Thông báo ngừng phát hành tại Việt Nam

Từ ngày 01/01/2027, Last Lantern sẽ ngừng phát hành tại Việt Nam trên Google Play và App Store. Người chơi đã cài vẫn có thể tiếp tục chơi. Cảm ơn bạn đã đồng hành cùng Last Lantern!

Quyển 2 · Thiên Hạ Bảng

Chương 2: Nửa ngày dưới nước

12 phút đọc·

Mục lục18 px

Đỗ Nghi đứng trước tấm ván bếp từ lúc gà gáy, tay cầm mẩu than Thất bỏ lại trên giá, và ông cầm nó lơ lửng trên mặt gỗ như cầm con dao chưa biết nên cắt vào đâu.

Mặc buộc lại dải băng trên vai trái, kéo nút bằng răng vì tay phải chưa đủ sức, rồi bước tới đứng cạnh ông. Hàng vạch đen chen nhau gần kín mặt gỗ, chỉ còn một dải trống hẹp ở mép dưới, và ngay dưới nét của bữa tối hôm qua có cái ô bữa sáng vẫn nằm đó, trắng như chỗ một chiếc răng mới rụng.

"Ta đếm rồi," Đỗ Nghi nói mà mắt không rời tấm ván, "còn mười bảy chỗ nữa là hết ván, chưa kể cái ô này."

"Ô ấy ông đừng vạch," Mặc nói.

"Ta không vạch, nét ấy của Thất, ta vạch hộ thì nó thành nét của ta," ông nói, "nhưng từ tối nay ta vạch thay hai nét một ngày, và ta nói trước cho ngươi biết, mười bảy chỗ là tám ngày rưỡi, tới tối ngày ba trăm lẻ sáu. Ván hết chỗ mà người vạch chưa về thì ta thôi đếm bữa, ta cũng không xin ván mới."

Hắn hiểu đó không phải lời dọa mà là lời một người già đặt hạn hộ kẻ khác, vì chính kẻ ấy không dám đặt. Hắn mở cuốn sổ ra, ghi bằng bàn tay trái nghiêng hẳn về một phía, dưới dòng ngày hai trăm chín mươi tám, một dòng ngắn. Thất, trước khi ván đầy, mười bảy chỗ.

Hắn dẫn Đỗ Nghi ra mái tranh ngoài lối hầm, chỉ cho ông cái đĩa sắt dưới lớp tro, tám hạt trong tám cái hố men xanh, dây buộc hai nút. Rồi hắn nói thẳng rằng người canh nó phải là người không bao giờ mở nắp chỉ vì tò mò. Đỗ Nghi nghe xong thì không hỏi lửa ấy dùng vào việc gì, ông chỉ lấy đòn gánh gõ nhẹ lên thành đĩa hai lần như gõ vào thùng nước xem còn bao nhiêu, và đặt ghế của mình ngay chỗ lối xuống hầm.

"Ca ngày ta canh," ông nói, "ca đêm hai người nhà sông thay nhau, mỗi người nửa đêm, dây buộc hai nút, ai cởi thì buộc lại đúng hai nút."

Lão Khúc đã ngồi sẵn ở bậc cửa với chiếc hộp thiếc đựng bàn tính đặt trên đầu gối, chẳng ai gọi mà lão vẫn tới, và khi Mặc kể xong mũi tên than trên ván thì lão gẩy hai hạt bàn tính rồi nói luôn.

"Dốc xuống sông chỉ có hai đường," lão nói. "Một đường ra bến cũ rồi ngược về Đăng Thị, một đường xuôi mãi tới bãi đá cuối sông, chỗ ta đào được mảnh bia cho ngươi hồi trước. Ta bán đường hàng, chưa từng bán đường đoán, nên ta chỉ dẫn ngươi tới những chỗ chân ta từng đứng, còn thằng bé đi chỗ nào thì sông biết, ta không biết."

"Bến trước," Mặc nói, "bãi đá sau."

"Bến trước vì ở đó có người ta muốn tránh mặt," lão nói, "mà muốn tránh thì phải đi ngang qua trước để biết hắn đang ngồi ở đâu."

Họ đi theo bờ sông khi sương còn đọng trên lau. Lão đi trước, mỗi mươi bước dừng lại cúi xuống một lần, chỉ cho hắn vệt gỉ nâu trên mặt đá nơi một mép giáp đã cọ qua. Nhìn kỹ thì không phải một mà là năm vệt, nằm cách đều nhau, bước chân đều và không ai rẽ ra nhặt thứ gì. Mặc nhìn vệt thứ tư, rồi nhìn một dấu đế rất hẹp nằm lọt giữa vệt thứ ba và thứ tư, dấu của một bàn chân không giáp, bước hơi chậm và hơi kéo, hệt cái chân của người luôn đặt phía lành xuống trước.

"Nó đi theo họ," Mặc nói, "không phải bị lôi."

"Ừ," lão nói, "nhưng ta chưa nói được nó đi theo vì muốn hay vì không còn đường nào khác."

Sườn phải hắn kéo đau mỗi lần cúi, và lần thứ ba Lão Khúc quay lại nhìn hắn rồi bẻ đôi nắm cơm nguội trong túi, đưa nửa lớn hơn về phía hắn.

"Ăn đi," lão nói, "nửa nắm này ta tính ngươi một vốc gạo, về núi trả. Ngươi mà ngã ở đây thì ta tính tiền cõng, giá cõng người đắt gấp ba giá cõng hàng."

Hắn nhìn nửa nắm cơm rồi nhìn lão, thấy lão đã nhai phần của mình từ khi nào, nên hắn nhận, ăn nhanh mà không dám nuốt vội, vì đã lâu lắm hắn mới được ăn trước một người khác.

Bến cũ hiện ra qua màn lau lúc mặt trời lên cao ngang ngọn cây. Cái bến hắn nhớ là một bãi bùn với hai cọc tre mục, nay giữa bãi dựng một cột gỗ mới đẽo, cao gấp đôi đầu người, trên đóng một tờ giấy vàng viền xanh và một lá cờ cuộn chặt, buộc bằng dây đỏ. Dưới cột có một gã áo xanh ngồi trên thùng gỗ, đang dùng móng ngón cái bóc từng mảnh sơn ở tay vịn, bóc xong mảnh nào là búng nó xuống nước, trông rất rảnh và rất nghiêm chỉnh trong cái rảnh ấy.

Mặc nằm lại sau bụi lau, kéo khăn che kín trán, còn Lão Khúc thì chỉnh lại quai hộp thiếc, nhổ một bãi nước bọt cho ra dáng kẻ đi đường xa, rồi lững thững bước ra bãi như một ông lão bán dép đi lạc.

"Lão Khúc đấy à?" gã áo xanh nói mà không ngẩng đầu. "Ta tưởng ông chết cùng chuyến bè hôm trước, nghe nói người nhà sông bỏ bến cả rồi."

"Chết thì ai bán đường cho Thanh Vân các ngươi!" lão nói.

"Cũng phải," gã nói, lúc này mới ngẩng lên, cười bằng một bên mép, "nhưng ông đừng tưởng ông còn được bán lâu, đường hàng bây giờ do cột này nói, không do cái bàn tính của ông." Gã dùng đốt ngón tay gõ vào tờ giấy vàng. "Lạc Thủy, mười bốn ngọn đèn nộp thay còn chưa thấy ngọn nào, còn sáu mươi bảy ngày nữa là tới kỳ bảng thứ nhất. Ông biết nhà ấy ở đâu thì nhắn giùm, ta không đi tìm họ, nhưng tới ngày ấy Thanh Vân tự đi lấy, mà đi lấy thì ta không hứa lấy đèn."

"Lấy gì?" lão hỏi. "Lấy cân hay lấy đếm, ông nói trước cho ta còn biết đường báo giá."

"Cái gì mang được," gã nói, và nhìn lên trời như đang nghĩ tới bữa trưa. "Đèn thì nhẹ, người thì nặng hơn, nhưng nặng quá thì cũng có xe." Rồi gã chỉ ngón cái xuống lối sỏi ven sông, cười thành tiếng. "Lúc gà gáy có năm bộ giáp xám đi qua đây, đằng sau lẽo đẽo một thằng gầy áo đen, không giáp, chẳng ai trói. Hàng tự đi thì đỡ tốn xe."

Áo đen không giáp là áo cụt của nhà. Sau bụi lau, Mặc thấy bàn tay phải mình đã siết quanh chuôi đoản kiếm tới trắng khớp, thấy mình đã quỳ nhổm lên một nửa mà không nhớ đã làm lúc nào. Hắn ghi vào đầu một con số, sáu mươi bảy, rồi ép cái nửa người ấy ngồi xuống lại. Cái khung đen trên trán hắn đang ở ngay dưới tầm mắt một người Thanh Vân, và nếu hắn đứng dậy bây giờ thì người phải trả là mười bốn ngọn đèn nằm trên ván xe dưới hiên nhà hắn.

"Ta già rồi," Lão Khúc nói, đủ lớn để cả bụi lau nghe được, "già rồi thì không biết nhà nào ở đâu."

"Già rồi thì ở nhà bán dép," gã nói, "đừng ra bến."

"Bán dép cũng phải có đường mà đi giao," lão nói, quay lưng, chậm rãi đi vòng quanh bãi bùn thêm một vòng rồi mới trở về phía lau, mỗi bước đều là bước của người không có gì để giấu.

Họ không dừng lại bến mà lội qua khúc cạn phía trên, nước lạnh tới đầu gối, và mãi tới khi bãi bùn khuất sau hai khúc quanh Lão mới thôi cười, hay đúng hơn là thôi làm cái điệu bộ của kẻ không có gì.

"Thằng đó sáu mươi bảy ngày nữa vẫn ngồi đúng thùng ấy," lão nói, "nên ta nhổ bãi nước bọt đúng vào chỗ nó sẽ ngồi."

"Ông nhổ lên bùn."

"Bùn thì nó cũng giẫm," lão nói.

Họ xuống tới bãi đá cuối sông khi nắng đã lên gần đỉnh đầu. Đó không phải một bãi mà là cả một lòng sông khô một nửa, đá lăn nhẵn bóng, giữa dòng nước chỉ còn chảy thành một lớp mỏng. Ở chỗ Lão từng đào mảnh bia ngày trước vẫn còn cái hố nông, nay đã ngập nước tới mắt cá.

Hắn trải bản chà lên nền đá khô, đem so với nét mờ trên một phiến đá dài bằng người nằm, nửa thò khỏi nước như lưng trâu đang tắm. Phiến đá gãy ngang ở đầu bên kia, và đúng chỗ gãy, nét kiếm đâm tới một điểm rồi bẻ sang trái, chứ không xoáy sang phải như bản hắn đã tự nối.

"Ngươi nối sai rồi!" Lão Khúc nói, vui như bắt được kẻ cân điêu.

"Phần còn lại nằm ở mặt dưới," hắn nói.

Hắn đứng nhìn dải nước mỏng liếm vào chân phiến đá. Năm bộ giáp và một người áo đen đã qua bến từ lúc gà gáy, bỏ phiến đá lại thì hắn còn đuổi thêm được một đoạn sông trước khi mặt trời xuống, còn ở lại tức là hắn đã chọn nét kiếm trước người. Câu này không ai đáp thay được, nên hắn nói to lên cho chính mình nghe.

"Nửa ngày," hắn nói. "Ta lấy nửa ngày của Thất để lật cái phiến này."

"Ngày ấy của ngươi chứ của ai," Lão Khúc nói. "Ta buôn bán hai mươi năm, chưa thấy ai vay được ngày của người khác, vay được thì ta đã bán ngày, bán đường làm gì cho mỏi chân."

Lão xắn ống quần đứng vào chỗ bẩy nặng nhất trước khi hắn kịp bảo, và họ bẩy bằng nêm gỗ với đá kê, phiến đá nhích được ngón tay nào thì sườn phải hắn kêu lên ngón ấy. Tới giữa trưa nửa phiến ra khỏi nước, mặt dưới nhẵn và còn nguyên một đoạn nét kiếm mà nước sông đã giữ cho khỏi mòn. Ở đầu nét có hai vết lõm nông hình gót chân, một trước một sau, cách nhau ngắn hơn bước thường của hắn chừng nửa bàn chân.

Hắn mang bản chà vào một hõm đá có mái cách bãi chừng trăm bước, đi vòng quanh nó hai lượt rồi mới ngồi, để Lão canh ngoài cửa.

"Dịch tấm giấy sang phải một ngón," Thẩm Chiêu nói, giọng khàn sau nửa ngày im.

Hắn dịch. Nàng im một lúc, và trong cái im ấy hắn thấy mắt mình đảo theo từng nét mòn như đảo theo một dải chỉ.

"Chữ này ta dạy ngươi rồi," nàng nói, giọng đổi hẳn, chậm và nhỏ. "Dưới hiên tàng kinh, mùa mưa năm đầu ngươi lên núi. Ngươi chép nó hai lần, hai lần thành hai chữ khác nhau, lần nào cũng tin mình đúng."

"Ta không nhớ," hắn nói.

"Ta nhớ," nàng nói, rồi dừng một lúc lâu, và hắn không hỏi tiếp. "Chữ dưới chỗ gãy chỉ bước chân. Chân đi trước một nhịp, kiếm theo sau."

Hắn chép đúng những nét còn thấy, chỗ nào mất thì để trắng, không tự nối thêm một nét nào nữa, rồi gấp bản chép mới vào trong bản chà cũ, ngón tay trái trầy lại quanh chỗ phồng, rớm máu thấm một chấm nhỏ lên mép giấy.

Hắn ngồi trong hõm thêm một lúc, nghe tiếng nước chảy mỏng ngoài bãi, nghe lão ho nhẹ hai lần ngoài cửa hõm, tín hiệu họ đã hẹn, nghĩa là ngoài ấy chưa có gì. Rồi hắn nhận ra mình vừa ngồi trong chỗ tối kín suốt cả buổi trưa mà không hề nghĩ tới Thất một lần, và cái nhận ra ấy nặng như cục đá lật trong ngực.

Khi họ bước ra khỏi hõm thì mặt trời đã nghiêng về phía tây. Hắn không đi tìm dấu ngay mà lội ra phiến đá trước, cắm một cọng lau vào khe đá ở đúng chỗ nét khắc dừng, rồi đặt gót trái vào vết lõm trước, gót phải vào vết sau. Ba tháng nay mũi Châm của hắn lệch sang phải nửa tấc, và hắn đã đổ cho cổ tay. Lần này chân trái đặt xuống trước một nhịp, kiếm đi sau, và mũi kiếm chẻ cọng lau làm đôi ngay chỗ người xưa dừng nét.

"Nửa tấc," Lão Khúc nói từ trên bờ, quên cả gẩy bàn tính. "Ba tháng ngươi lệch nửa tấc, cái tin này ta bán được bao nhiêu?"

"Không bán," hắn nói, rồi lội vào bờ tìm dấu chân.

Hắn lên bờ, tới chỗ lòng sông khô tìm cái dấu đế hẹp lọt giữa năm vệt gỉ, nhưng con nước lên lúc quá trưa đã tràn qua khúc sỏi mềm rồi rút đi, kéo sỏi trôi lấp kín, chỗ ấy giờ phẳng như vừa có ai lấy chổi quét. Lão Khúc lần theo đường cũ một lượt, rồi đứng thẳng dậy, hai tay chống thắt lưng.

"Mất rồi!" lão nói. "Nếu ban sáng ta đi thẳng thì ta còn bám được."

"Ta biết," hắn nói. "Ông đừng nói như thể ta không biết."

"Ta nói cho có người nói," lão nói. "Nửa ngày công bẩy đá của ta, ta không tính tiền. Ngươi ghi vào sổ là ta không tính, kẻo mai ta quên mà đòi."

Hắn không đáp, chỉ gấp bản chà bỏ vào trong áo sát ngực, nơi dải băng buộc chặt nhất, và nhìn lối khỏi bãi, một lối duy nhất chẻ làm hai nhánh rồi lại hẹp lại, nơi sỏi đã khô thành một mặt phẳng không dấu vết. Hắn quyết chọn một chỗ bằng phẳng ngoài cửa bãi để tập vài đường cho sáng mai, không đuổi mù trong đêm khi sườn còn đau. Nếu Thất vẫn đi theo năm người kia thì năm người ấy sẽ còn để lại dấu ở chỗ nào đất mềm hơn.

Họ đi ra cửa bãi trong ánh chiều đỏ, Lão đi trước, và ở chỗ đất mềm cuối cùng, nơi lòng sông hẹp lại thành một cái cổ chai, Lão Khúc khựng lại, đặt hộp thiếc xuống, rồi từ từ ngồi xổm.

Trên mặt đất sũng, ngay sau lưng họ, ở phía họ vừa đi qua mà lúc vào không hề có, là ba vệt giáp mới còn ướt nước, cọ rất sâu, mỗi vệt hướng thẳng vào trong bãi.

Hết chương 2

Tự tay đưa họ về nhà trong game

Thắp lại đèn, dựng lại tông môn trong Last Lantern.

Google PlayApp Store