Gần sáng ngày hai trăm chín mươi tư, tiếng trượng gõ đá ngoài tường tây thôi vang, và người sửa móc thuyền là người đầu tiên đi ra bếp, quỳ xuống trước phiến đá phẳng kê nồi gang, lấy tay áo lau sạch lớp tro trên mặt nó như lau một cái bàn sắp có khách.
Phiến đá ấy là thứ cứng nhất còn lại bên trong vạch vôi. Cái đe đá thì không với tới được nữa. Nó nằm dưới mái Luyện Khí Đường, ngoài vạch, dưới cả một đống ngói còn âm ỉ khói, nên sáng nay cái bếp của ba mươi hai người phải làm đe. Cái nồi gang của Thất phải đi chỗ khác.
Thất ngồi trên ghế cạnh vách, nhìn người ta khiêng nồi của mình đi như nhìn người ta khiêng một người quen.
"Nồi dời sang đây," Thất nói, chỉ cái góc sát vách trong, chỗ đất bằng nhất, "kê ba hòn đá là thành bếp, bữa vẫn nấu được, chỉ có khói nó bay vào mắt ta thôi."
Hai người bê nồi kê ba hòn đá đúng chỗ Thất chỉ, đặt nồi lên, nhóm lửa, và Thất đong một lần cho cả ngày như hôm trước, sáu mươi tư vốc, ngồi nhìn gạo trôi xuống nồi mà môi mấp máy đếm theo từng gáo. Mặc đứng ở cửa bếp nhìn cái nồi đã dời chỗ, nhìn phiến đá bếp đã thành đe, rồi mới quay sang Đỗ Nghi.
Đỗ Nghi mang ra đoạn nối dự phòng từ dưới nong thuốc, đoạn nối người sửa móc thuyền rèn từ hôm hai trăm chín mươi cho đúng cỡ ổ thứ tư. Ông đặt nó lên phiến đá cạnh mối nối cong của ổ thứ hai, cái mối người ta vừa cạy lên lúc trời còn tối, rồi lấy cái búa nhỏ người đục gỗ vẫn giắt lưng, cái búa chỉ quen đóng chốt cửa với chân giường, chưa bao giờ đập vào sắt.
"Không nung thì sắt không cong theo ý mình, nó chỉ cong theo ý nó," người sửa móc thuyền nói, cầm cái kìm cháy đen kẹp đầu mối nối, "tôi gõ nhẹ, cậu nhìn chỗ khớp cho tôi."
Tới nhát búa thứ hai mươi, chỗ cong của mối ổ hai mới thẳng lại được một nửa thì trên lưng nó hiện ra một vết rạn mảnh, và anh ta dừng tay.
"Gõ thêm một nhát nữa là nó gãy làm đôi," anh ta nói, "cái này phải có lửa, mà lửa thì đang ở ngoài vạch."
Thế là họ thử cách thứ hai, cách Mặc đã khoanh trên tờ hình từ đêm qua. Đoạn nối dự phòng được mài một đầu bằng đá thường cho vừa lỗ ổ thứ hai, đầu kia nối vào ổ thứ ba. Nhưng đoạn ấy rèn cho ổ thứ tư nên ngắn hơn đoạn cũ một bàn tay. Đặt vào thì đầu này vừa khớp. Đầu kia hụt, hụt đúng một bàn tay của người sửa móc thuyền đặt nằm ngang vào khoảng trống.
Đỗ Nghi trải tờ hình lên mặt phiến đá còn ấm, lấy mẩu than vạch lại đường trong. Sáu ổ vòng sát sau cổng, từ cột hiên phía tây sang cột hiên phía đông, ôm trọn khoảng sân trước nhà dài. Ông gạch đi một khúc ở đầu phía tây, rồi kéo một đường mới cong vào trong, cắt qua góc cuối hiên, ngắn hơn đường cũ cả một sải tay.
"Không đủ dài," ông nói, gõ đầu than vào chỗ vừa gạch. "Bỏ nhánh này thì giữ được cửa kia, giữ cả hai thì không giữ được cái nào."
"Cửa kia rộng bao nhiêu," Mặc hỏi.
"Bằng cái cổng, không rộng hơn một gang," Đỗ Nghi nói, "hai bên cổng thì không còn gì giữ nữa, cái kia muốn vòng qua thì cứ việc vòng, chỉ có điều tôi đoán nó sẽ không vòng."
"Vì nó đi theo cái lửa," Mặc nói, "ta đứng ở cổng thì nó phải tới cổng."
Hắn lấy than viết vào sổ, dưới dòng đêm qua, "đường trong bỏ nhánh tây, còn một cửa", rồi nhìn dòng ấy một lúc, gạch đi chữ "giữ" mà tay hắn đã kịp viết thêm sau chữ "cửa".
"Giữ một cửa thôi," hắn nói với Đỗ Nghi, "ông đừng ghi vào sổ ông là giữ cả sân, mai mốt ai đọc lại thì tưởng cả sân đã từng được giữ."
Đường mới cắt qua góc cuối hiên phía tây, cái góc Ôn đại nương căng dây hong chiếu từ mùa khô, nơi hai nhà người ven sông kê một tấm kệ ván để ngủ cho khỏi ẩm vì gian trong đã chật. Ổ thứ hai mới phải đặt đúng chỗ chân tấm kệ ấy, và người đứng ổ phải quỳ ở đó, ngay trên chỗ hai đứa nhỏ vẫn nằm mỗi đêm.
Đỗ Nghi không cho gỡ kệ ngay mà đi tới chỗ người đàn bà bế con, ngồi xổm xuống cho ngang tầm mắt chị, chỉ vào đường than trên tờ hình rồi chỉ ra góc hiên, nói chậm, nói lại lần nữa, cho tới khi chị gật đầu.
"Thế chỗ khô của nhà tôi đi đâu," chị hỏi, tay vẫn vỗ lưng đứa bé.
"Không còn chỗ khô nào nữa, chỉ còn chỗ chật," Đỗ Nghi nói, "tối nay nhà chị nằm cạnh mấy cái chum nước, nằm sát vào nhau thì cũng ấm."
Chị tự gỡ chăn trên kệ, gấp làm tư, đặt lên cái bàn thấp trong gian trong. Đứa bé trên tay vẫn ngủ. Nhà kia cũng gói chăn mà không cần ai giải thích lần thứ hai. Người đục gỗ với gã trai cao gầy tháo tấm kệ, xếp ván dựa vào vách, còn sợi dây hong chiếu của Ôn đại nương được cởi xuống, cuộn lại, cắm vào một khe tường như người ta cất một thứ còn định dùng lại.
Lúc ấy chuông ống tre trên mái kêu hai tiếng ngắn.
"Nó lên mép đá cao phía tây rồi," Nguỵ Tranh nói vọng xuống qua lỗ ngói. "Rãnh nước nó đánh xong từ đêm, giờ nó đánh chân tường, từng đoạn một, đoạn nào không vỡ thì nó đứng đọc sổ một lúc rồi mới sang đoạn sau, đường trượng thấp, ngang đầu gối người."
"Thấp như thế từ bao giờ," Mặc hỏi.
"Từ lúc nửa đêm," Nguỵ Tranh nói, "hôm ở cổng nó đánh ngang ngực, giờ nó đánh ngang gối, như người cắt cỏ chứ không phải người phá cửa nữa. Còn một thứ. Chỗ ngươi đâm vào sống trượng hôm ở cổng, gần tay cầm, có một vết nứt sáng mảnh. Nó gõ phải đoạn tường nào không vỡ thì vết ấy dài thêm một chút, ta nhìn bốn đoạn rồi, đoạn nào cũng thế."
Mặc nhìn xuống đầu gối mình, nhớ cú sống trượng sượt qua vai trái hôm trước. Cú ngang ngực thì hắn đổi hướng lên cao được, còn cú ngang gối mà đổi lên là đổi thẳng vào ngực mình. Hắn lấy than thêm vào sổ hai dòng ngắn, "nay đánh thấp" và "trượng nứt gần tay cầm, gặp chỗ cản cứng thì nứt thêm", rồi gạch dưới cả hai.
Gần trưa, sáu người vào sáu ổ mới. Người đục gỗ quỳ ở ổ thứ tư, chỗ đêm qua anh ta tập dẫn với Đỗ Nghi tới lúc hai bàn tay run bần bật, còn người đứng ổ thứ hai thì quỳ trên nền đất chỗ chân kệ vừa nhấc đi, đất ở đấy còn trơn vì trước giờ không ai bước lên. Lão Khúc đếm sáu viên dưới mắt Đỗ Nghi. Mặc ôm cây gỗ dài, đẩy vào cửa hẹp.
Lượt đầu hỏng trước khi đầu gỗ tới vạch. Mối nối mài nguội không khít hẳn, khí đi tới ổ thứ hai thì ngập ngừng nửa nhịp như nước gặp chỗ bờ ruộng đắp chưa nện, và cả sáu người dẫn lệch nhau. Đầu gỗ vào tới vạch thì trận chỉ chồm lên ở phía đông, phía tây im lặng, cây gỗ xoay ngang trong tay Mặc, và giẻ quấn tay người ổ hai bốc khói một vệt. Đỗ Nghi gọi nhả ngay nên không ai bỏng thêm. Sáu viên linh thạch đã thành sáu nhúm tro.
"Đẩy mạnh nữa thì nó ghì được," gã trai cao gầy nói, tay vẫn giữ đầu gỗ phía sau.
"Đẩy mạnh nữa thì ổ hai đỏ lên," Mặc nói, "như ổ bốn hôm qua, mà ổ hai thì đứng ngay chỗ hai đứa nhỏ ngủ."
Hắn không đẩy mạnh nữa. Người sửa móc thuyền tháo mối nối ra, đặt lại lên phiến đá bếp, lấy miếng lót dự phòng trong bó da Đỗ Nghi mua hôm hai trăm chín mươi, cắt một mẩu bằng móng tay chèn vào chỗ hở, gõ ba nhát búa nhỏ cho mẩu da lún xuống, rồi lắp lại. Việc ấy mất nửa canh giờ, và trong nửa canh giờ ấy tiếng trượng gõ chân tường tây vọng vào bốn lần, lần sau gần hơn lần trước một chút.
Lượt thứ hai, sáu người dẫn cùng một nhịp. Đầu gỗ vào tới vạch thì cửa hẹp ghì nó lại, bẻ lệch sang một bên, đúng một nhịp ngắn, rồi tản như nước rút khỏi bãi. Mặc rút cây gỗ về. Hắn đi dọc vạch mới, đặt lòng bàn tay trái lên đất ở từng ổ, không dẫn khí, chỉ để nghe xem đất chỗ nào còn ấm. Cả sáu chỗ đều ấm.
"Mười hai viên," Lão Khúc nói, "còn tám mươi tư, ta đếm hai lần rồi."
"Được một nhịp, ở cửa này thôi," Đỗ Nghi nói, "bếp, Đan phòng, chân tường tây thì cái trận này không biết tới nữa."
Mặc gật đầu, và không ai nói thêm về chân tường tây.
Ôn đại nương là người đứng nhìn góc hiên lâu nhất. Chỗ ấy giờ trống hoác. Nền đất còn in bốn vết chân kệ, sợi dây hong chiếu cuộn trong khe tường. Bà đi vào gian trong, lục đống chiếu cũ người ta khiêng từ kho thấp vào hôm tập rút, chọn hai tấm đã mục mép, lấy dao cắt thành sáu miếng vuông, khâu gấp mép bằng chỉ gai, rồi mang ra đặt xuống trước từng ổ, chỗ đầu gối người quỳ.
"Quỳ lên đất thì nửa buổi là đầu gối tím bầm," bà nói. "Chiếu này ta vốn hong cho hai nhà kia nằm, giờ cho sáu cái đầu gối nằm, thì cũng là có người được nằm."
Rồi bà gọi hai người khiêng cáng, bắt khiêng không qua lối cáng một lượt, từ gian ngoài ra tới cổng rồi quay về, đi sát qua ổ thứ hai mới. Cáng không mắc vào cạnh miếng chiếu nào, và bà đứng ở cái góc hiên trống ấy, tay khoanh trước bụng, nhìn cho tới khi cáng đi khuất vào trong.
Mặc uống một viên đan khi bữa trưa còn chưa dọn, ngồi xếp bằng trong gian bếp, dẫn khí đi một vòng cho cái vai trái. Vai không đỡ hẳn. Khí đi tới đâu thì chỗ thịt rách nóng lên tới đó, mà không liền được chút da nào. Rồi hắn ra cái cọc lim bọc sắt, đâm Châm bằng tay phải, chậm, như đâm cái lá đầu tiên trên vách bếp hồi mới lên núi.
Tới nhát thứ ba, mũi chỉ khâu thứ hai ở kẽ tay căng lên. Một giọt máu thấm qua vải băng. Hắn đổi sang đâm thấp, ngang tầm gối cái cọc, bỏ hẳn nhát đâm từ trên xuống, vì nhát ấy kéo cả mảng lưng bên trái lên theo. Đâm thấp thì đúng với đường trượng Nguỵ Tranh vừa báo, mà đâm thấp thì vai trái không phải nhấc, nên hắn đâm thấp cho tới khi giọt máu thôi lan trên vải.
Bữa trưa Thất múc từ cái nồi kê trên ba hòn đá, cơm hơi khê vì bếp mới chưa quen lửa, và không ai nói gì về chuyện khê. Mặc đợi cái bát của người đục gỗ, người ăn chậm nhất vì hai tay còn run, vơi tới đáy rồi mới xới bát mình, ngồi xổm cạnh phiến đá bếp giờ phủ đầy mạt sắt.
"Đá bếp làm đe cả buổi sáng," Thẩm Chiêu nói, "làm xong nó còn được nằm yên đấy nghỉ, không ai bắt nó ra đâm cọc."
"Đá thì không có vai để rách," hắn nói.
"Thế mới nói," nàng nói, "ngươi thử học nó một hôm xem, chứ cứ đà này thì hôm nay ngươi kém cả một phiến đá."
Hắn nhai hết miếng cơm khê, không đáp. Ăn xong, hắn ngồi lại thêm một lúc, lưng dựa vách, không ra cọc ngay.
Đầu chiều, Đỗ Nghi lấy vôi vạch một vệt ngắn ở ngay giữa cửa hẹp, bên ngoài vạch đường trong một bước. Rồi ông mở cuốn sổ của mình, lật tới dòng ông ghi hôm trước và chìa cho Mặc đọc. Ổ bốn, mối hàn củi thường, không chịu được trượng thật, lần sau không đẩy vào.
"Mối giữa ổ năm với ổ sáu là mối hàn bằng than, từ hồi chưa ai tiếc than," ông nói, chỉ khúc đường trong phía đông. "Đó là chỗ tốt nhất còn lại. Cậu muốn nó đánh vào đâu thì phải đứng sao cho đường trượng đi qua chỗ ấy, chứ không phải đi qua chỗ trận ghì mạnh nhất."
"Hôm qua ta dẫn nó vào chỗ yếu mà tưởng là chỗ mạnh," Mặc nói, "lần này dẫn nó vào chỗ mối tốt. Chỗ ấy cứng nhất, thì cái vết nứt trên trượng nó cũng dài thêm nhiều nhất."
Hắn bước ra, đặt chân lên vệt vôi. Sau lưng hắn một bước là vạch đường trong, sau vạch là bậc hiên nhà dài, và cột hiên phía đông đứng sát đấy, chỗ mảng vữa bị đầu trượng đập bật hôm qua vẫn còn trơ gạch. Hắn lùi thử một bước. Gót chân vừa qua vạch. Hắn lùi thêm nửa bước thì gót đã chạm bậc hiên.
"Chỗ đứng này không lùi được hai bước," hắn nói.
"Không lùi được," Đỗ Nghi nói. "Muốn nó vào đúng cửa thì phải có người đứng ngoài vạch kéo nó tới, muốn người ấy có chỗ rút thì cửa phải rộng hơn, mà cửa rộng hơn thì tôi không có sắt."
"Giữa hai nhát nó cho mình ba hơi," Mặc nói. "Trong ba hơi ấy Lão Khúc rút viên, sáu tay đặt xuống, không ai sửa được mối nào. Mối nào hỏng giữa trận thì để hỏng."
"Thì để hỏng," Đỗ Nghi nhắc lại, như ghi thêm một dòng vào sổ. "Còn cái nhìn hôm qua."
Mặc không đáp ngay. Hôm qua cái bóng ấy đã nhìn đúng một lần vào lớp khăn trên trán hắn, lâu bằng một hơi thở, và cú trượng sau đó nặng hơn hẳn. Từ lúc ấy tới giờ nó chưa nhìn ai nữa.
"Nó nhìn một lần thì đã nặng tay một lần," hắn nói. "Nó nhìn lần nữa thì ta biết nó không còn đánh cái cổng."
Hắn mở sổ ngay trên bậc hiên, ghi trang hai cột khi trời còn chưa xế. Tám mươi tư đồng, một nghìn ba trăm chín mươi hai vốc, ba mươi mốt viên đan, ba mươi hai người. Dưới cùng hắn viết thêm một dòng, chữ nhỏ hơn mọi dòng khác, "một bước rút, một nhịp, một cửa".
Rồi hắn đứng yên trên vệt vôi, đặt mũi kiếm thấp xuống ngang tầm gối, nhìn ra phía cổng trống, nơi con đường mất màu từng chấm như ai rắc tro chạy dài xuống dốc. Ngoài tường tây, tiếng trượng gõ đá lại vang lên một tiếng. Rồi im, im lâu hơn mọi lần.

