Sáng ngày hai trăm chín mươi, trước khi chuông ống tre ở cột cổng kịp kêu tiếng nào, Mặc đã đứng trước cái cọc người sửa móc thuyền bọc sắt cho hắn hôm qua, một khúc gỗ lim cao ngang ngực, quấn mấy lá sắt vụn đập mỏng, đóng đinh chồng lên nhau như vảy cá, cứng tới mức mũi dao thường đâm vào chỉ để lại một vết xước.
Hắn đâm Châm, rồi xoay hông đi thức hai, rồi lùi nửa bước để đưa ba nhát thức ba vào một chỗ. Nhát đầu vào đúng, nhát hai lệch xuống một đốt, nhát ba trượt hẳn trên mặt sắt kêu ken két. Hắn làm lại, lần này nhát đầu đã lệch. Lần thứ ba, cái chắn tay hình móng ngựa đẩy cổ tay hắn ra ngoài đúng lúc hắn lùi, và mũi kiếm đi chệch sang mép lá sắt bên cạnh.
Hắn dừng, không đâm tiếp, mà nhìn xuống chân mình.
Gót trái hắn lùi theo thói quen cũ, thói quen của con dao không có chắn tay, lùi nghiêng ra ngoài, và cả người hắn xoay theo cái gót ấy. Hắn lấy mẩu than vạch hai cái vạch trên nền đất, chỗ gót phải đặt khi lùi, rồi đâm lại, chậm, chỉ để gót chân nhớ. Hắn không thử thức nào mới, vì ba thức hắn có thì hắn chưa làm đủ trọn trong lúc bị đẩy lùi, mà cái cần trên dốc cổng là ba nhát vào một vết khi có cái gì đó đang đẩy hắn ra sau.
"Ngươi đâm cái cọc như đâm kẻ thù của cha ngươi," Thẩm Chiêu nói, khi hắn vào bếp uống nước, "mà ngươi không biết cha ngươi là ai."
"Thế ta đâm như thế nào thì đúng."
"Như hôm ở bậc đá," nàng nói, "khi ngươi chưa biết đâm để làm gì, chỉ biết sáng mai lại phải đâm."
Cả buổi sáng hắn đâm như thế, chậm, gót chân đặt đúng vạch than.
Trưa ngày hai trăm chín mươi, Đỗ Nghi với hai người gánh xuống bến thêm một chuyến ngoài dự tính, vẫn bằng lối bụi tre, sau khi Nguỵ Tranh giật dây báo cái bóng vẫn còn ở khúc đường bên kia sông. Tám đồng, mua thêm hai cuộn dây gai với một bó da lót, đủ thay cho những miếng da đã cháy xém sau hai lượt thử hôm trước. Lúc ông về, người sửa móc thuyền đã rèn xong một đoạn nối dự phòng, đúng cỡ đoạn nối ổ thứ tư, và Mặc bảo đừng để nó ở lán rèn.
"Lán rèn đứng trên đường ngoài," hắn nói, "cái gì để trong lán thì cũng đứng trên đường ngoài."
Họ mang đoạn nối dự phòng sang Đan phòng, đặt dưới nong thuốc, cạnh một cái đĩa sắt có nắp vốn là đồ nghề của người sửa móc thuyền, thứ anh ta vẫn dùng để thử lửa than trước khi rèn. Không ai nghĩ cái đĩa ấy có gì đặc biệt. Anh ta mang sang chỉ vì không muốn nó bị vùi nếu cái lán có làm sao.
Chiều ấy, khi gánh dây của Đỗ Nghi đã về tới kho, họ thử tải. Mặc không đẩy thẳng vào cổng như lần trước mà ôm cây gỗ dài đứng dưới dốc phía đông, đúng hướng con đường mực ướt của Nguỵ Tranh, đẩy lên theo đường chéo, mạnh tới mức hai vai kêu răng rắc. Hai lượt, mười hai viên, và tới lượt thứ hai thì người kéo bè ở ổ thứ tư dưới nền lán rèn gọi nhả trước cả Đỗ Nghi.
"Tay tôi tê rồi," anh ta nói, chìa bàn tay ra, các ngón co quắp không duỗi thẳng được. "Không bỏng, mà tê, như ngâm nước đá cả buổi."
"Ổ bốn chịu nặng nhất," Đỗ Nghi nói, nhìn tờ hình, "đường ngoài ngoặt ở đấy, như khúc sông ngoặt thì nước đập vào bờ ấy trước."
"Cái kia mà đánh mạnh hơn ta thì sao," Mặc hỏi.
"Thì ổ bốn tê sớm hơn," ông nói, "và ta phải gọi nhả sớm hơn, mà gọi nhả sớm thì lượt ấy chỉ giữ được nửa nhịp."
Mặc ghi vào sổ, dưới dòng "đánh một đường ngang, thu chậm hơn đánh", một dòng mới, "đẩy hết sức thì ổ bốn tê, mà sức ta chưa bằng nó". Hắn không viết nó bằng mấy cây gỗ, vì hắn không biết.
Ngày hai trăm chín mươi mốt, họ thử đổi đường.
Đỗ Nghi giải thích cho sáu người bằng hai cái cọc bè cắm trên sân. Đường ngoài vỡ thì sáu bàn tay rời đường ngoài, chạy về sáu ổ đường trong, đặt viên mới, dẫn lại. Giữa lúc rời và lúc dẫn lại, cổng không có gì giữ cả.
"Lúc ấy bao lâu," người đàn bà đứng ổ năm hỏi.
"Bằng sáu người chạy hai mươi bước," Đỗ Nghi nói, "chạy nhanh thì ngắn, chạy vấp thì dài."
Lượt đầu, Mặc đẩy gỗ vào đường ngoài, Đỗ Nghi gọi đổi, và người đứng ổ thứ hai nhấc tay lên trước khi Đỗ Nghi gọi hết chữ. Một ổ nhả sớm, năm ổ kia còn dẫn, và cái dòng nước bẻ đầu gỗ bỗng lệch đi, xoáy ngược, hất cây gỗ trượt khỏi tay Mặc, lăn qua vạch đường trong, đập vào chân cột hiên nhà dài. Đầu gỗ chỗ chạm trận cháy xém một khoang đen.
"Lượt đầu qua vạch rồi," Đỗ Nghi nói, "làm lại bằng gỗ nguội."
Người đứng ổ hai đứng nhìn hai bàn tay mình, mặt trắng bệch.
"Tôi nghe tiếng đổi thì tay tôi tự nhấc," anh ta nói. "Tôi không định nhấc."
"Hôm nay nhấc sớm là may," Mặc nói, "vì hôm nay qua vạch chỉ là một cây gỗ. Lần sau anh đợi ông ấy gọi hết chữ."
Không ai mắng anh ta, và gã trai cao gầy với người đục gỗ khiêng cây gỗ cháy xém sang một bên, khiêng cây gỗ thứ hai từ hôm nhấc đá ra thay. Người đàn bà đan lưới cầm một nắm giẻ sạch đi một vòng, quấn giẻ ướt vào lòng bàn tay sáu người giữ trụ, từng người một, quấn chặt, buộc gọn. Hai đứa nhỏ cầm chổi quét tro linh thạch trên mặt ổ. Lau với thằng bé Lạc Thủy từng giữ dây xe đèn quanh gốc dẻ dọn những hòn sỏi vừa văng ra khỏi lối cáng. Ông lão lưng còng đứng ở đầu lối, chỉ chỗ này còn sỏi, chỗ kia còn sỏi.
Không ai giải tán. Không ai bảo thôi để mai, họ dọn xong thì đứng lại đúng chỗ cũ.
Lượt thứ hai, Đỗ Nghi gọi chậm hơn, gọi từng tiếng.
Mặc đẩy, đường ngoài giữ, bẻ đầu gỗ sang bên, và Đỗ Nghi gọi đổi. Sáu bàn tay nhấc lên cùng lúc, sáu người chạy, và trong khoảng hai mươi bước ấy không có gì giữ cái cổng. Cổng trống. Mặc buông cây gỗ, rút thanh đoản kiếm, bước vào giữa khoảng trống ngay trước cái cọc bọc sắt người ta đã khiêng ra đặt giữa lối cổng, và đâm. Châm, rồi xoay hông, rồi ba nhát vào một vết, gót chân đặt đúng vạch than mà hắn đã vạch lại ở đây từ sáng. Nhát thứ ba vừa rút ra thì Đỗ Nghi gọi dẫn, và đường trong đã giữ.
Hắn bước lùi qua vạch đường trong.
Trên mặt cái cọc bọc sắt, chỗ mũi kiếm vừa đi qua, có ba vết xước chồng lên nhau thành một, sâu hơn mọi vết khác trên mặt sắt. Còn trong lúc ấy, theo đúng lời Đỗ Nghi dặn, thằng bé Lạc Thủy đã quấn đầu dây cáng ba vòng quanh cột hiên, ngồi phệt xuống giữ, và hai người đàn ông khiêng cáng của người ở gian ngoài đi hết lối, qua vạch đường trong, vào gian phía trong cùng của nhà dài, Lau đi cạnh với cái bát sành của Thất trên tay.
"Nhịp trống này để ta đứng," Mặc nói với Đỗ Nghi, chỉ khoảng hai mươi bước.
Đỗ Nghi nhìn ba vết xước trên cọc, rồi nhìn hắn.
"Tôi ghi vào sổ là tông chủ đứng," ông nói, "nhưng tôi ghi cả là lượt này cọc không đánh lại."
Sáng hôm sau, hai vai hắn còn âm ấm hai viên đan của hai tối trước, và lúc hắn ra cọc, Thất đã ngồi sẵn trên cái ghế có lưng kê ở đầu lối cáng, chỗ nhìn được cả cái cọc lẫn khoảng hai mươi bước giữa hai vạch vôi, hai bàn tay to đặt trên đầu gối, ngồi xem hắn đâm như ngày xưa có một người ngồi trên bậc đá xem hắn chém.
"Hồi trước chỗ trống ấy là chỗ ta đứng," Thất nói, khi hắn dừng tay lau mồ hôi. "Cái gì to tới thì ta đứng trước, ngươi đứng sau mà đâm."
"Giờ ngươi đứng cạnh nồi," Mặc nói.
"Nồi thì không cần ai đứng chắn," Thất nói, nhìn xuống hai bàn tay mình, rồi nhìn lên cái cọc có ba vết xước chồng lên nhau. "Ngươi đâm cho đúng chỗ ấy là được, đừng có đâm như hôm qua, nhát thứ ba ngươi rút chậm, ta thấy."
Hắn không cãi, vì Thất nói đúng, và đâm lại cho tới khi nhát thứ ba rút về nhanh như hai nhát trước.
Chiều ngày hai trăm chín mươi hai, cả nhà tập rút.
Người già, trẻ con, người ở gian ngoài và hai người đàn bà phụ Đan phòng đi theo lối cáng vào gian trong, nơi Ôn đại nương đã trải sẵn chiếu, theo đúng thứ tự Đỗ Nghi đọc. Lau đi trước tất cả, ôm cái lồng tre của Nắng với cuốn sổ trứng kẹp dưới nách.
"Sao cháu mang sổ trứng," Lão Khúc hỏi.
"Ông bảo ai đặt tên gà thì người ấy đếm trứng," con bé nói. "Gà đi đâu thì sổ đi đấy."
Ôn đại nương đứng ở cửa gian trong, đếm người vào như đếm chiếu.
"Mười bảy," bà nói, khi người cuối cùng của lượt tập đã qua cửa, "mà ta trải có mười sáu chỗ. Ai thừa thì nằm chung với con bé, con bé nằm có một nhúm."
"Cháu nằm với gà," Lau nói từ góc trong.
"Gà nằm với cháu thì có," Ôn đại nương nói, "đêm nó mổ vào tai cho mà xem."
Thất ngồi ghế cạnh nồi gang, chỉ cho hai người phụ chỗ hạ nồi khi có tiếng chuông. Hạ sát vách trong, không hạ giữa lối, và cái niêu cháo nhỏ thì Thất tự ôm, vì Thất nhấc được niêu nhỏ.
"Nồi đặt đây, cáng vẫn đi được," Thất nói, rồi bắt hai người phụ hạ thử ba lần, lần nào cũng hỏi người khiêng cáng có phải nghiêng vai không.
Gạo là việc cuối cùng của ngày, và Lão Khúc với Đỗ Nghi chuyển bao vào gian trong, từng bao một, cho tới khi gian trong không còn chỗ nào trống ngoài lối đi và chỗ trải chiếu. Còn lại ba cái bao đã xúc vơi, gộp lại hai trăm bốn mươi vốc, đành để ở kho thấp phía đông, cái kho lợp tranh cạnh đường đi xuống lán rèn.
"Hai trăm bốn mươi vốc ngủ ngoài vạch," Lão Khúc nói, gõ bàn tính, rồi ghi bằng chữ to cạnh con số, "ta ghi là dễ mất, mai mốt ai đọc sổ thì biết ta đã nói trước."
"Ghi thế là đúng," Đỗ Nghi nói, và lão gật đầu, không cãi câu nào.
Bữa tối ấy Thất ngồi chia ba mươi hai phần, hai người phụ bê nồi, Nguỵ Tranh xuống từ mỏm đá ngồi đúng chỗ cũ cuối hàng thứ ba. Mặc ăn trong gian bếp khi ba mươi mốt bát kia đã vơi. Miếng cháy hôm nay to, giòn, và hắn đặt nó lên tấm thớt định bẻ, rồi không hiểu sao lại rút thanh đoản kiếm ở hông ra, đặt mũi lên miếng cháy.
"Miếng cháy không cần ba nhát," Thẩm Chiêu nói, "chừa cái niêu cho ngày mai."
Hắn cất kiếm, bẻ bằng tay.
"Ngươi tập cả ngày rồi mà vẫn chưa chán à," nàng nói. "Hồi ở bậc đá, nghìn nhát xong là ngươi vứt kiếm chạy đi gánh nước, chẳng bao giờ đâm thêm vào cái gì."
"Hồi ấy ta chưa có gì để giữ," hắn nói.
Nàng im một lúc lâu, và hắn tưởng nàng sẽ nói gì đó về bậc đá, về những buổi sáng ấy, nhưng nàng chỉ nói khi hắn đã ăn tới miếng cuối.
"Có con bé thì ngươi cũng chưa giữ."
Hắn nuốt miếng cuối, không đáp. Câu ấy nằm lại trong gian bếp như mấy hôm nay vẫn nằm, và hắn đã biết không lấy cái gì ra mà đè lên nó.
Chuông ống tre ở cột cổng kêu khi trời vừa tối, kêu một hồi dài, không ngắt. Lúc Mặc ra tới cổng thì Nguỵ Tranh đã từ mỏm đá chạy xuống, thở dốc, cuộn dây gai vắt vai, trán ướt mồ hôi làm mực chảy thành vệt.
"Qua bến rồi," Nguỵ Tranh nói, "từ giờ không tính chuyến mua nào nữa."
"Nó đứng ở chỗ sạp của ngươi dưới gốc gạo nửa buổi," Nguỵ Tranh nói tiếp, "rồi sang chỗ cái chõng cũ của Lão Khúc trên đất cờ xanh, đứng lâu gần bằng thế, rồi mới xuống bến. Cả chợ đóng sạp, không ai bị lấy gì. Nó không nhìn ai."
Lão Khúc đứng sau lưng Đỗ Nghi, nghe tới chữ chõng thì cúi xuống nhìn cái bàn tính trong tay, không gõ hạt nào.
"Cái bè thì sao," Mặc hỏi.
"Vẫn ở bãi lau," Nguỵ Tranh nói, "cờ vẫn cuộn."
Mặc mở sổ dưới ngọn đèn dầu thường Đỗ Nghi che bằng bàn tay, đọc lại những con số hắn đã ghi từ chiều. Một trăm hai mươi sáu đồng, hắn chia không cần bàn tính, được hai mươi mốt lượt. Không phải hai mươi mốt lần đỡ được một đường trượng, mà là hai mươi mốt lần sáu người đặt tay xuống, rồi không còn gì để đặt nữa. Gạo một nghìn bảy trăm sáu mươi vốc, trong đó hai trăm bốn mươi vốc nằm ngoài vạch. Đan ba mươi tư viên, ba mươi hai người, không ai bỏ đi.
Hắn ngẩng lên. Dưới dốc thấp phía đông, ngay dưới bức vách đất của Luyện Khí Đường, ở chỗ con đường mực ướt của Nguỵ Tranh dừng lại, có một đốm sáng đứng yên trong bóng tối, không lay, không soi sáng được cái gì quanh nó. Đó là ngọn đèn ở đầu một cây trượng đen.

