Sáng ngày hai trăm chín mươi lăm, Thất ngồi trên ghế cạnh cái bếp ba hòn đá, nhìn cái nồi gang đã cọ sạch từ đêm qua, rồi nhìn hai bàn tay mình, rồi gọi gã trai cao gầy lại.
"Nồi này nhờ ngươi nhấc lên kiềng," Thất nói, "ta nhấc được cái niêu, không nhấc được cái này, nhấc xong thì để ta chia, chia thì ta chia được."
Gã trai cao gầy nhấc nồi lên ba hòn đá, đổ nước, và Thất đong ba mươi hai vốc cho bữa sáng, đong từng gáo, môi mấp máy đếm, phần còn lại của ngày để trưa mới đong. Sáu người giữ trụ đêm qua không ai làm bếp được, mười hai bàn tay ấy nằm trên đầu gối, quấn vải, phồng rộp tới tận cổ tay, và những người chưa từng quỳ trên miếng chiếu nào thì nhóm lửa, vo gạo, bê nước thay họ.
Đỗ Nghi ngồi giữa gian trong với hai cái chum nước trữ từ đêm đầu rãnh vỡ, gỡ băng từng người một, rửa bằng nước sạch, đắp lại bằng vải đã giặt phơi trong nhà. Ông rửa cho người đục gỗ lâu nhất, vì hai lòng bàn tay anh ta dính vào lớp giẻ, phải ngâm nước cho mềm mới gỡ ra được. Miếng giẻ cuối cùng rời ra mang theo cả lớp da lòng bàn tay phải, trắng bệch, dính trên vải thành một mảng mỏng, và chỗ da ấy không còn đường chỉ tay nào.
"Hôm qua tôi bảo ông đừng hỏi," người đục gỗ nói, mặt nhăn lại mỗi khi miếng giẻ nhích ra một chút. "Giờ ông hỏi gì cũng được, tôi trả lời hết."
"Tôi không hỏi," Đỗ Nghi nói, "tôi chỉ rửa, rửa xong thì anh ăn, ăn xong thì anh ngủ, ngủ dậy thì tôi mới hỏi."
Người đục gỗ nhìn xuống bàn tay đỏ hỏn của mình, rồi nhìn mảng da trắng còn dính trên miếng giẻ trong chậu.
"Thế để tôi hỏi ông," anh ta nói. "Tay này còn cầm đục được không."
Đỗ Nghi nhúng dải vải sạch vào nước, quấn cho anh ta, quấn chậm hơn mọi lần, và không trả lời. Cả gian trong cũng không ai trả lời thay ông.
Mặc ngồi ở góc bếp, sườn phải quấn một vòng vải quanh bụng, tay phải băng kín, tay trái ba chỗ phồng vừa được Ôn đại nương chích bằng gai bưởi. Lúc Lau mang bát cháo tới cho hắn, con bé mang tới trước cả người ổ hai.
"Đủ bát rồi mới đưa ta," hắn nói. "Mang ra cho chú ổ hai trước, chú ấy ngồi đợi lâu hơn chú."
Lau nhìn cái bát, nhìn hắn, rồi mang đi, và mãi tới khi cả ba mươi mốt bát kia đều đã có người cầm, con bé mới quay lại với bát cuối, cái bát hắn úp trên giá tối qua.
Hắn ăn hết bát cháo rồi mới mở sổ, và hai viên đan để riêng trong gói lá trên xà, hắn gạch cả hai. Đan còn hai mươi tám viên, linh thạch mười tám, không thiếu một viên nào so với số Lão Khúc đọc đêm qua. Gạo một nghìn ba trăm sáu mươi vốc sau bữa sáng, thuốc không còn mẻ nào, người ba mươi hai, không ai mất, sáu người không cầm được thìa.
Ăn xong, hắn ra cổng một mình. Vệt xám dài bằng một người nằm vẫn còn trên mặt đá trước cửa hẹp, không ai bước lên, kể cả gà của Lau, như cả nhà đã ngầm hẹn với nhau từ đêm. Khúc trượng gãy phía đầu, cái phần còn mang cái chụp đèn vỡ, nằm vắt qua đường vôi, ngay chỗ mối giữa ổ năm và ổ sáu. Mối hàn bằng than ấy cong xuống thành một cái võng nông, đủ để người không biết cũng nhìn ra. Đỗ Nghi đã ra trước hắn, ngồi xổm cạnh mối ấy, ngón tay ấn thử lên lưng sắt.
"Mối này còn dẫn được không," Mặc hỏi.
"Dẫn được một lượt nữa thì tôi không dám nói là không," Đỗ Nghi nói, "nhưng tôi không ghi vào sổ là được. Đường trong giờ là cái đường đã cứu nhà mình một đêm, không phải cái đường giữ được nhà mình đêm sau."
Mặc lấy một tấm chiếu rách phủ lên khúc trượng gãy và vệt xám, chặn bốn góc bằng đá, để trẻ con đi qua khỏi phải nhìn.
Qua khe cửa bếp, hắn nhìn sang góc đông, chỗ cái nền Luyện Khí Đường giờ chỉ là một đống ngói, xà với tro, khói đã thôi bốc. Dưới đống ấy có cái bễ, cái đe, cái hòm đồ nghề của cả nhà. Không ai bới, vì cả núi không còn sức nào thừa để bới, và cũng không ai muốn bước ra ngoài vạch sáng nay.
Chuông ống tre trên mái kêu một tiếng ngắn, rồi Nguỵ Tranh thò đầu xuống qua lỗ ngói.
"Dấu chân dừng ở cổng," gã nói, "từ chân dốc lên tới vệt xám trước cửa, chấm nào cũng có, qua vệt xám thì không còn chấm nào, và không có dấu nào đi xuống."
"Còn cái bè dưới bãi lau," Mặc hỏi.
"Nhổ sào lúc gần sáng," Nguỵ Tranh nói, "cờ vẫn cuộn, đi ngược lên phía Đăng Thị, không ai lên bờ. Người đứng trên mô đất hôm trước đi xuống bến trước cả bè."
Mặc ghi hai dòng ấy vào sổ, ngay dưới dòng "qua một lần truy thu", và không ghi chữ an toàn, cũng không ghi chữ xong.
Cái đĩa sắt ở hố tro sau Đan phòng đã nóng tới mức tro quanh nó khô trắng như vôi. Người sửa móc thuyền ngồi canh từ nửa đêm, cứ một lúc lại thay tấm vải ướt đắp trên nắp, lấy gáo tưới nước lên đất quanh hố cho đất sẫm lại, nhưng không dội một giọt nào lên chính cái đĩa.
"Tôi sợ nó gặp nước thì nổ," anh ta nói khi Mặc ra tới, "mà tôi không biết là nó có nổ không, không biết thì tôi không thử."
"Đừng thử," Mặc nói, "nhưng chỗ này gần nong thuốc khô quá, ta mang nó đi chỗ khác."
Tay trái đã phồng, tay phải băng kín, hắn không nhấc nổi bằng tay nào. Người sửa móc thuyền lấy dây gai buộc chặt nắp vào quai đĩa, luồn một cây đòn gánh qua quai, rồi cùng gã trai cao gầy khiêng nó đi qua sân, Mặc đi trước dọn lối, tới cái chỗ trống có mái tranh ngay ngoài lối xuống hầm Ám Lô, nơi trước kia Thất để củi. Chỗ ấy cách Đan phòng hai mươi bước, cách chính điện cả một dãy nhà. Họ hạ cái đĩa xuống nền đất, lót thêm tro quanh chân nó. Sợi sáng trắng vẫn lọt qua khe nắp, rọi lên vách đất một vệt mảnh.
Lão Khúc đứng sau lưng hắn từ lúc nào, nhìn cái vệt sáng ấy, hai tay chắp sau lưng.
"Thứ ấy bán được không," lão hỏi, giọng nhỏ như hỏi giá một món đồ người ta chưa bày ra.
"Không bán thứ chưa biết tên giá," Mặc nói. "Với lại chưa biết nó ở trong cái đĩa được bao lâu."
"Ta hỏi thôi," lão nói, "ta không hỏi lần hai, chỉ có điều cả đời buôn bán, ta chưa thấy thứ hàng nào nằm trong đĩa mà rọi qua được nắp."
Gần trưa, Nguỵ Tranh dẫn một người lên dốc. Gã đã thấy người ấy từ lúc cái bè nhổ sào, một người đàn ông gùi một cái gùi tre, ngồi chờ ở bến đò cũ cả mấy hôm, giờ mới dám đi lên con đường có những chấm xám.
Mặc buộc lại cái khăn mới Ôn đại nương khâu từ đêm qua, khâu bằng nửa tấm vải băng còn thừa, mép gấp vào trong cho khỏi bung, rồi mới ra cổng. Người ấy đứng ở ngoài vạch vôi, đặt cái gùi xuống, cởi cái bao vải buộc trên cùng ra. Lúc người ấy cúi xuống, vành nón lệch đi, và Mặc thấy giữa trán người ấy một đốm lửa nhỏ của người Luyện Khí, không sáng lắm, không giấu.
Người ấy lấy trong bao ra một phong thư dày, gấp ba, buộc dây đỏ, có hai dấu triện đóng chồng lên nhau ở mép. Dấu thứ nhất Mặc nhìn là nhận ra ngay, cái dấu ngọn đèn có đế hắn đã thấy chín năm trên mọi tờ sổ nộp đèn của Thanh Đăng, còn dấu thứ hai là năm ngọn núi xếp thành vòng.
Người ấy đưa phong thư qua vạch, chỉ vào dòng chữ bên ngoài, Khải Phong Tông, Vọng Tinh Phong, rồi chỉ vào ngày ghi bên dưới. Hắn đếm lại theo sổ mình, là ngày hai trăm tám mươi sáu, một hôm sau khi ông chưởng môn đi khỏi cổng. Người ấy gật đầu một cái, đội lại nón, gùi gùi lên vai, quay xuống dốc mà không xin lấy một ngụm nước.
Mặc mang phong thư vào gian trong, ngồi xuống cái bàn thấp Ôn đại nương kê cho ba người bị thương hôm trước, cắt dây đỏ bằng mũi kiếm, mở ra. Trang đầu chép bằng chữ to, đều, của người quen viết sổ, và hắn đọc thành tiếng cho cả gian nghe, vì đây là chuyện của nhà.
Ngũ Phong Đại Bỉ, kỳ tới, mở sau hai năm tính từ ngày đề thư. Thanh Đăng Tông dự, và đặt lên đài một vật cược. Tông nào thắng Thanh Đăng trên đài thì nhận vật ấy về.
Dòng dưới ghi vật cược, và hắn đọc tiếp mà không biết giọng mình đã nhỏ đi.
Thân đệ tử Thẩm Chiêu, hiện giữ trong quan tài băng dưới hầm Dược đường Thanh Đăng Tông, nguyên vẹn.
Mặc đứng dậy. Hắn đứng dậy trước khi hiểu mình đứng dậy để làm gì, như thể phải ra cổng ngay, xuống dốc ngay, đi bốn ngày đường ngay, và cái vai trái giật hắn lại giữa chừng như có ai nắm lấy cổ áo. Cái sườn phải nhói lên một cái theo, và hắn ngồi xuống lại, chậm, tay phải vẫn nắm chuôi đoản kiếm, nắm chặt tới mức mấy mũi chỉ trong kẽ tay căng ra.
Thất không nói gì mà chống tay đứng dậy khỏi ghế, đi tới cái giá, lấy cái bát của hắn đã rửa từ sáng, mang tới đặt xuống bàn, ngay trước mặt hắn, cạnh lá thư. Cái bát không, miệng ngửa lên, như mọi bữa Thất đặt bát trước mặt người sắp ăn.
Đỗ Nghi đặt cuốn sổ ghi thương của ông xuống phía bên kia lá thư. Sáu người giữ trụ, ba người từ hôm trước, người bê nước bị đá sượt tối qua, tất cả có tên trong cuốn sổ ấy, mỗi người một dòng.
Mặc nhìn cái bát, nhìn cuốn sổ thương, rồi buông tay khỏi chuôi kiếm, từng ngón một. Hắn trải lá thư phẳng ra trên mặt bàn, lấy cái bát không chặn một góc, lấy cuốn sổ thương chặn góc kia.
"Đọc lại chỗ thân," Thẩm Chiêu nói, giọng thấp, không run. "Đọc chậm, đừng đọc lướt, Ta không đọc được chữ, ta chỉ nghe được cái ngươi đọc."
Hắn đọc lại, chậm, từng chữ, như hồi mười tuổi nàng bắt hắn đọc lại từng chữ nàng vạch bằng hạt cơm trên mặt bàn. Thân đệ tử Thẩm Chiêu, hiện giữ trong quan tài băng dưới hầm Dược đường Thanh Đăng Tông, nguyên vẹn.
"Nguyên vẹn," nàng nhắc lại, "ông ấy viết chữ ấy cho ai đọc thì ta không biết, nhưng ta nghe cũng thấy đỡ."
"Sư tỷ có muốn ta đọc tiếp không."
"Đọc lại câu trên," nàng nói, "cái câu tông nào thắng thì nhận về ấy."
Hắn đọc lại câu ấy, và nàng im một lúc, lâu tới mức Thất đã quay về ghế, Đỗ Nghi đã gập sổ thương lại một lần rồi mở ra.
"Thế là thân ta cũng biết đi dự hội rồi," nàng nói, và giọng ấy vẫn là giọng nàng nói đùa trên bậc đá, chỉ có điều ở cuối có một thứ gì đó cứng lại, như hạt sạn trong miếng cơm. "Cả đời đèn sáng không được rời núi, giờ thân ta được khiêng lên đài cho năm ngọn núi nhìn. Chỉ có ta là chưa được ai hỏi."
"Ta hỏi," hắn nói.
"Ngươi hỏi cái gì."
"Sư tỷ có muốn đi không."
"Muốn," nàng nói, không chờ. "Nhưng ta muốn đi bằng chân ta, không muốn đi trong cái hòm cho người ta khiêng." Nàng dừng một chút. "Lúc nãy ngươi đứng dậy, ta tưởng ngươi định đi bộ bốn ngày đường với cái vai ấy."
"Ta định thế thật."
"Thế mới là ngươi," nàng nói, "cái thằng quét sân ngày xưa nghe tiếng chuông là chạy. Còn ngồi xuống được, đặt bát lên giấy được, thì mới là người giữ tông. Ta nhìn cả hai, ta chưa biết ta thích cái nào hơn."
Hắn không nhớ từ đêm tổ đường tới giờ nàng đã nói chữ thích về hắn lần nào chưa, dù là để chê, và hắn không dám nhấc bút trong lúc chữ ấy còn nằm trong gian.
Hắn lấy than, mở sổ ra trang mới, viết ba dòng, mỗi dòng một thứ. Thân, ở Thanh Đăng, đem cược ở Đại Bỉ, hai năm. Lửa, ở đây, trong ngực ta. Bấc, đã nộp, chưa biết ở đâu. Viết xong, hắn đọc lại cho nàng nghe, đọc cả cho Đỗ Nghi và Lão Khúc đang ngồi ở mép chiếu.
"Ngươi viết chữ thân to hơn hai chữ kia," nàng nói.
"Thân," hắn nói, khoanh một vòng quanh chữ ấy, "không phải bấc, ông ấy đem cược cái thân, chứ không phải đèn hay bấc của sư tỷ. Ta ghi đúng thì sau này khỏi đi nhầm đường."
"Hai năm," Đỗ Nghi nói, nhẩm tính theo kiểu của ông. "Hai năm thì bè xuôi ngược được bốn mùa nước, không nhiều, cũng không ít, đủ cho người biết chèo, thiếu cho người chưa có bè."
"Lần trước ngươi đọc tới chữ xoá nợ rồi dừng," Thẩm Chiêu nói, như không nghe thấy ai khác. "Lần này ngươi đọc cho hết."
Hắn lật lá thư sang mặt sau. Ở cuối trang công bố có một hàng chữ nhỏ hơn mọi hàng khác, viết sát lề. Tông muốn thách cược phải đủ tư cách theo thể lệ đính kèm. Dưới hàng ấy, gấp làm tư và kẹp vào giữa phong thư, là một tờ giấy khác, mép dán một miếng sáp đỏ chưa ai bóc, đóng dấu năm ngọn núi xếp thành vòng.
Mặc đặt ngón tay lên miếng sáp. Lá thư đã mang tới một con đường, đường lên một cái đài cách đây hai năm, nơi thân nàng sẽ được đặt lên cho người ta thắng. Nhưng trên con đường ấy có chỗ cho Khải Phong Tông đứng hay không, thì còn nằm dưới miếng sáp đỏ này.

