Chiều tối ngày hai trăm chín mươi ba, khi bát cuối của phần muộn đã rửa xong, Đỗ Nghi trải ba dải vải sạch cạnh ba chỗ nằm trong gian trong, dải nào cũng gấp vuông, đặt cạnh một bát nước lấy từ chum trong nhà, và đọc tên từng người bị thương như đọc tên người nhận gạo.
Người kéo bè nằm chỗ thứ nhất, hai bàn tay quấn giẻ đã cháy sém phải gỡ ra từng lớp, lớp dưới cùng dính vào da. Người bê nồi bị xà đập nằm chỗ thứ hai, cánh tay trái sưng tím từ khuỷu tới vai, không giơ lên được. Người đàn bà đứng ổ năm ngồi chỗ thứ ba, hai vệt bỏng trên mu tay đã phồng, bà vẫn đòi tự rửa vì bảo người khác rửa thì đau hơn.
"Vải này mua hôm trước ở bến," Đỗ Nghi nói, nhúng dải đầu tiên vào nước. "Không ai xuống mua được nữa, nên rửa xong thì giặt, giặt xong thì phơi trong nhà, đừng đem ra sân."
Mặc ngồi ở góc, để Ôn đại nương băng tay phải cho hắn. Kẽ tay giữa ngón cái và ngón trỏ rách sâu tới mức bà phải khâu ba mũi bằng chỉ gai, và vai trái hắn thì không giơ lên quá ngực được, cứ nhấc tới đó là cả mảng lưng như có ai đóng đinh.
"Cậu đừng có cựa," bà nói, kéo mũi chỉ thứ hai. "Hồi ở bè, người ta bị móc thuyền móc vào tay còn ngồi yên hơn cậu."
"Bà khâu chậm thôi," hắn nói, khi mũi kim thứ hai xuyên qua mép da.
"Ta khâu nhanh để cậu đau ít," bà nói, "khâu chậm là cho người khâu, không phải cho người bị khâu."
Đỗ Nghi với Lão Khúc kiểm kho khi trời vừa tối. Họ không đi ra kho thấp, vì cái kho ấy giờ là một đống tranh với ngói vỡ nằm ngoài vạch đường ngoài, và dưới đống ấy, ba cái bao gạo vơi đã bục, trộn với dầu thường từ cái chum vỡ, với đất, với tro, mùi dầu bốc lên tới tận cổng. Lão Khúc đứng ở vạch đường trong nhìn ra đống ấy, mũi nhăn lại.
"Gạo trộn dầu thì rửa ba nước vẫn còn mùi," lão nói. "Mà ra đó bới thì phải đi qua chỗ cái kia vừa đứng."
"Không ai ra," Đỗ Nghi nói, "ghi là mất."
Họ đếm gạo trong gian trong, từng bao một, lão đọc, Đỗ Nghi ghi. Một nghìn bốn trăm năm mươi sáu vốc khô, không hơn một vốc, không kém một vốc. Rồi lão đọc thứ đã mất, đọc riêng một trang, không trộn với trang gạo. Cái bễ tay, cái đe đá, cái mái lán, cái hòm đồ nghề của cả nhà với búa to, đục, kìm, giũa, tất cả nằm dưới đống đổ phía đông. Rồi lão đọc thứ còn, cũng một trang riêng. Đoạn nối dự phòng dưới nong thuốc ở Đan phòng, cái đĩa sắt có nắp, cái búa nhỏ người đục gỗ vẫn giắt lưng, cái kìm cháy đen người sửa móc thuyền cầm ra được.
"Chín mươi sáu đồng," lão đọc cuối cùng, cầm túi linh thạch lên lắc.
Rồi lão đặt túi xuống, không đưa cho Đỗ Nghi ngay, mà nhìn Mặc ở góc gian.
"Ta nói một câu," lão nói, "cậu nghe xong thì mắng cũng được."
"Ông nói đi," Mặc nói, "ở đây không ai mắng ai lúc nửa đêm."
"Gửi lại cho Thanh Đăng, có khi còn giữ được phần này," lão nói, nhanh như sợ mình đổi ý. "Ông chưởng môn ấy chưa đi xa. Cậu mang cái lửa ấy về đấy, cái kia đi theo cậu, cậu đi rồi thì núi này còn ba mươi mốt người, một cái Đan phòng, một nghìn bốn trăm vốc gạo. Hôm nay mất một cái nhà, mai mất cái gì nữa, mà cái kia lên tới đây là vì có đường lên, mà đường lên thì có người đã bán."
Không ai trong gian nói gì, và người đàn bà ổ năm thôi rửa tay.
"Ông ấy đòi cái bấc," Mặc nói, "không nhận giữ hộ. Ông ấy đã nói rõ, giao bấc trước, che sau, còn những người trên núi thì không có trong sổ của ông ấy."
"Thế thì cậu đi một mình," lão nói, "còn hơn cả núi."
"Nó không đi theo đường ông bán," Mặc nói, giơ cuốn sổ bằng tay trái, mở trang hai trăm tám mươi ba. "Nó đi lại từng chỗ ta đã đứng, từ khe suối đầu tiên, Nguỵ Tranh vẽ cả rồi, ông không dẫn nó lên đây." Hắn ngừng một chút. "Nhưng cái bè cắm cờ cuộn dưới bãi lau thì đi theo đường ông bán, và nó đang chờ cái kia mở cổng cho nó. Ông đừng đổi tội này lấy tội kia mà tính cho nhẹ."
Lão Khúc nhìn hắn, không cãi, không nói xin lỗi, cũng không nói gì về chuyện đi hay ở nữa.
Đỗ Nghi cầm cái túi linh thạch lên, mở ra, đổ lên tấm chiếu trước mặt hai người.
"Chín mươi sáu," ông nói, "đếm lại cùng ta."
Hai người đếm, mười viên một, chín đống, sáu viên lẻ. Đếm xong, Đỗ Nghi cho lại vào túi, buộc dây, cất vào vạt áo mình, cạnh cái chìa kho gian trong ông vẫn đeo ở thắt lưng.
Chuông ống tre ở cột hiên kêu ba tiếng ngắn. Nguỵ Tranh vẫn nằm trên mái nhà dài từ trưa, không xuống ăn, phần cơm muộn Lau phải trèo thang đưa lên.
"Nó đập đầu rãnh rồi," Nguỵ Tranh nói vọng xuống qua lỗ ngói. "Chỗ rãnh lấy nước từ suối, chỗ dốc nhất, nước không vào nữa. Nó đang đi dọc chân tường phía tây, chậm, như dò tìm chỗ tường thấp."
Mặc đi ra cửa gian bếp, không ra sân, áp mắt vào khe giữa hai tấm ván cửa mà nhìn. Con rãnh nước người Lạc Thủy đào từ mùa khô, con rãnh vẫn chảy mảnh và lạnh qua trước cửa hầm, qua những khóm rau cần của Ôn đại nương, giờ chỉ còn một vệt nước đọng, và đang cạn dần trong bóng tối. Xa hơn, ở chân tường phía tây, ngọn đèn đầu trượng đứng yên một lúc, rồi đi một đoạn, rồi lại đứng.
Hắn nhìn tận mắt rồi mới ghi vào sổ, "đầu rãnh vỡ, nó dọc tường tây".
"Đặt không," Lão Khúc hỏi, tay đã đặt lên túi linh thạch của Đỗ Nghi theo thói quen.
"Chưa tới vạch thì không đặt," Đỗ Nghi nói, "đặt sáu viên để nghe nó gõ tường à."
Ông cho người khiêng hai cái chum to từ Đan phòng vào gian trong, rồi ba cái thùng gỗ, xếp ở góc khô nhất, chỗ ban chiều Ôn đại nương đã trải chiếu cho ba đứa trẻ ngủ. Ba đứa trẻ dồn sang nằm chung với Lau, cãi nhau một lúc xem đứa nào được nằm cạnh lồng gà. Mười người xách xô ra cái chum lớn dưới mái Đan phòng, nơi còn trữ đầy nước từ những ngày đứng lò, xách vào, đổ đầy hai chum với ba thùng.
"Chỗ ngủ khô của ba người đấy," Ôn đại nương nói, nhìn mấy cái chum đứng ở chỗ chiếu vừa cuộn lại. "Giờ là chỗ ngủ của nước."
"Nước thì không ngáy," Đỗ Nghi nói.
"Nước thì đổ," bà nói, "đổ thì ướt chiếu của người nằm cạnh."
Sáu người giữ trụ ngồi ở một góc riêng, thay giẻ, lần lượt nằm nghỉ, người này ngủ thì người kia thức. Người kéo bè không đứng được ổ nữa, ít nhất là đêm nay, và Đỗ Nghi nhìn quanh gian trong, mắt của người lái bè tìm người thay chèo.
Thất ngồi trên ghế cạnh chum, nhìn Đỗ Nghi nhìn quanh.
"Ta đưa nước ở trong," Thất nói, "nồi vẫn phải có người trông."
"Còn ổ thứ tư," Đỗ Nghi nói, khẽ, không nhìn ai.
"Ta không dẫn khí được," Thất nói, "ta mà đứng ở vạch thì ta chỉ đứng được như hồi trước, đứng cho cái gì đánh vào ta trước."
"Không," Mặc nói từ góc gian.
Thất quay sang nhìn hắn, và hắn nói tiếp, giọng không to.
"Ngươi đưa nước. Ổ thứ tư thì người đục gỗ đứng tiếp, sáng nay anh ta đứng thay được một lượt rồi, đêm nay tập dẫn với Đỗ Nghi cho đúng nhịp. Không ai đứng ở vạch bằng ngực mình."
Thất không cãi, chỉ nhìn xuống hai bàn tay to của mình, rồi quay lại với cái chum, múc một gáo nước rót vào bát của người kéo bè, đặt sát bên tay anh ta, chỗ anh ta không cầm được mà vẫn với tới được bằng miệng. Mặc biết Thất đã nghĩ những gì, vì Thất còn vài năm, và đứng ở vạch thì hôm nay có khi giữ được một nhịp, nhưng giữ được hôm nay thì cũng không có thêm năm nào để tiêu cho mai.
Lau thì không ngủ. Con bé ngồi ở góc gian trong cạnh cái lồng tre, cuốn sổ trứng mở trên đầu gối, cầm mẩu than vạch một vạch, rồi ngồi nhìn cái vạch ấy. Mặc đi ngang thì con bé giơ cuốn sổ lên cho hắn xem.
"Hôm nay Nắng vẫn đẻ," Lau nói. "Lúc mái nhà rèn đổ, nó đang ngồi trong lồng, cháu tưởng nó sợ quá thì thôi. Nó vẫn đẻ."
"Quả thứ mấy rồi," Mặc hỏi.
"Quả thứ chín," con bé nói, "cháu ghi rồi, ông Khúc bảo ngày nào cũng phải ghi, có hay không cũng ghi, không thì sổ nói dối."
Hắn nhìn cái vạch thứ chín, nét than run run như tay đứa trẻ đã khóc cả buổi chiều. Hắn gật đầu. Con bé gập sổ lại, ôm vào ngực, nằm xuống cạnh cái lồng.
Trước khi quay vào bếp, hắn đẩy hé cánh cửa chính điện. Không ai vào đó từ sáng, và ba trăm cái bấc vẫn nằm trên án, bụi phủ, không cái nào lệch đi một đốt, như thể cả buổi trận vừa rồi không xảy ra ở cùng một ngọn núi. Cái thứ ngoài kia đã đi qua cả trăm ngọn đèn sáng mà không ngoái lại, và nó cũng không ngoái lại nhìn ba trăm cái bấc nguội này. Tấm ván trước án vẫn khắc một dòng, "Ba trăm bấc. Về: 0." Hắn khép cửa lại, nhẹ tay.
Gần nửa đêm, Lão Khúc lục cái đống vải băng với chiếu cũ người ta đã khiêng từ kho thấp vào từ hôm tập rút, để tìm thêm vải sạch, và tìm thấy một thứ khác. Một cái chìa sắt nhỏ, gỉ ở răng, buộc một sợi dây gai đã mủn. Đó là cái chìa dự phòng của kho gian trong, cái mà tháng trước Đỗ Nghi treo ở kho thấp phòng khi ông xuống bến mà trên núi cần mở kho, cái mà từ hôm dọn kho thấp không ai nhớ ra.
Lão cầm cái chìa trong lòng bàn tay một lúc lâu. Không ai thấy lão tìm được nó, vì cả gian đang ngủ, Đỗ Nghi ngồi ở góc chép sổ dưới ngọn đèn vặn thấp, quay lưng lại.
Lão đứng dậy, đi tới chỗ Đỗ Nghi, đặt cái chìa xuống tấm ván ông đang viết, ngay trước tay ông, rồi đặt cạnh nó tờ kiểm chín mươi sáu viên lão đã ghi buổi tối, chữ to và nghiêng.
"Rơi trong đống vải," lão nói, "của kho trong."
Đỗ Nghi nhìn cái chìa, rồi nhìn lão, không nói cảm ơn, không nói tha, cũng không đưa cái chìa lại cho lão giữ. Ông cầm nó lên, xỏ vào sợi dây ở thắt lưng, cạnh cái chìa chính. Rồi ông nhấc cái chén nước của mình, cái chén ông uống dở, đẩy sang phía chỗ Lão Khúc vẫn ngồi đếm bao.
"Ông ngồi đây," Đỗ Nghi nói, "đếm vải cùng ta."
Lão ngồi xuống, cầm chén nước lên uống, uống hết, và hai người đếm vải tới khuya.
Thất không để nồi gang nguội, vì đáy nồi còn một lớp cơm cháy dày từ phần muộn, Thất bảo hai người phụ đổ nước chum vào, đun liu riu thành một nồi cháo cháy loãng, không đong thêm vốc nào. Thất múc bát cho ba người bị thương trước, rửa bát của ba người ấy trước, rồi mới múc cho sáu người giữ trụ, cho Nguỵ Tranh trên mái, cho người nào còn thức.
Mặc cầm bát bằng tay trái, tay phải băng kín đặt trên đầu gối như một bó củi. Bát của hắn là phần vét cuối nồi, nhiều cháy nhất, đen ở đáy.
"Băng tay ngươi xấu thế kia," Thẩm Chiêu nói, "mai cái áo nhìn thấy chắc không dám nhờ ngươi khâu nữa."
"Ôn đại nương khâu," hắn nói, "ta chỉ ngồi."
"Ta biết," nàng nói, "ta nói cái áo không dám nhờ, chứ ta có nói ngươi khâu đâu."
Hắn uống từng ngụm, chậm, và nàng chờ cho tới khi hắn uống hết, không nói thêm câu nào, không nói về đứa bé ở Thanh Đăng, không nói về nửa bước sáng nay. Hai người đã không còn cần nói hết mọi thứ trong một bữa, và cũng chưa ai nói là đã trả đủ.
Đêm khuya, Mặc trải tờ hình cửa núi lên tấm ván trong bếp, dùng tay trái giữ ngọn đèn, dò lại đường trong. Sáu ổ đường trong còn nguyên, nhưng ở ổ thứ hai, chỗ đầu trượng đập vào cột hiên, mối nối đã cong đi một chút, cong như một cái đinh bị búa gõ lệch. Muốn nắn lại thì phải nung đỏ, mà nung đỏ thì phải có bễ, đập thì phải có đe. Bễ với đe thì nằm dưới đống đổ phía đông, ngoài vạch, dưới cả một mái ngói.
Hắn có một đoạn nối dự phòng dưới nong thuốc, một cái búa nhỏ, một cái kìm cháy đen, và cái bếp gang đang đun cháo cháy.
Mặc lấy than khoanh một vòng quanh ổ thứ hai trên tờ hình, viết bên cạnh, "không nung, thay nguội bằng đoạn dự phòng, bỏ một nhánh", rồi viết thêm dòng dưới, "mai thử trước, chưa thử thì chưa dùng". Trang hai cột không đổi, chín mươi sáu đồng, một nghìn bốn trăm năm mươi sáu vốc, ba mươi hai viên đan, ba mươi hai người. Hắn gập sổ, đặt nó xuống cạnh cái búa nhỏ.
Ngoài tường phía tây, tiếng trượng gõ vào đá vọng vào, một tiếng, rồi im, rồi một tiếng nữa, gần hơn, ở đúng chỗ con rãnh nước đã cạn chảy ngang qua bếp.

