Miếng sáp đỏ không chịu bóc bằng móng tay, nên Mặc lấy mũi đoản kiếm lách vào dưới mép nó, nhấc lên bằng tay trái, bàn tay có ba chỗ phồng Ôn đại nương vừa chích, chậm như người ta gỡ một cái vảy chưa khô.
Tờ giấy bên trong gấp làm tư, chữ nhỏ hơn trang công bố, chép thành từng điều, mỗi điều một dòng, đầu dòng có một chấm son. Đỗ Nghi không đợi ai bảo, lấy cây thước gỗ ông vẫn dùng để kẻ cột sổ gạo, đặt nằm ngang ngay dưới dòng đầu tiên.
"Đọc từng dòng một," ông nói, "đọc hết dòng này thì tôi mới hạ thước xuống dòng dưới. Ở bè, ai đọc lướt tờ giấy thuê bè thì cuối mùa mới biết mình thuê luôn cả cái nợ của chủ bè cũ."
Mặc đọc thành tiếng, chậm, cho nàng trong ngực nghe được. Điều thứ nhất nói về ngày mở đài, điều thứ hai nói về chỗ ngồi của người đến xem, điều thứ ba nói tông nào nhận được thư thì được đến xem, được ngồi, được ghi tên vào sổ khách, và Đỗ Nghi hạ thước xuống. Điều thứ tư thì hắn đọc chậm lại mà không cần ai bảo.
Chỉ tông đứng trong mười hạng đầu Thiên Hạ Bảng của Nhân Giới, theo kỳ công bố gần nhất trước ngày mở đài, mới được lên đài thách cược.
Hắn đọc lại một lần, rồi một lần nữa, cho Thẩm Chiêu nghe rõ từng chữ.
"Được mời tới xem," Đỗ Nghi nói, ngón tay gõ lên điều thứ ba, rồi gõ lên điều thứ tư, "chưa phải được quyền thách. Cái thư gửi tới được cửa nhà cậu, nhưng cái thư không có quyền cho cậu bước lên đài."
"Mười hạng đầu," Mặc nói, "của Nhân Giới, không phải của cả trời đất, mà ta còn chưa biết Nhân Giới có bao nhiêu tông."
Hắn lấy than viết hai dòng ấy vào sổ, ngay dưới ba dòng thân, lửa, bấc hắn viết lúc sáng, và gạch dưới chữ mười hai lần.
Lão Khúc ngồi ở mép chiếu từ lúc miếng sáp còn chưa bóc, nghe tới chữ Thiên Hạ Bảng thì ngẩng lên, như người nghe ai gọi đúng tên một món hàng mình từng bán.
"Tờ ấy dán ở cột cờ bến Đăng Thị," lão nói. "Kỳ nào cũng có người của mấy tông lớn đem xuống thay. Người đi chợ đứng đọc giá gạo xong thì đọc luôn tờ ấy, tông nào lên, tông nào xuống, rồi về nhà kể cho vợ nghe. Ta đọc nó bao nhiêu năm, chưa bao giờ nghĩ có ngày phải tìm tên nhà mình trên đấy."
"Ông biết người ta lên bảng bằng cách nào không," Mặc hỏi.
"Không," lão nói, và lão nói chữ ấy nhanh, như sợ mình kịp bịa ra một câu khác. "Ta chỉ biết người ta đọc nó, còn ai viết nó, viết theo cái gì, thì ta không biết, ai bảo biết là người ấy muốn bán cho cậu cái gì đấy."
Mặc gật đầu, ghi vào sổ một dòng, "chưa biết cách lên bảng", rồi để trống chỗ bên cạnh.
Gần trưa, Lão Khúc lục trong góc kho ra một xấp giấy sang tên cũ buộc dây gai, giấy sạp, giấy chõng, cả giấy nhận gửi đèn, vì ở chợ cái gì cũng sang tên được, và lão nghĩ chỗ đứng trên cái bảng kia có khi cũng có người bán. Đỗ Nghi không cản, chỉ đặt cây thước xuống điều thứ sáu của thể lệ, rồi xoay tờ giấy về phía lão.
Hạng trên bảng do bảng công bố, không sang, không nhượng, không gửi.
Lão đọc hai lần, môi mấp máy, rồi buộc xấp giấy lại, buộc chậm hơn lúc cởi. "Ta không bịa ra một tờ đâu," lão nói trước khi ai kịp nói, "cái tay này bịa giấy đủ rồi."
Rồi lão ngồi im một lúc, ngón tay gõ lên nút dây như gõ bàn tính.
"Thế thì để ta làm một việc khác," lão nói, "ta viết ra mấy câu cần hỏi, bảng làm thế nào, ai đem xuống, kỳ tới bao giờ, tông chưa có tên thì bắt đầu từ đâu. Đường xuống bến mà đi được, thì người nào xuống cầm tờ câu hỏi ấy, hỏi đúng người, đúng câu. Ta biết hỏi ai ở bến, biết ai nói dối, ai nói thật, cái đấy thì ta biết."
"Ông viết đi," Mặc nói, "viết chữ to, để người cầm xuống bến khỏi phải đọc lại hai lần."
Lão viết ngay trên chiếu, bốn câu, mỗi câu một dòng, chữ to và nghiêng, rồi đọc lại cho Đỗ Nghi nghe. Đỗ Nghi bắt lão sửa một câu, câu hỏi "tông nhỏ muốn lên thì phải nộp gì", sửa thành "tông nhỏ muốn lên thì phải làm gì", vì ông bảo hỏi chữ nộp thì người ta sẽ trả lời bằng chữ nộp. Lão sửa, không cãi, và gấp tờ giấy ấy kẹp vào giữa xấp giấy sang tên cũ của mình.
Phần cuối phong thư là một cuộn giấy dài, cuộn chặt, buộc dây đỏ, mép ngoài ẩm và xỉn đi vì những ngày người đưa thư ngồi chờ ở bến đò cũ. Đầu cuộn đóng một dấu niêm, chữ nhỏ ghi niêm tại Đăng Thị, và một dòng chữ to hơn ghi Nhân Giới. Mặc kiểm dấu niêm trước, so với dấu năm ngọn núi trên miếng sáp, rồi mới mở dây.
Hắn không trải cuộn giấy ra ngay, vì mép giấy ẩm dính vào nhau, kéo mạnh thì rách, và một tờ bảng mà rách mất một dòng thì hắn sẽ không bao giờ biết dòng ấy ghi gì. Hắn để Đỗ Nghi gỡ từng vòng, trải lên mặt bàn thấp, chặn hai đầu bằng hai hòn đá kê nồi cũ, rồi để nó nằm đó cho khô, quay mặt chữ xuống dưới, không ai được lật.
"Ngươi không xem trộm một dòng à," Thẩm Chiêu hỏi.
"Giấy khô thì xem cả," hắn nói, "giấy ướt mà xem trộm thì xem được nửa, nửa kia đoán, ta không muốn đoán cái này."
"Ngươi sợ," nàng nói.
"Ta sợ," hắn nói.
Bữa trưa Thất đong ba mươi hai vốc còn lại của ngày, nhờ gã trai cao gầy nhấc nồi, rồi ngồi chia như mọi bữa. Sáu người giữ trụ không ai cầm nổi thìa, hai bàn tay người đục gỗ quấn kín tới cổ tay như hai cái bọc, người đàn bà ổ năm cầm thìa lên được thì làm rơi, người ổ hai thử cầm bằng hai ngón còn lành rồi bỏ cuộc.
Không ai phải bảo ai. Lau ngồi xuống trước người đục gỗ, xúc từng thìa, thổi nguội, đút, như con bé vẫn đút cám cho con Nắng. Đứa nhỏ có con quay quỳ trước người ổ hai, tay run, cơm rơi mất nửa thìa xuống chiếu, nhưng người ổ hai há miệng chờ thìa sau mà không kêu. Người đàn bà đan lưới đút cho người đàn bà ổ năm, vừa đút vừa mắng chị dám ngồi cháy giẻ mà không gọi nhả. Ông lão lưng còng không đút được ai, nên ông ngồi cạnh từng người một, nhặt những hạt cơm rơi trên chiếu bỏ vào bát của mình.
Mặc nhận bát cuối từ tay Thất khi cả gian đã ăn xong, và vì tay phải băng kín, tay trái phồng ba chỗ, hắn kẹp cái bát giữa hai lòng bàn tay như kẹp một hòn than, đưa lên miệng mà húp.
"Sáu cái tay ấy giữ cổng cả đêm," Thất nói, nhìn sang phía sáu người đang được đút, "hôm nay để chúng nó nghỉ. Ngươi mà bắt chúng nó ra tập cái gì để lên cái bảng kia thì ta đổ nồi."
"Ta không bắt ai," Mặc nói.
"Ta biết," Thất nói, "ta nói trước cho chắc, vì ngươi nhìn cái tờ giấy kia như hồi ngươi nhìn trăng tròn thứ ba, mà hồi ấy ngươi ăn một bữa nhịn một bữa."
Chiều, Mặc ngồi một mình ở góc bếp với túi đan. Hai mươi tám viên, xếp ra lòng bàn tay trái, đếm, rồi đếm lại. Hắn biết nếu ngồi dẫn liền một tháng, nuốt hết hai mươi tám viên ấy, mỗi ngày một viên, thì cái đế Trúc Cơ dưới bụng sẽ dày lên trông thấy. Rồi hắn nhìn sang cuốn sổ thương Đỗ Nghi để ở cạnh bếp, sáu dòng của sáu người giữ trụ, ba dòng của ba người từ hôm trước, một dòng của người bê nước bị đá sượt, và dòng của chính hắn. Đan Tụ Khí không liền được thịt, nhưng đan bán được, mà bán được thì ra gạo, ra vải băng, ra tiền thuốc khi đường xuống bến đi được.
Hắn cho hai mươi tám viên lại vào túi, buộc dây.
"Đan còn hai mươi tám," hắn nói với Lão Khúc khi lão ghé vào lấy giấy than. "Ông ghi thế, đừng ghi nó thành một cảnh giới. Nó là hai mươi tám viên, hai mươi tám viên thì còn đổi ra được thứ khác."
"Ta ghi là hai mươi tám," lão nói, "ta có biết cảnh giới là cái gì đâu mà ghi."
Mặc đi ra chỗ mái tranh ngoài lối xuống hầm, nhìn cái đĩa sắt một lúc, sợi sáng trắng vẫn lọt qua khe nắp, và hắn không mở nắp. Hắn đã nghe đủ về thứ trong đó để biết hắn chưa biết gì về nó, và một thứ chưa biết thì không nuốt vào người lúc đang nóng ruột.
Lúc quay vào, hắn thấy Thất cúi xuống nhặt cái gáo rơi cạnh chum, cúi chậm, một tay xoa vào sườn trái, ngay chỗ thường đè giáp ngày trước. Thất nhặt được cái gáo, đứng lên, thấy hắn nhìn thì quay đi múc nước. Mặc nhớ tháng trước Thất cúi nhặt gáo không cần xoa sườn.
Hắn mở sổ ra trang mới, trang có ba dòng thân, lửa, bấc, và viết hai con số cạnh nhau ở đầu trang. Mười năm, ngày hai trăm chín mươi lăm, và Đại Bỉ, hai năm. Dưới cùng hắn viết thêm một việc, chữ nhỏ, không gạch dưới, "hỏi cách giữ người chỉ còn vài năm". Hắn không viết tên ai, vì người ấy đang đứng ngay cạnh chum.
"Giấy mời không nấu thành cơm được," Thẩm Chiêu nói, khi hắn còn cầm than. "Phần trong bát của ngươi lúc trưa còn một miếng cháy, ngươi bỏ quên trên giá. Ăn nốt đi rồi hẵng tính chuyện lên đài."
Hắn ra giá lấy miếng cháy, ăn, nhai chậm, và nàng không nói gì thêm cho tới khi hắn nuốt miếng cuối.
Tới cuối chiều, cuộn giấy trên bàn thấp đã khô. Đỗ Nghi lật nó lại, mặt chữ lên trên, và nó dài gần bằng cái bàn, phải lấy thêm cái bát không của Mặc chặn một góc, cuốn sổ gạo chặn góc kia. Dòng trên cùng viết chữ to nhất, Thiên Hạ Bảng, Nhân Giới, kỳ công bố mùa này. Dưới đó là những hàng tên tông chạy dài xuống, mỗi hàng một con số, chữ nhỏ dần.
Nguỵ Tranh trèo xuống khỏi mái nhà dài lúc ấy, lần đầu từ sáng hôm trước. Gã gỡ cây cung, dựng nó ở góc xa nhất, rồi đứng ở cửa gian trong. Gã không lại gần cái bàn. Gã nhìn cuộn giấy trải trên đó như người ta nhìn một con chó dữ đang ngủ, biết nó là chó của nhà hàng xóm, biết nó chưa cắn ai trong nhà này, mà vẫn không muốn bước qua trước mũi nó.
"Ngươi không vào xem à," Lau hỏi.
"Ta xem tờ ấy cả đời rồi," Nguỵ Tranh nói. "Ta không cần xem nữa."
Rồi gã ngồi xuống bậc cửa, quay lưng vào trong.
Mặc mở cuốn sổ của mình ra, đặt cạnh tờ bảng, lật về trang đầu tiên của Khải Phong Tông, trang hắn viết ba chữ ấy đêm khắc bia, chữ Phong có bộ kim nghiêng nét thứ ba. Hắn để ngón tay trái lên ba chữ ấy trong sổ.
Rồi hắn đặt ngón tay phải, ngón còn lòi ra khỏi lớp băng, lên dòng đầu tiên của tờ bảng, chỗ con số một, và bắt đầu đọc xuống.

