có ngọn đèn đi một vòng ngắn về sát cuốn sổ đang mở trên tay kia, giữ ở đó một lúc như soi chữ, rồi mới nhấc trượng lên vai đi tiếp. Lúc đánh thì nhanh, lúc thu về thì chậm hơn hẳn, chậm như người cất một món đồ quý vào túi.
Mặc mở sổ trên tảng đá, viết thật nhỏ, "đánh một đường ngang, thu trượng về sát sổ, thu chậm hơn đánh". Hắn nhớ cây thương của Hàn Kính dưới chân bia, nhớ cú quét ngang đã xé áo xé da bên sườn phải hắn. Cú quét ấy hắn đỡ được nửa. Cái đường trượng vừa rồi, hắn không biết mình đỡ được mấy phần.
"Nặng hơn người cầm thương," hắn nói khẽ, "nặng hơn nhiều."
"Một mình nó thôi," Nguỵ Tranh nói. "Mấy hôm nay ta chỉ thấy một. Không lính, không ai theo sau, không ai mang thang. Nó đi kiểu đi đòi một món nợ nhỏ, một mình là đủ."
"Còn ai khác đứng chờ dưới ấy không," Mặc hỏi.
Nguỵ Tranh im một lúc, rồi trỏ xuống khúc sông dưới bến, chỗ con sông uốn qua một bãi lau. Ở đó có một cái bè buộc vào cọc, bè to, có mái, cắm một lá cờ xanh cuộn lại chưa giương. Trên bè có mấy người ngồi, cạnh họ là thang với cuộn dây. Ở mũi bè có một người đứng, một tay giấu trong ống tay áo, tay kia cầm một cái chụp đèn đồng, và từ xa thế này Mặc vẫn thấy ngón giữa của bàn tay ấy cong lên trên móng cái, búng vào thành chụp, rồi búng nữa.
"Họ không lên," Nguỵ Tranh nói. "Họ chờ."
"Chờ gì."
"Chờ cái kia đi qua," Nguỵ Tranh nói, "cái kia lấy lửa, lấy xong thì người còn lại trên núi là của họ."
Mặc nhìn cái bè cho tới khi mắt cay, không viết gì thêm vào sổ, vì có những thứ hắn không cần viết mới nhớ.
Hắn hiểu ra cái bè ấy theo cách người ta hiểu một bàn cờ khi đối thủ đã đặt quân thứ hai. Cái bóng trên đường đá muốn một ngọn lửa, và nó không nhìn người. Cái bè dưới bãi lau muốn người, người sống, càng nhiều càng tốt, và nó không cần lửa. Hai thứ ấy không hẹn nhau, không biết nhau, nhưng một thứ đánh vỡ cổng thì thứ kia chỉ việc đi lên mà nhặt. Lệnh của Thanh Vân vẫn thế. Người đứng xem vẫn đứng xem.
Chiều ấy hắn định là chuyến mua cuối, định từ lúc còn nằm trên mỏm đá. Đỗ Nghi với Lão Khúc dẫn mười người gánh đi lối bụi tre, Mặc không đi. Đỗ Nghi thuê sạp ở đầu dãy, chỗ hắn từng ngồi, bán sáu viên đan cho bà bán thuốc quen, bảy mươi hai đồng, trả hai đồng tiền sạp. Một trăm đồng mua một nghìn vốc. Mười hai đồng cho vải sạch với một bó tên thường, thứ Nguỵ Tranh dặn, tên trúc đầu sắt, không có gì đặc biệt. Họ gánh về trong ngày, kịp trước khi bóng núi trùm xuống lối bụi tre.
"Chợ mở lại có nửa buổi, thấy cái kia đi ngược lên núi bên kia thì người ta mới dám bày hàng," Đỗ Nghi nói, đặt gánh xuống kho. "Bà bán thuốc hỏi sao không thấy cậu, tôi bảo cậu bận nấu cơm cho cả nhà. Bà ấy cười, bảo Thất nhà ông nấu mặn, chắc cậu phải nấu thay."
"Thất nấu không mặn," Thất nói từ chỗ nồi gang. "Tại người ăn không đủ mồ hôi."
Bữa tối, Thất xới, hai người phụ bưng, ba mươi mốt cái bát lần lượt có người cầm. Nguỵ Tranh đã định ngồi ăn ở góc hiên chỗ dựng cung, chỗ khuất bóng đèn, như vẫn ngồi ở mọi chỗ trên đời, và đã cầm sẵn một nắm cơm nắm mang theo từ dưới chợ.
Thất chống tay đứng dậy khỏi ghế, chậm, đi tới cái giá ở góc trong của bếp, lấy xuống cái bát đất đã úp ở đó từ hôm khách đi, cái bát chưởng môn Thanh Đăng đã uống một nửa, tưới một nửa cho rau cần. Thất xới đầy cái bát ấy, mang ra, đặt xuống tấm phản dài ở cuối hàng thứ ba, ngay sau bát của Lão Khúc. Tính cả bát của Mặc, cái bát bao giờ cũng vào bếp sau cùng, thì trên núi từ tối nay có ba mươi hai cái bát.
"Bát đã rửa," Thất nói, "đặt cung xuống rồi ăn."
Nguỵ Tranh nhìn cái bát, nhìn Thất, rồi nhìn nắm cơm nắm trong tay mình. Cây cung thì đã đặt xuống từ sáng, nhưng Nguỵ Tranh vẫn tháo cái túi tên trên lưng ra, đặt cạnh cung, rồi đi vào ngồi xuống cuối hàng, giữa Lão Khúc và gã trai cao gầy, ngay dưới ngọn đèn dầu treo hiên. Lão Khúc nhích ra nửa sải nhường chỗ, không nói gì, rồi gắp sang bát người mới một miếng rau cần.
Cái bát của khách đã vơi được mấy miếng thì Mặc mới lấy bát của mình vào bếp.
Trên tấm ván trong bếp, hắn trải tờ giấy ghép, lấy than tô đậm những đường Nguỵ Tranh đã đi, ghi cạnh chữ "đã thấy", rồi kẻ một đường mảnh quanh phần mây che, ghi "chưa thấy".
"Mực trên trán người ta còn đỡ phí hơn than ngươi tô vào giấy," Thẩm Chiêu nói, "mực cũng mua bằng tiền, đừng tô hộ những chỗ ngươi chưa tới."
"Ta không tô," hắn nói, "ta kẻ cho biết chỗ nào không tô."
"Ừ," nàng nói, "kẻ thế thì được. Người kia vẽ đẹp hơn ngươi, ngươi biết không, nét mảnh như sợi chỉ khâu, còn ngươi vẽ như người cầm chổi."
"Ta cầm chổi chín năm," hắn nói, "tay ta chỉ quen nét to."
"Ta biết," nàng nói, và nàng không nói thêm câu nào về chín năm ấy.
Lau ngồi ở bậc bếp từ chiều, lấy dao nhỏ khoét mấy đoạn ống tre, xâu vào một sợi dây, gõ thử vào nhau nghe lách cách, rồi mang tới đưa cho Nguỵ Tranh mà không nói vì sao.
"Cái này để làm gì," Nguỵ Tranh hỏi.
"Để chú giật," con bé nói. "Chú Mặc bảo chú lên núi nhìn. Chú nhìn thấy thì phải có cái kêu, chứ chú hét thì cả núi bên kia cũng nghe."
Đêm, Nguỵ Tranh tự nhận một việc. Từ mai, mỗi sáng lên mỏm đá phía bắc từ khi chưa sáng, mang theo cung và một cuộn dây gai dài, thấy cái bóng ấy đổi hướng thì giật dây, đầu dây kia buộc vào cái chuông gió bằng ống tre Lau làm, treo ở cột cổng.
"Ta không hứa bắn được nó," Nguỵ Tranh nói, "tên của ta bắn người, còn thứ kia ta chưa thấy cái gì đâm vào được nó."
"Ta không nhờ ngươi bắn," Mặc nói, "ta nhờ ngươi nhìn, nhìn thấy cái gì thì báo cái ấy, không thấy thì để trắng."
Rồi hai người trải lại tờ giấy ghép một lần cuối trên tấm ván ngoài hiên. Đường mực của Nguỵ Tranh đi từ phía bắc xuống, qua khe suối, qua miếu đổ, tới bãi sông, rồi nối vào đường than của Mặc qua chợ, qua bến, bắt lên sườn núi theo con đường dốc phía đông, con đường không có bậc đá, chỉ có hai vệt bánh xe chở ngói của mười ngày dựng nhà. Đoạn cuối hắn vừa tô lại bằng mực của Nguỵ Tranh, mực còn ướt, và đoạn ấy dừng ở chân dốc thấp nhất, ngay dưới bức vách đất của Luyện Khí Đường, chỗ ổ thứ tư nằm dưới cái bễ tay mới dựng lại.
Mặc nhìn chỗ mực chưa khô ấy. Hắn không thể xoay cái lán đi chỗ khác, không thể dời mười hai cái ổ, và con đường của cái bóng ấy không phải con đường hắn chọn cho nó. Nguỵ Tranh cúi xuống thổi nhẹ lên đoạn mực ướt, thổi như thổi cho nguội một bát cháo.
"Nó cứ đi như mấy hôm nay thì ba ngày nữa tới chân dốc," Nguỵ Tranh nói.
"Ba ngày," Mặc nói, "để sáu bàn tay học đổi đường, và để ba mươi hai người học bước qua một vạch vôi."

