Sáng ngày ba trăm lẻ hai, hai anh em nhà sông tới cây đa chẻ khi trời còn xám, mỗi người khoác một nửa túi gạo, giống nhau tới mức Mặc phải nhìn vết sẹo trên cằm người anh mới phân biệt được, vì đốm lửa đăng ấn trên trán hai người cũng nhỏ và vàng y như nhau. Người anh tên Mạnh Hà, chữ Mạnh của con trưởng, chữ Hà của sông, cái tên ông nội đặt từ hồi cậu chưa cầm nổi sào. Người em đưa cho hắn một gói vải bó chặt bằng dây gai, cầm bằng hai đầu ngón tay, tay kia đỡ sẵn bên dưới.
Trong gói có hai khúc ống sắt vỡ, mỗi khúc dài hơn gang tay, lót tro dày, hai đầu đậy đá phẳng buộc chặt, và một cái đĩa sắt mỏng lót tro Đỗ Nghi gửi kèm. Hắn nhận ra ngay hai khúc ống là phần còn lại của vỏ tay cầm trượng hắn khiêng về đêm Hắc Kiếp, và qua kẽ đá, ở cả hai khúc, một sợi sáng mảnh vẫn nghiêng về phía đông.
"Ông Đỗ nhắn," Mạnh Hà nói, đọc như đọc bài thuộc lòng, "xin hai thì đưa hai, một hạt để làm, một hạt để hỏng, hỏng thì nhớ hỏng ở chỗ nào mà về kể cho ông."
"Ông ấy nói thế thật à?" Mặc hỏi, và thấy khoé miệng mình nhếch lên lần đầu từ hôm rời núi.
"Ông nói thế rồi bảo em đừng cười," người em nói, cố nhịn mà không nhịn nổi. "Ông còn dặn kể với anh là cái hạt kê lão Khúc mang về, ông để riêng trong hộp bàn tính cạnh đĩa lớn, bé thế mà nóng chẳng kém hạt nào."
"Còn người lão cõng về?" Mặc hỏi, tay vẫn chưa dám mở gói.
"Ăn được nửa bát," Mạnh Hà nói, "chưa nói chữ nào, đêm nào cũng ngồi nhìn ra cổng tới sáng, bé Lau phải khoác cho cái chiếu."
Tờ giấy hắn gửi về theo chuyến tiếp tế đêm ba trăm chỉ có sáu chữ, và nhìn hai khúc ống trong tay, hắn biết Đỗ Nghi đã đọc ra trong sáu chữ ấy cả cái quyết lẫn cái sợ.
"Các em ở lại tới đêm," hắn nói với hai anh em, "giữ hai đầu dây ở nhánh trái cây đa này, nghe ba tiếng gõ đá thì kéo, không nghe thì ngồi yên, và đừng nhìn về phía có sáng."
Hắn nằm trên mỏm đá nhìn xuống doanh tới trưa, đủ lâu để thấy cái bát tre đã biến mất khỏi chỗ cạnh chân Thất, không biết ai nhặt đi trong đêm. Tới lần thứ hai chiếc xe thồ đi qua hàng thứ chín, hắn thấy cái muôi lướt qua chỗ số bảy mà không dừng, và Thất cũng không ngẩng lên đón.
"Từ sáng nay," Nguỵ Tranh nói, không cần hắn hỏi, "hụt một ngày cơm, vì cái bát."
Mặc không nói gì, chỉ thấy năm ngón tay mình bấu vào đá tới khi móng tay trắng bệch.
"Gã ấn đỏ xuống kiểm hàng hai lần mỗi ngày," gã nói tiếp, "trưa và chạng vạng, đứng ở đầu hàng thứ nhất chừng hai trăm hơi thở, rồi mới đi dọc. Đêm thì gã cũng quay về bắc như lính, hai đêm nay chưa rời đầu hàng."
Gã ấn đỏ đang đứng đúng ở đó, giữa trưa, cao và vai rộng, thẳng như một thanh sắt cắm xuống nền đất nện. Khi gã nâng vành mũ lên lau trán một lần, hắn thấy cái ấn đỏ không phải một chấm mà là cả một vết, mép sắc, lan từ mi tâm lên tận chân tóc, rộng bằng lòng bàn tay.
"Bốn vằn," Nguỵ Tranh nói, "ở bến chưa ai thấy bốn vằn đứng gác doanh."
"Bốn vằn là đại viên mãn," Mặc nói, "ta còn cách gã ba bậc nhỏ."
"Ba bậc," gã nói, "với một cái kiếm nứt."
Chiều xuống, họ nằm nhìn doanh sống lại. Từ lúc vệt nắng cuối cùng rời mũ gã ấn đỏ tới lúc cả doanh sáng lên là mười hai hơi thở, nhanh hơn hẳn cái khe dưới núi. Hắn nhìn đường rút mà Nguỵ dò cả buổi chiều, cái khe đá chẻ lên miệng vực ở phía tây, hẹp và dốc, vừa một người lách qua khi không mang gì.
"Hai người một lượt thì không qua," Nguỵ Tranh nói.
"Nên trước đêm ta kéo Thất ra, ta cần nhiều sức hơn bây giờ," hắn nói.
Gã quay đầu nhìn hắn rất lâu. "Ngươi định đốt cái thứ trong ống ngay trong hốc?"
"Ta kéo nhỏ trước," hắn nói, "một sợi thôi, xem nó có sáng không, rồi mới tính tiếp."
"Lần trước ngươi có lò," gã nói.
"Lần này ta có hai tảng đá và một người ngồi canh ngoài," hắn nói.
"Người ngồi ngoài thì không che sáng được," gã nói, nhưng vẫn đứng dậy đi buộc dây.
Sợi dây gai buộc vào gốc cây ở cửa sau hốc, nơi một khe nhỏ dẫn thẳng xuống lòng sông, ba tiếng gõ đá là hiệu rút, cái đĩa Đỗ Nghi gửi đặt cạnh gối phải. Khúc ống thứ hai Nguỵ ôm trong túi áo trong, ra ngồi canh cách miệng hốc hai chục bước, vì hắn không muốn hạt ấy nằm chung một chỗ với điều có thể xảy ra. Trước khi đi, gã nhúng cái khăn quấn cung vào nước khe, vắt tới khi không còn nhỏ giọt, rồi đưa cho hắn mà không nhìn.
"Lót tay," gã nói, "kẹp nóng."
Hắn ngồi xuống giữa hốc khi trời tối hẳn.
Hắn mở đá đậy, dùng kẹp lót khăn gắp hạt ra đặt lên đĩa sắt, và cả hốc bừng lên màu trắng như có một mặt trời nhỏ vừa rơi xuống. Hắn dựng Liễm Tức, quấn vòng thứ nhất, vòng thứ hai, sợi sáng co lại bằng hạt kê rồi bung ra, rồi lại co, và tới lớp thứ ba thì nó dịu hẳn, chỉ còn là một vầng ấm nằm dưới hai tảng đá. Không có lò, không có tiếng nấc, chỉ có hơi nóng chảy qua lòng bàn tay trái hắn đặt cách đĩa một gang.
Hắn kéo một sợi, mảnh hơn sợi chỉ khâu, và nó vào người hắn không sáng, chỉ ấm như một hạt cơm nóng lăn trong lòng bàn tay. Hắn để nó đi một vòng chu thiên, hết ba mươi hơi thở, rồi kéo sợi thứ hai, và trán hắn vẫn mát.
Hắn nghĩ tới cái muôi lướt qua chỗ số bảy, nghĩ tới tấm ván bếp còn tám chỗ, và hắn nới sợi thứ ba ra gấp đôi, rồi thành một dải bằng ngón tay. Dải ấy vẫn chưa sáng, nên hắn làm điều ở Ám Lô hắn chưa từng phải làm, hắn tự kéo cả luồng.
Hơi nóng không chảy vào nữa mà đâm vào. Nó chạy dọc cánh tay, xô qua vai, dội thẳng lên đỉnh đầu như cột nước bị ép qua miệng ống nhỏ, và cái khung đen giữa trán hắn nóng bừng. Linh khí dồn dập đập vào vách bình cảnh đã rạn từ đêm Ám Lô, một lần, hai lần, mà vách không vỡ, chỉ rung. Trong ngực, Thẩm Chiêu nói gì đó mà hắn không nghe được.
Rồi hắn mở mắt, và cả hốc sáng như ban ngày.
Ánh trắng đã xuyên ra khỏi lớp Liễm Tức như nước xuyên qua giẻ, hắt từ trán hắn lên trần đá rồi trào qua kẽ hai tảng đá che miệng hốc, rọi thẳng lên trời đêm, vẽ rõ cái bóng gập của hắn trên vách. Hắn thấy các đường vân trên hai tảng đá che miệng hốc, thấy cả vệt nước đọng trên một viên sỏi, và thấy hạt lửa trên đĩa mờ đi, nhỏ lại, rồi hết, chỉ còn một vòng men xanh bóng trên lớp tro.
Ba hơi thở sau, hơi nóng tắt phụt, và trong cái tối ập xuống hắn nghe tiếng đá gõ ba lần, rất nhanh, rất dồn.
Nội tức trong người loạn như đàn kiến bị giẫm tổ, ngực nhói, mắt tối sầm từng mảng, nhưng tay hắn vẫn đủ sức hất văng cái đĩa nóng khỏi đầu gối, và nó đập vào vách đá, nứt làm đôi. Hắn không nuốt đan, vì nuốt đan lúc này là đổ dầu vào đống than.
Nguỵ Tranh đã ở cửa sau, thở gấp, giữ chặt sợi dây.
"Cả vực quay về phía này!" gã nói, thấp và gấp, tay vẫn giữ chặt đầu dây. "Gã đứng đầu hàng nói hai câu, vực im nên ta nghe rõ."
"Gã nói câu gì?" Mặc hỏi, giọng khàn đặc vì khói trong ngực chưa tan.
"Bờ sông, hai hàng," gã nói, "rồi tìm hạt."
Hắn nắm sợi dây, bước ra cửa sau, chân đạp lên khe đá dốc xuống lòng sông. Gã ấn đỏ đã nói tìm hạt chứ không nói tìm người, và cái ý ấy theo hắn suốt đoạn dốc như một hòn than nhỏ ngậm trong miệng. Cái đĩa nứt đôi nằm lại trong hốc, hơi nóng chưa tan, và trên bờ phía sau hắn, tiếng giáp bắt đầu chạy.
Họ chạy dọc lòng sông cạn tới khi tiếng giáp sau lưng mờ dần rồi dừng hẳn.
"Sáng tắt thì chúng quay về," Nguỵ Tranh nói, vừa thở vừa ngoái lại. "Ta đếm, chưa tới trăm hơi thì tiếng giáp đã quay đầu về bắc."
Ở cây đa chẻ, hai anh em đã lùi sang nhánh trái, mỗi người cầm sẵn một đầu dây, và Mạnh Hà chỉ nói được đúng một câu khi thấy hắn.
"Chúng em thấy sáng, sáng cả bờ!"
"Ta biết," Mặc nói, thở không ra hơi, "các em lùi sâu hơn về phía nhánh trái, đừng nhìn lại."
Họ không dừng lại cho tới một hõm đá khác, xa đường tuần của lính, nằm lọt giữa hai vách nứt mà Nguỵ đã đi qua hôm đầu và đánh dấu bằng ba vết dao. Nguỵ Tranh ra canh ngoài miệng hõm, hai anh em trốn sau tảng đá bên ngoài, còn Mặc ngồi một mình trong tối, hai tay ôm vạt áo, run không dừng được.
"Giờ ta nói được chưa?" Thẩm Chiêu hỏi, giọng đã mệt.
"Hõm này ta kiểm hai lượt rồi," hắn nói, "ngươi cứ nói."
"Tìm hốc để giấu mình," nàng nói, "rồi tự làm đèn cho cả vực."
"Sợi đầu không sáng," hắn nói, "ta nới nó ra vì ta sốt ruột."
"Ta biết," nàng nói, "ta thấy tay ngươi nới, từng ngón một."
Hắn nhắm mắt, cho một dòng khí nhỏ chạy theo đường chu thiên để xem cái gì còn lại. Đường rạn bằng sợi tóc của đêm Ám Lô giờ đã toác ra ba nhánh, chạy gần hết nửa vách, và khi hắn đẩy dòng khí vào thì vách không bật nó lại như mọi đêm mà lún vào nửa hơi rồi mới dội ra. Nửa hơi ấy là thứ duy nhất hắn mang được ra khỏi cái hốc, ngoài cái mạng.
Nguỵ Tranh chui vào, đặt khúc ống thứ hai xuống cạnh gối hắn, và nheo mắt nhìn mặt hắn trong chút sáng sao lọt qua khe đá.
"Lông mày ngươi cháy mất một nửa," gã nói, "bên trái, cháy sát gốc."
Khi hắn mở đá đậy khúc ống thứ hai, gã đưa tay chặn lên miệng ống ngay.
"Lại nữa?" gã nói, bàn tay vẫn đè chặt miệng ống. "Ngươi vừa thắp đèn cho cả vực."
"Một sợi thôi," Mặc nói, "ngươi ngồi đây nhìn trán ta, thấy sáng bằng đầu kim thì ngươi đạp đổ cái ống, ta không trách."
Gã nhìn hắn một lúc rồi rút tay về, ngồi xổm ngay trước mặt hắn, gần tới mức hơi thở hai người chạm nhau. Hắn đặt bàn tay trái lên một hòn đá ướt sát vách, dựng Liễm Tức, và chỉ kéo đúng một sợi, mảnh như lần đầu, rồi để nó đi hết một vòng ba mươi hơi mới buông. Sợi lửa rút về hạt, không một tiếng.
"Không sáng," gã nói, mắt chưa rời trán hắn. "Ta nhìn từ đầu tới cuối, không sáng."
Rồi gã cúi xuống nhìn hòn đá. Chỗ bàn tay hắn vừa đặt đã khô thành hình một bàn tay xoè, rìa còn bốc một làn hơi mỏng, trong khi quanh đó đá vẫn ướt sũng nước khe. Gã đặt hai ngón tay lên chỗ khô ấy, rụt lại, rồi đặt lại lần nữa.
"Ấm," gã nói, giọng khác hẳn, "mà trán ngươi không sáng."
"Lần này có hòn đá làm chứng," Mặc nói.
Hắn nhẩm lại trong đầu, ván bếp còn tám chỗ, bốn ngày, chỗ cuối là tối ngày ba trăm lẻ sáu. Một hạt đã cháy mất trong hốc, còn một hạt nằm trong khúc ống trước mặt.
Từ miệng hõm nhìn ra, ở khúc quanh xa của bờ sông, một ngọn đuốc nhỏ đi từ chỗ cái hốc bỏ lại ngược về phía vực. Nguỵ Tranh nheo mắt nhìn theo, và gã thì thầm cái gã thấy, rằng có lính đang khiêng một thứ gì nhỏ và đen tới cho gã ấn đỏ đứng chờ ở đầu bờ.
"Cái đĩa nứt, chúng nhặt được rồi," gã nói.
"Còn men xanh trên đó," Mặc nói.
"Gã đang tìm hạt," gã nói, "chưa tìm người. Nhưng cầm cái đĩa ấy lâu thì gã ngửi ra."
Mặc đứng lên, đỡ vách cho chân khỏi chao, nhìn ngọn đuốc nhỏ dần về phía doanh, rồi quay lại với Nguỵ Tranh, giọng khản nhưng đã đều.
"Đêm thứ tư," hắn nói, "đêm ấy ta ra, và lần này ta không ra bằng cả hạt."

