Nguỵ Tranh lay vai Mặc dậy khi sao mai chưa lặn, quần ướt tới đùi, người còn mùi bùn của khúc lội. Hắn đã ngủ thiếp trên mé đá từ lúc nào không biết, má áp lên cuốn sổ, và cái định thức tới sáng của hắn chỉ giữ được tới khoảng canh hai.
"Lão qua rồi," gã nói, ngồi phịch xuống cạnh hắn mà không buồn vắt quần. "Người kia không chịu buông áo lão, lão phải cởi áo cho người ta nắm, rồi lội về ở trần."
"Lão có nói gì không?" Mặc hỏi, chưa chùi được vết sổ hằn trên má.
"Chửi ta," gã nói, "bảo ta còn đứng cười thì lão bán ta cho Thanh Vân giá một bó rau."
"Ngươi cười thật à?" Mặc hỏi, nhìn cái mặt bôi mực không có lấy một nếp nhăn.
"Trong bụng, lão không thấy," gã nói, rồi đứng dậy đi xem cửa khe.
Hai bộ giáp nằm chồng nhau ở cửa khe đã không còn. Khúc gỗ Nguỵ Tranh chèn dưới lưng một người vẫn nằm đó, nghiêng nghiêng, và từ chỗ ấy có hai vệt kéo lê rộng bằng thân giáp chạy về phía bắc, đều và thẳng, không có dấu chân người đi kèm. "Hai vệt kéo, không dấu chân người," Nguỵ nói, ngồi xổm xuống sờ mép vệt, "kẻ kéo đi trên đá, mà biết đường xuống vực rõ hơn ta." Mặc đứng nhìn hai vệt ấy một lúc, không nói rằng mình đã định thức, rồi ra hiệu cho Nguỵ đi trước.
Họ đi men mé đá, hạ thấp người, vạch bằng mũi dao một vết nhỏ lên mỗi tảng đá làm mốc. Tới giữa buổi họ tới một bờ dốc mà từ đó vực bắc mở ra dưới chân như lòng một cái chảo gang khổng lồ. Nguỵ Tranh chọn một hốc bờ sông thấp, khuất sau hai tảng đá, ngoài tầm nhìn từ đáy vực, làm chỗ nghỉ, và đặt xuống đó cuộn dây, túi gạo, cái nồi đất nhỏ.
Rồi họ nằm sấp trên mỏm đá nhìn xuống, và hắn đoán đó là một doanh, dù chẳng có một cái lều nào. Chừng ba trăm người, gấp ba số chấm lửa hắn thấy đêm qua từ góc mé đá, đứng thành hàng thẳng tắp trên nền đất nện, mỗi hàng mười người, giáp xám chạm vai nhau. Trên ngực mỗi bộ giáp là một con số sơn trắng, nét sơn đều như nhau, không nét nào dày hơn nét nào. Không ai nằm, không ai tựa vào ai, và suốt một nén nhang hắn chỉ thấy hai việc xảy ra ở đáy vực. Một chiếc xe thồ chở thùng gỗ đi dọc các hàng múc thứ gì đó vào miệng từng người đứng, và một người ở hàng thứ ba nghiêng đầu sang trái rồi nghiêng lại.
"Họ ăn kiểu đó," Nguỵ Tranh nói, rất khẽ, "ta thấy chiếc xe ấy ba lần từ sáng, mỗi lần múc đúng một muôi cho mỗi người."
"Ngươi thấy được tới đâu?" Mặc hỏi, mắt vẫn không rời chiếc xe.
"Tới mép hàng cuối," gã nói, "sau đó không thấy, có thể còn hàng, còn lều."
Hắn thấy Thất khi mặt trời đã lên gần đỉnh.
Thất ngồi chứ không đứng, ở hàng thứ chín, và đó là điều khiến hắn nhìn lâu hơn mọi chi tiết khác. Mỗi hàng mười người, số trên ngực từ một đến mười, và ở hàng ấy người số sáu với người số tám đứng cách nhau đúng một người rộng, ở giữa là một khoảng trống trên nền đất. Thất ngồi đúng chỗ khoảng trống ấy, trong chiếc áo cụt đen của nhà, không giáp, không số, chỉ có một chữ 七 vạch bằng than ở vạt áo, vụng và đậm như chữ trên tấm ván bếp. Thất đang với tay kéo mép giáp lệch trên vai người số sáu cho thẳng lại, ngón tay rất nhẹ, như hàng trăm lần Thất từng chỉnh cái gáo cho khỏi nghiêng trên miệng chum.
Người số sáu không quay đầu, không nhìn, không cảm ơn, còn Thất chỉnh xong thì rút tay về đặt lên đầu gối, ngón tay gõ nhẹ từng nhịp, và hắn nằm yên cho tới khi tay mình thôi nắm chặt lấy đá.
Hàng thứ chín đứng sát vách, sau một sống đá đổ chắn giữa nó với lối xe, và cả buổi chỉ có người đẩy xe đi lại, mà xe chỉ đi lối giữa. Cuối chiều, khi bóng núi đổ gần kín đáy vực, hắn bò dọc khe sau sống đá ấy tới một chỗ chỉ cách Thất mười hai bước, chỗ nắng đã khuất mà các hàng chưa kịp sống. Hắn quấn khăn che kín trán, áp bụng xuống đất, và gọi bằng một tiếng thở dài hơn là tiếng gọi.
"Thất, ta đây."
Thất không quay đầu ngay, chỉ nghiêng cái cổ nhỏ đi nửa chừng, mắt liếc xuống rồi lên, và nói bằng một giọng không to hơn tiếng muỗng chạm vào thành bát. "Ngươi đến chậm hai ngày, ta tưởng ngươi mải ghi sổ."
"Ta dừng nửa ngày ở bãi đá cuối sông để lật một phiến bia," Mặc nói, "ta chọn thế."
Thất im một lúc lâu, rồi chỉ đáp một tiếng ừ rất khẽ, không hỏi phiến bia ấy là gì.
"Ta thấy ngươi nằm trên mỏm đá hồi trưa," Thất nói, "cái đầu ngươi to, ngươi nằm không giấu được."
Hắn không cười, dù Thất đã chủ ý để hắn cười. "Về với ta đi," hắn nói, "ta đã dò ra một đường, ngươi chỉ cần đứng dậy và đi."
"Không."
"Ngươi nói gì?" hắn hỏi, dù đã nghe rõ từng chữ.
"Không," Thất nhắc lại, đều và nhỏ. "Họ là đội ta. Ta đếm rồi."
"Họ không phải đội của ngươi," hắn nói, giọng ép xuống tới mức cứng lại. "Họ là gần ba trăm người bị ấn buộc phải đứng đây, họ không biết tên ngươi, họ còn không biết tên của chính họ."
"Ta cũng không biết tên ta," Thất nói, "ngươi cho ta cái tên thì ta nhận, còn họ thì chưa ai cho họ cái gì."
"Ở đây ngươi lấy gì ăn?" hắn hỏi, và nghe giọng mình khản đi. "Họ múc cho ngươi một muôi, ta thấy cái xe ấy từ sáng."
"Một muôi cũng là cháo," Thất nói, "mà ở đây không ai bắt ta ăn chót."
"Họ đếm ngươi như đếm cọc, ngươi không thấy sao!"
Tay hắn đập xuống đá trước khi hắn biết mình đã đập, và tiếng thịch ấy khô và gọn giữa thung. Mười hàng gần nhất không động đậy, vì nắng chưa tắt hẳn, nhưng người số sáu ở hàng thứ chín chậm rãi quay đầu sang phải một ngón tay, rồi quay lại.
"Ngươi nói nhỏ thôi," Thất nói, "người số sáu không ngủ được, ta nghe nó nghiến răng hai đêm nay."
Hắn thở ra một hơi rất dài, đè bàn tay vừa đập xuống bằng bàn tay kia. Nhìn người đang ngồi giữa hai bộ giáp, hắn thấy hai vai Thất gầy hơn lúc ở núi, và Thất ngồi lệch hẳn sang bên phải, cái lưng không còn chịu thẳng.
"Ta không hỏi ngươi có nhận ra ta không," hắn nói, thấp hơn và chậm hơn, "ta hỏi ngươi muốn về đâu, nếu có chỗ nào ngươi muốn về."
Thất nhìn xuống đầu gối rất lâu, trong lúc ở phía cuối thung chiếc xe thồ đã đi hết vòng, tiếng bánh gỗ lăn trên nền đất nghe khô và đều.
"Ta chưa biết," Thất nói, "ở núi ta có bát, ở đây ta có số." Thất ngẩng lên, lần đầu nhìn thẳng vào chỗ hắn nằm, rồi nói "Đi đi, sắp chạng vạng rồi."
Hắn biết chạng vạng là gì, và hắn lùi lại bằng hai khuỷu tay, từng gang một, không để lộ mặt khỏi mép đá cho tới khi đã tới khúc ngoặt của khe, và Thất không nhìn theo.
Đêm ấy họ ngồi trong hốc bờ sông không nhóm lửa. Từ chỗ nấp, hắn nhìn xuống đáy vực khi trời tối hẳn và thấy chấm đỏ trên mi tâm các hàng cùng sáng lên một lượt. Hắn đếm theo hàng, ba mươi hàng, mỗi hàng mười chấm, trừ một chỗ tối ở hàng thứ chín, hai trăm chín mươi chín. Rồi những cái đầu đồng loạt quay về phía bắc và đứng yên như thế tới sáng, không một ai nằm. Chỉ có Thất là không quay cùng, vì Thất ngồi, hai tay ôm gối, nhìn xuống đất, và trên trán Thất không có chấm đỏ nào. Nguỵ Tranh nằm cạnh, mắt mở suốt đêm, và tới sáng gã chỉ nói hai câu.
"Cả đêm chúng chỉ nhìn về phía bắc," gã nói, "không đứa nào ngoái lại sau lưng mình lấy một lần."
Rồi gã quay sang nhìn thẳng vào hắn. "Trong khe ngươi đánh ba, dưới kia gần ba trăm, đêm nào cũng đứng tới sáng."
Sáng ngày ba trăm lẻ một họ nấu cháo ở chỗ khuất sau hai tảng đá, gạo trong túi của Đỗ Nghi, nồi đất nhỏ, nhóm bằng củi khô nhất để khói không lên thành cột. Mặc đong theo cách Thất vẫn đong, bằng cái gáo hắn tự cắt từ vỏ quả bầu, mỗi gáo lại mấp máy đếm một lần, và nhận ra mình đang bắt chước một người không có mặt ở đây.
Hắn múc cháo vào cái bát tre đi đường của Nguỵ Tranh, một cái bát nhỏ cạnh mẻ.
"Bát ấy của ta," gã nói, mắt nhìn theo cái bát. "Mất thì ngươi đền ta cái khác, tre già, đừng tre non."
"Ta đền," hắn nói, "tre già, nếu nó mất ở chỗ đáng mất."
Hắn mang bát tới mép đá phía trên hàng thứ chín. Hắn đặt nó xuống một phiến phẳng sau sống đá, cách chỗ Thất ngồi mười bước, và lùi ra sau khúc ngoặt mà không nói gì. Hắn chờ một canh giờ, rồi một canh giờ nữa, nằm áp má xuống đá lạnh để khỏi ngủ gục.
Thất đứng dậy khi nắng đang lên, vươn người như vừa ngủ dậy dù suốt đêm chưa từng nằm, rồi bước ra khỏi hàng, đi đúng mười bước tới phiến đá, cúi xuống cầm bát lên ngửi rồi uống từng ngụm, đứng đó, không vội. Uống xong, Thất xoay cái bát trong tay một vòng, nhìn đáy nó, nhìn về phía khúc ngoặt, và nói bằng giọng không to nhưng đủ để hắn nghe.
"Nhạt."
Thất cầm cái bát đi ngược trở lại, ngồi xuống chỗ số bảy, đặt bát cạnh chân mình, nơi hai bộ giáp số sáu và số tám có thể thấy nó nếu họ biết cúi xuống, và không quay lại nhìn một lần.
Hắn trườn về hốc với đôi mắt cay xè và nửa người run vì lạnh.
"Ta thấy rồi, khỏi kể," Nguỵ Tranh nói khi hắn vừa lăn vào. "Mười bước ra, mười bước về, uống hết, không chừa."
Gã ra canh ngoài miệng hốc, và chỉ khi tiếng chân gã dừng hẳn Thẩm Chiêu mới lên tiếng.
"Ba ngày đi để hỏi một câu," nàng nói, giọng thấp hơn thường lệ, "được một tiếng không."
"Ta đem cháo," hắn nói.
"Nhạt," nàng nói.
Hắn mở sổ ra, ghi mười một chỗ còn lại trên tấm ván bếp, vì ở núi giờ này Đỗ Nghi đã vạch xong nét sáng, rồi viết thêm một dòng bằng tay trái nghiêng, ngày hai trăm chín mươi tám, nửa ngày của Thất, ta lấy. Rồi hắn gấp sổ, không gạch, không viết thêm chữ nào để cắt nghĩa.
Chạng vạng ngày ba trăm lẻ một họ lại nằm trên mỏm đá nhìn xuống, và lần này hắn thấy rõ điều hôm qua mới chỉ đoán. Khi nắng tắt hẳn, từng hàng một ngẩng đầu cùng lúc, mi tâm sáng rực, và từ đầu hàng thứ nhất có tiếng người đọc, rất đều và rất bằng, một con số tiếp một con số. Một, hai, ba, bốn, chúng chạy dọc các hàng không đứt quãng.
Người đi dọc các hàng không đi cùng tiếng ấy mà đi theo sau nó. Đó là một thân hình cao hơn tất cả, giáp xám xỉn hơn, vai giáp có bốn vằn đồng lấp lánh cả trong bóng tối. Khi gã ngẩng đầu liếc qua một hàng, dưới vành mũ sắt hắn thấy một cái ấn đỏ lớn gấp ba những cái khác, chấm giữa trán to bằng đồng tiền, nét quặp chạy lên chân tóc rộng bằng cả bàn tay xoè.
Gã dừng lại trước một người ở hàng thứ hai, người số tám, chậm một nhịp mới đọc số của mình.
"Hụt một tiếng thì hụt một ngày cơm," gã nói, giọng không giận, không cao, đều như đọc một dòng trong sổ, rồi ra hiệu cho người đẩy xe thồ ở phía sau. Cái muôi trong tay người ấy nâng lên rồi hạ xuống, và không ai trong hàng đó cựa mình đón nó.
Nguỵ Tranh nằm cạnh hắn khẽ siết chặt tay trên thân cung.
"Gã đi sau tiếng đọc, không đi trước," Nguỵ nói, môi gần như không động, "ai chậm một tiếng thì gã mới dừng, gã dừng thì cái xe dừng theo."
"Còn ai đọc đúng thì sao?" Mặc hỏi, giọng còn nhỏ hơn.
"Thì gã không nhìn tới," Nguỵ nói, "gã chỉ nghe."
Gã đi tiếp qua từng hàng, tiếng đọc chạy trước gã, và khi tới hàng thứ chín, hắn thấy người số sáu mở miệng đọc "Sáu" bằng một giọng phẳng lì.
"Bảy," Thất nói.
Đó chính là cái giọng ấy, nhỏ, hơi khàn, nhưng không chậm một nhịp nào so với tiếng người trước.
Gã ấn đỏ dừng lại và nhìn xuống Thất một lúc lâu, không chạm, không hỏi, đôi mắt dưới vành mũ không có gì trong đó ngoài cái đếm. Rồi gã cúi nhìn cái bát tre đặt cạnh chân Thất, cái bát nhỏ cạnh mẻ, sạch bóng trong ánh đỏ cuối ngày, đưa mũi giày đẩy nhẹ cho nó nghiêng đi một phía, thử xem nó có thật hay không.
"Bát ai?" gã hỏi, mũi giày vẫn đặt cạnh miệng bát.
"Của ta," Thất nói.
Gã đứng đó thêm một hơi thở. Rồi gã đi tiếp, và từ hàng thứ chín tiếng người số tám vang lên, đều và bằng, còn cái bát tre nằm nghiêng ở chỗ nó đã bị đẩy, miệng bát hướng ra phía sườn núi, nơi ai nhìn từ trên xuống cũng thấy.

