Thông báo ngừng phát hành tại Việt Nam

Từ ngày 01/01/2027, Last Lantern sẽ ngừng phát hành tại Việt Nam trên Google Play và App Store. Người chơi đã cài vẫn có thể tiếp tục chơi. Cảm ơn bạn đã đồng hành cùng Last Lantern!

Quyển 2 · Thiên Hạ Bảng

Chương 3: Một nét trả về

13 phút đọc·

Mục lục18 px

Đêm ấy họ lùi vào hõm đá có mái, không nhóm lửa. Qua khe giữa hai tảng đá, Mặc nằm nhìn ba bộ giáp đi một vòng quanh cổ chai lúc nước rút hẳn, cách chỗ hắn bốn mươi bước, đầu giáo gạt từng hòn đá rồi ra đúng lối đã vào. Lão Khúc nín thở suốt vòng ấy, tới khi tiếng giáp mất hẳn thì ôm hộp thiếc vào ngực ngủ ngáy luôn tới sáng.

Mặc không ngủ, ngồi bó gối nhìn bản chà tới khi trời sáng và những nét mực nhoè vào nhau. Hắn rải một nắm sỏi lên nền đá phẳng ngoài cửa, xếp thành hai hàng dấu chân theo đúng hai vết lõm trên phiến đá, rồi đứng vào chỗ bắt đầu, cầm đoản kiếm bằng tay phải đã quấn lại hai lớp băng, và bước đổi chân sớm hơn thói quen đúng một nhịp.

Mũi Châm kéo lệch, cắm vào cọc tre hắn buộc sợi xơ ở bên trái nửa tấc. Hắn làm lại từ đầu, hít một hơi dài trước khi đổi chân, và lần thứ ba mũi kiếm lại lệch về phía cũ. Trên phiến đá có hai vết lõm giữ gót cho hắn, còn ở đây chỉ có sỏi, và cổ tay hắn vẫn nhớ ba tháng đi đường cũ.

"Cổ tay không có lỗi," Thẩm Chiêu nói trong ngực, đủ khẽ để cả hõm không nghe thấy gì ngoài một hơi thở.

"Ta đối rồi, đối cả hai bản chép."

"Mắt ngươi đối," nàng nói, "còn chân ngươi chưa đọc chữ nào."

Hắn dừng lại, nhìn xuống hai hàng sỏi, rồi tập bước không kiếm mười lần, bước đổi chân theo hàng sỏi như trẻ con học nhảy ô, cho tới khi gót trái đặt đúng viên đá mà không cần nhìn. Lần thứ mười một hắn cầm kiếm lên, và mũi Châm vào đúng điểm trên sợi xơ, rạch ngang một đường ngắn gắt, không xé, không lệch, đúng như nhát chẻ cọng lau trên phiến đá chiều qua.

"Được," nàng nói, và không nói thêm chữ nào.

Gần trưa, trên mỏm đá phía trên hõm có tiếng sỏi lăn, hắn rút kiếm quay phắt lại và thấy Nguỵ Tranh ngồi xổm đó từ lúc nào, cung khoác ngang lưng, hai đầu gối kẹp một túi vải căng phồng, mặt bôi mực đen như mọi hôm.

"Ngươi mà là lính thì ngươi chết hai lần rồi," gã nói. "Ta ngồi đây từ lúc ngươi tập bước lần thứ tư."

"Ngươi tới đây làm gì?" Mặc hỏi, hạ kiếm xuống.

"Đỗ Nghi gõ lên cái ván tới sáng, rồi bắt ta đi," gã nói, quăng túi xuống, trong đó có hai cuộn dây, một túi gạo nhỏ, băng sạch và cái kẹp sắt dài hắn nhận ra ngay là kẹp bếp ông dùng gắp than. "Ông bảo ngươi không về thì hoặc đã tìm thấy Thất, hoặc đã chọn cái khác hơn Thất. Ông không biết cái nào tệ hơn."

"Cái sau," Mặc nói, "nhưng ta không hối."

"Ba vệt giáp ở cổ chai," gã nói. "Đi tuần, trời ngả thì tới cổ chai, nước rút thì vào một vòng, gần sáng qua khúc lội về bắc, ngày một vòng."

"Đêm qua ta nằm nhìn chúng đi," Mặc nói.

"Trong tối thì ngươi nhìn được gì?" gã nói, không chờ hắn cãi. "Ta nằm ở khúc lội lúc gần sáng, chúng đi qua cách ta năm bước. Mỗi đứa hai vằn đồng trên vai."

"Vằn đồng là cái gì?" Mặc hỏi.

Lão Khúc, ngồi dậy từ lúc nào, ôm hộp thiếc đáp thay, giọng còn khàn ngái ngủ nhưng nghe đã tỉnh hẳn. "Hàng bến phát cho lính đội áp, ta bán đường cho họ mười năm, một vằn một bậc nhỏ, bốn vằn thì ngươi khỏi hỏi giá." Lão nhìn Mặc rồi mới nói thêm, nhẹ hơn. "Ba thằng trung kỳ, ngươi mới sơ. Ta không ngăn, nhưng tin ngươi chết ở cổ chai thì ta bán chẳng được mấy đồng, mà ta lại mất một người mua."

Mặc ghi hai chữ "hai vằn" vào sổ, rồi ghi tiếp một dòng khác ngay dưới, mười lăm chỗ, vì tối qua và sáng nay Đỗ Nghi đã vạch thay hai nét và hắn muốn thấy con số ấy mỗi lần mở sổ ra.

Họ dành cả buổi chiều chuẩn bị chỗ đánh. Lão Khúc căng sợi dây hàng ngang lối sỏi ở cổ chai, buộc vào đó ba vỏ ốc rỗng để chúng kêu lạch cạch khi bị chạm. Nguỵ Tranh khuân một khúc gỗ chèn lối vòng bên trái, cái lối duy nhất cho phép ba người đi song song, và để lại đúng một lối bên phải hẹp tới mức chỉ vừa một bộ giáp lách qua mỗi lần. Phía ngoài còn một gờ đá men vách, rộng vừa một bàn chân, Mặc để nguyên, vì kẻ nào đi gờ ấy phải buông một tay bám vách và sẽ tới chỗ hắn sau cùng. Mặc dạo bước lùi trên từng phiến đá giữa khe, đếm hai mươi hai bước và nhớ phiến nào nghiêng, phiến nào ướt, phiến nào kêu khi đạp.

Khi nắng bắt đầu vàng, hắn nuốt một viên Tụ Khí Đan, ngồi dẫn trọn một canh giờ trong hõm trong lúc ngoài kia hai người kia lặng lẽ kiểm lại từng nút dây. Hắn dặn Nguỵ Tranh để cái kẹp bếp lên đá cao cạnh cung, phòng khi cần gắp thứ gì nóng thì có cái cán dài.

"Ngươi lấy gì ở ba người ấy?" Nguỵ Tranh hỏi khi họ ngồi chờ trên đá, còn lão Khúc nấp sau một tảng đá lớn với hộp bàn tính ôm vào bụng.

"Ta lấy một thứ," Mặc nói, "nếu ấn của chúng giống cái ta đã thấy dưới khe thì mỗi ấn vỡ sẽ còn lại một thứ gì đó, ta chưa biết là gì."

"Có khi chẳng có gì," gã nói.

"Có khi thật," hắn nói, "nên ta chưa hứa với ai."

"Còn tên của ta?" gã hỏi.

"Ngươi giương cung," hắn nói, "nhưng không buông. Ba người đi một khối, tên của ngươi chỉ làm chúng đi nhanh hơn một khối, và cái ta cần là chúng tách ra."

"Ngươi ngã giữa khe thì ta cõng hay ta đứng nhìn?" gã hỏi.

"Thì ngươi xuống cõng ta," hắn nói, "nhưng đừng bắn."

Gã nhìn hắn một lúc rồi giương cung lên, kéo dây tới tận má, giữ đó, và hắn thấy tay gã không run.

Ba lính xuất hiện khi mặt trời chạm ngọn núi phía tây.

Người đầu tiên đi gạt từng hòn đá ven đường bằng đầu giáo, lật lên nhìn mặt dưới rồi gạt trả về chỗ cũ. Hai người sau bước đúng dấu chân của người trước, không nói, không nhìn quanh, đồng đều tới mức hắn nghe cả ba tiếng giáp chạm nhau chung một nhịp. Dưới vành mũ sắt của người đầu, khi gió thổi tà mũ nghiêng đi một chút, hắn thấy một chấm đỏ sẫm giữa mi tâm bằng hạt gạo và nét quặp chạy ngược lên chân tóc, đúng cái ấn hắn từng thấy ở người dưới khe, đúng một mũi kim đã xâu chỉ. Trên vai giáp cả ba đều có hai vằn đồng sáng loáng, không vằn nào bị xỉn.

Dây hàng vướng, ba vỏ ốc kêu lạch cạch. Cả ba dừng lại cùng lúc, ngoẹo đầu về cùng một phía như ba con rối chung một sợi chỉ, và rồi bước thẳng vào cửa khe.

Lão Khúc kéo gỗ khoá lối vòng. Người đầu tiên bước vào lối hẹp bên phải, vai giáp cọ vào hai bên vách, dừng nửa nhịp để nghiêng người, và đúng nửa nhịp ấy Mặc đã ở trước mặt gã.

Hắn không đỡ, vì đỡ thì tay hắn nát trước khi giáp chạm. Hắn đổi chân sớm một nhịp, gót trái rơi đúng phiến đá nghiêng, và cây giáo đâm vào chỗ hắn vừa đứng, xuyên qua khoảng không. Mũi Châm vào đúng khe nối giữa giáp đùi và giáp cẳng chân khi bàn chân gã đặt lên bậc đá, rạch ngang một đường ngắn gắt, xoay hông kéo qua. Tới chiều hôm qua mũi kiếm này vẫn còn lệch nửa tấc, và nửa tấc ở đây là mặt giáp thay vì khe giáp. Gã đổ xuống, giáp mắc vào hai vách đá, vừa hết một hơi thở, và cái thân nặng ấy chặn kín cả lối hẹp.

Người thứ hai không thể bước qua thân đồng đội mà không chạm vào, nên gã chạm, và khi chân gã đặt lên lưng giáp người ngã, Mặc đã đổi chân lần nữa. Mũi Châm thứ hai vào đúng khớp gối, ngay chỗ lực dồn xuống. Gã ngã chồng lên người đầu, giáo văng vào vách, tiếng sắt rền cả khe, và bàn tay phải Mặc bục băng, máu rịn qua lớp vải đã thấm từ đêm Hắc Kiếp.

Mới được sáu hơi thở kể từ lúc ba vỏ ốc kêu lạch cạch.

Người thứ ba là người duy nhất không còn lối thẳng. Gã lùi một bước, nhìn xuống hai bộ giáp nằm chồng, rồi bám vách bước lên gờ đá phía ngoài, đúng cái gờ Mặc đã để lại, và đúng lúc ấy mặt trời chìm hẳn. Chấm đỏ trên mi tâm gã sáng lên, rực, như một hạt than vừa thổi, nét quặp chạy ngược chân tóc đỏ rực theo, và cả thân người gã nhanh hẳn lên, nhanh gấp hai lần người ban nãy.

Mặc lùi một bước đúng dấu sỏi, hạ thấp người tới gần chạm đất, và gã đuổi theo bước ấy, cúi theo, mặt kéo xuống ngang tầm kiếm hắn.

Lỗ kim trước, như hắn đã tập. Hắn đâm vào chấm đỏ giữa mi tâm, và mũi kiếm bị chặn lại một nửa hơi, ấn cứng như đá. Nét quặp trên chân tóc rung lên, chạy tới vá chỗ thủng, và trong nửa hơi ấy hắn xoáy cổ tay, đâm theo, chọc đúng vào chỗ sợi chỉ đang chạy.

Cả cái ấn vỡ không một tiếng động. Chấm đỏ tắt, nét quặp tắt, vảy đỏ rơi lả tả như sơn khô bong khỏi tường, và giữa đống vảy ấy, từ chỗ nút thắt trong chân tóc, một hạt trắng nhỏ cỡ hạt kê rơi ra, nóng tới mức làm tóc gã xèo một tiếng cháy cong. Nó lăn xuống vành giáp rồi rơi lên nền đá, nơi nó nung chảy một cái hố nông trong chớp mắt, và hắn nhớ ra đêm giếng nước hắn cũng thấy vảy rơi xuống mà không kịp nhìn xem còn gì khác trong đó.

Hắn ngước lên mỏm đá, và Nguỵ Tranh ném cái kẹp bếp xuống không cần hỏi, rơi loảng xoảng ngay cạnh chân hắn.

Mười hơi.

Trong khe không còn tiếng gì ngoài nước nhỏ giọt từ vách. Hai người nằm chồng nhau đang cựa quậy như hai con cua lật ngửa, khớp gối trật, giáp mắc đá, không đứng nổi. Người thứ ba quỳ giữa khe, mũ đã văng, tóc cháy một mảng, và khuôn mặt hiện ra dưới mũ là khuôn mặt một người đàn ông ngoài ba mươi, râu lởm chởm, đôi mắt mở rất lớn và trống rỗng.

Lão Khúc bước ra khỏi tảng đá, hai tay buông thõng, hộp bàn tính kẹp lỏng dưới nách chực rơi. Lão nhìn ba người, rồi nhìn Mặc, rồi nhìn ba người, và đột nhiên bật cười, tiếng cười khàn và the thé, nghẹn giữa chừng rồi lại bật ra.

"Trời đất ơi," lão nói giữa tiếng cười, "một thằng sơ kỳ, ba thằng hai vằn, hai thằng nằm, một cái ấn vỡ, ta gẩy bàn tính còn chưa tới mười hơi, trời đất ơi!"

"Im!" Nguỵ Tranh nói từ trên đá.

"Ta không im được," lão nói, "ta bán tin hai mươi năm, ta chưa từng thấy cái tin nào đẹp thế này."

Gã nhảy xuống khỏi mỏm đá, cung vẫn giương dở, hạ dây từ từ, sợ lỡ tay là tên bay. Gã đứng trước Mặc rất gần, nhìn thẳng vào mặt hắn.

"Vẫn sơ kỳ?" gã hỏi.

"Vẫn sơ kỳ," hắn nói.

Gã nhìn xuống hai người nằm chồng, rồi lặng lẽ cúi xuống, nắm cổ giáp từng người, kéo họ ra khỏi mép nước, chèn một khúc gỗ dưới lưng cho khỏi lăn xuống, làm xong không nói câu nào, chỉ chùi tay vào ống quần.

"Ta bôi mực lên trán mười lăm năm cho người ta đoán thấp ta một bậc," gã nói, giọng thấp. "Chưa thấy ai lấy cái đó làm vũ khí."

"Không phải mực," Mặc nói, "là hai mươi hai bước ta đếm trong khe."

"Thì cũng là cái đếm," gã nói, và lần đầu tiên hắn thấy khoé miệng gã giật một cái, không phải cười, nhưng gần.

Hạt trắng vẫn nằm trong cái hố nó tự nung, sáng như một con mắt nhỏ. "Hộp của ông," hắn nói với Lão Khúc, và lão, vừa cười vừa tiếc, lật ngược chiếc hộp bàn tính cho bàn tính đổ ra đất rồi đưa hắn cái vỏ rỗng. Hắn xúc cát khô ở chân vách lót đáy, dùng kẹp bỏ hạt vào, đậy nắp, và chỉ khi nắp hộp đóng xuống hắn mới thấy mình đã thở trở lại.

Người quỳ giữa khe vẫn chưa nhúc nhích. Hắn bước tới, cúi xuống định nâng người đó lên khỏi nền đá lạnh thì bàn tay người ấy đưa lên, bám vào vạt áo cụt của hắn, nắm chặt như người chết đuối nắm cọc. Từ đôi mắt trống ấy trào ra một dòng nước mắt, rồi dòng thứ hai, rồi cả khuôn mặt gã nhăn lại, gã khóc không thành tiếng, vai run, miệng há ra mà không có chữ nào thoát được.

"Ta không biết ngươi," Mặc nói, rất nhẹ. "Nhưng ngươi đang khóc thì ngươi còn là người."

Người ấy không đáp, chỉ nắm vạt áo chặt hơn.

"Ta cõng," Lão Khúc nói, vẫn còn thở hổn hển vì cười, tay lau nước mắt, không rõ vì cười hay vì lý do khác. "Đá chưa mang được về, giờ lại cõng người. Cái nghề bán đường của ta nay thành nghề bán xe thồ, mà ta kể lại ở bến thì chẳng ai tin, ta còn phải mang cả hạt này ra làm chứng, mà hạt này thì không được cho ai xem."

"Ông đừng kể ở bến," Mặc nói.

"Ta biết," lão nói, "tin chưa bán được thì ta giữ, giữ càng lâu càng lên giá."

Hắn không cãi, vì người ấy phải đi ngay trong đêm, trước khi ấn của hai người kia sống hẳn. Hắn không đâm nốt hai ấn ấy, vì tay phải đã bục, không giữ nổi kiếm thêm một nhát nào nữa.

Hắn nhìn lại thanh kiếm, và từ chỗ mẻ cũ gần mũi, một đường nứt vừa mở ra sau nhát cuối.

"Kiếm nứt rồi, dài bằng đốt ngón," Nguỵ Tranh nói, nhìn theo.

"Ta thấy từ nhát cuối," hắn nói.

Họ lấy hộp ra khỏi tay hắn, quấn ba lớp vải ướt, nhét xuống đáy túi gạo rỗng của Nguỵ, buộc dây hai nút, đặt lên lưng Lão Khúc cùng người đàn ông đang nắm áo hắn không buông. Phải gỡ từng ngón tay một, mỗi ngón gỡ ra là người ấy nắm lại bằng tay kia, cho tới khi Lão Khúc nói một câu gì đó vào tai, câu mà Mặc không nghe, và bàn tay ấy mới chịu rời.

"Đưa lão tới khúc lội, rồi về ngay," Mặc nói với Nguỵ Tranh.

"Khúc lội bốn trăm bước, nước tới đùi, ta qua ba lần rồi, khỏi dặn," gã nói.

Họ biến mất trong bóng tối cuối khe, tiếng gậy lão gõ đá nhỏ dần.

Hắn không ở lại cạnh hai bộ giáp còn cựa mình. Hắn leo lên mé đá cuối khe, cách chúng ba mươi bước, nằm sấp ở chỗ nhìn được cả cửa khe lẫn hướng bắc, định thức tới sáng xem thứ gì sẽ tới đón hai người kia.

Ở đáy vực bắc, hơn một trăm chấm lửa nhỏ nằm thẳng hàng, sáng đều, mà đó mới chỉ là góc vực mé đá này cho hắn thấy, và suốt thời gian hắn còn mở được mắt, không chấm nào chớp.

Hết chương 3

Tự tay đưa họ về nhà trong game

Thắp lại đèn, dựng lại tông môn trong Last Lantern.

Google PlayApp Store