Sáng ngày ba trăm lẻ ba, Nguỵ Tranh căng cái khăn trắng của gã ngang khe đá ngoài cùng, chỗ hai lớp đá chồng lên nhau che miệng hõm, rồi lùi ra mười bước ngồi xổm nhìn nó, mắt không chớp.
"Trong này sáng bằng đầu kim thì khăn ửng," gã nói, "khăn ửng thì ta gõ, ngươi dừng, không cãi."
"Ngươi nhìn khăn cả đêm à?" người em hỏi, mắt vẫn còn đỏ vì đêm trước chạy dọc lòng sông.
"Cả ba đêm," gã nói, không quay đầu lại.
Mặc ngủ hết buổi sáng cho nội tức về lại đường cũ, tới trưa nuốt một viên Tụ Khí Đan rồi ngồi dẫn trọn một canh giờ, và chỉ khi dòng khí chạy đủ một vòng không vấp chỗ nào hắn mới mở mắt. Hắn gắp hạt lửa còn lại ra khỏi khúc ống, đặt lên một phiến đá dẹt dưới khe, và chỉ một lúc nó đã nung cho mình một vòng men xanh, to bằng hạt gạo nếp, sáng tới mức hắn phải khum hai bàn tay lại mới dám nhìn.
"Ngươi kéo bao nhiêu thì dừng?" Nguỵ hỏi khi trời sập tối, tay đã cầm sẵn hòn đá gõ.
"Mỗi sợi đi một vòng, ba mươi hơi thở," Mặc nói, "hơi nóng chạm tới chân tóc là ta buông, kể cả khi sợi ấy mới đi được nửa đường."
"Lần trước ngươi cũng nói kéo nhỏ," gã nói.
"Lần trước ta không có cái khăn của ngươi," hắn nói.
Đêm thứ nhất hắn kéo sợi đầu tiên khi trăng vừa lên khỏi vách, mỗi sợi mảnh hơn chỉ khâu. Tám sợi đầu đi êm như nước rót vào bát. Tới sợi thứ chín, hơi nóng chạy tắt qua cổ, dội thẳng lên trán nhanh hơn hắn tưởng, và hắn phải cắt nó ngay giữa cánh tay, không kịp dẫn về hạt.
Sợi lửa đứt ấy không đi đâu được nữa, nó cháy luôn trong thịt. Sáng ra, dọc mặt trong cẳng tay trái hắn hằn một vệt đỏ dài như ai quất vào bằng sợi dây vừa nướng, và khăn trắng ngoài khe vẫn trắng.
"Mười hai lần kéo, mười một sợi đi trọn vòng," hắn nói khi Nguỵ chui vào, "một sợi cháy trong tay, hạt còn hai phần ba."
Nguỵ cúi nhìn hạt trên phiến đá, và nó đã co lại, nằm lọt thỏm giữa vòng men của chính nó như một hạt đỗ trong cái vỏ quá rộng, và chỗ trống quanh nó là thứ ai cũng đo được bằng mắt.
"Vẫn sơ kỳ," gã nói, "mà ngươi định đổ hết hai phần ba hạt với hai đêm còn lại vào cái vách ấy à?"
"Vách lún sâu hơn đêm qua," Mặc nói, "ngươi không thấy được, nhưng ta thấy."
"Ta chỉ thấy khăn, khăn vẫn trắng," gã nói, rồi quay ra nằm cạnh cái khăn.
Đêm thứ hai hắn không hỏng sợi nào, mười hai sợi, hạt còn một phần ba, và sáng ra lớp phồng cũ trên tay trái hắn bong cả mảng, để lộ da non hồng như da trẻ con.
Ban ngày ba trăm lẻ bốn và ba trăm lẻ năm, Nguỵ dẫn hai anh em đi dò lối bậc đá chẻ lên miệng vực ở mé tây, chỗ đá xếp thành từng bậc cao ngang đùi, đủ cho người leo mà không đủ cho người có giáp. Họ mang về hai tấm ván bè nhà sông còn giữ dưới núi, một tấm lưới đánh cá cũ cắt làm đôi, ba cuộn dây hàng, rồi buộc đá tảng vào ván mà kéo thử lên từng bậc tới khi tay rớm máu. Trên bậc cuối, Nguỵ chèn một đống đá hộc sau một sợi dây chắn. "Cắt dây là đá xuống, lấp nửa lối," gã nói, "giữ chân người có giáp được chừng mười hơi, người không giáp thì không giữ được."
"Mang thêm một thân thì phải thêm người với dây cho thân ấy," gã nói, nhìn hai tấm ván, "ở đây có hai ván."
"Thì là hai thân," Mặc nói, "ta với ngươi kéo một, hai em kéo một."
"Thất đi bằng chân," gã nói, "còn ván kia chở ai thì ta chưa biết."
Mặc tập ở bãi phẳng dưới mép tây, chỉ sau khi khí đã ổn, với thanh kiếm nứt từ mẻ gần mũi, và hắn không tập đánh mà tập đổi hướng. Mạnh Hà cầm cán chổi tre đâm vào hắn từng nhát, hắn đặt chân trái xuống trước như ở cổ chai, nghiêng sống kiếm đẩy cán chổi trượt sang mép đá, rồi lùi thấp ba bước theo đúng những phiến đá đã dò.
"Đâm mạnh nữa," Mặc nói sau nhát thứ mười, "người ta sẽ không đâm nhẹ như em đâu."
"Em sợ trúng anh," Mạnh Hà nói, "anh mới lên được nửa bậc."
"Trúng thì ta biết mình còn chậm," hắn nói, "mà chậm ở đây thì đỡ hơn chậm ở bậc đá."
"Ở bến người ta bảo lên một bậc nhỏ mất nửa năm," Mạnh Hà nói, chống cán chổi thở. "Anh định lên trong ba đêm thật à?"
"Ta định thế," Mặc nói, "còn lên hay không thì đêm thứ ba mới biết."
Đêm thứ ba, hơi thở hắn lúc gần sáng đọng thành khói trắng giữa hõm lạnh, mà trong hõm không có lửa nào, và sợi thứ mười hai của đêm ấy vừa đi hết vòng thì vách vỡ. Không có tiếng nổ, chỉ có một tiếng tách nhỏ như hôm ở Ám Lô, rồi cả bức vách đã rạn suốt mười đêm sụp vào trong như bờ đất mục. Dòng khí trong người hắn tràn qua chỗ ấy, đổ vào gian nhà phía bên kia mà hắn đã ngó qua khe rạn từ đêm hai trăm chín mươi sáu. Cái đế dưới bụng hắn chìm xuống, dày thêm, đứng chắc lại. Trúc Cơ trung kỳ. Trên phiến đá, hạt lửa tắt hẳn, chỉ còn cái vòng men xanh rỗng ruột.
Khi trời xám, hắn chui ra khỏi hõm, và khăn trắng vẫn trắng, căng ngang khe như lúc Nguỵ buộc. Nguỵ đứng dậy bước tới vén mép khăn trên trán hắn lên nhìn, nhìn lâu tới mức người em phải nhón chân nhìn qua vai gã.
"Đế dày ra," Nguỵ nói, "khung vẫn đen, mà đế dày ra."
Mạnh Hà đứng sau, cán chổi tre còn trong tay, mấp máy môi một lúc mới ra tiếng. "Ở bến, người khá nhất em biết lên một bậc nhỏ mất nửa năm, còn anh lên trong ba đêm," cậu nói, giọng lạc đi.
Nguỵ không đáp, chỉ tháo cái khăn trắng khỏi khe, gấp làm tư, nhét vào tay hắn rồi mới quay đi.
"Đi kéo ván, nắng lên là đá nóng tay," gã nói.
Trong hõm, lúc chỉ còn một mình, hắn nghe Thẩm Chiêu lên tiếng.
"Trung kỳ," nàng nói, "mà lần này không thắp đèn cho ai."
Hắn chờ câu sau, nhưng câu sau là một câu khác.
"Đêm nay ngoài trời, ta không nói," nàng nói, "ngươi đừng chờ ta."
Chiều ngày ba trăm lẻ sáu, hắn nuốt viên Tụ Khí Đan thứ hai, ngồi dẫn tới khi khí đi đủ vòng, rồi quấn lại băng ở kẽ tay phải cho chặt. Hai anh em buộc phần cơm muộn dưới hai tấm ván, mỗi tấm một nắm, còn nắm của Mặc thì hắn tự buộc sau cùng, ở đầu dây.
Chạng vạng, doanh dưới vực sống dậy đúng như mọi chiều. Gần ba trăm chấm đỏ sáng lên, tiếng đọc số chạy dọc từng hàng, gã ấn đỏ đi sau tiếng đọc, và tới hàng thứ chín giọng Thất vẫn đọc bảy, nhỏ, khàn hơn hôm trước, không chậm nhịp nào. Rồi những cái đầu quay về phía bắc như mọi đêm, đứng yên, không đứa nào ngoái lại sau lưng mình.
Mặc bò dọc khe sau sống đá tới chỗ mười hai bước, và lần này hắn không dừng ở đó mà bò tiếp, sát tới mức nghe được tiếng giáp số sáu cọ vào vai khi người ấy thở, rồi vươn tay nắm lấy cổ tay Thất.
Thất không giật ra, nhưng ghì lại, và nói mà không quay đầu. "Ta đợi ngươi sáu đêm rồi." Cổ tay ấy gầy hơn hắn nhớ, và cái sức ghì trong đó thì không gầy chút nào.
"Ván ở chân bậc đá," hắn nói, sát tai Thất, "đi bây giờ."
"Không đi một mình," Thất nói.
"Ván chỉ có hai," hắn nói, "ta không kéo được cả hàng."
"Hai," Thất nói, và hất cằm sang trái, sang phải, chỉ người số sáu và người số tám.
"Họ còn ấn, Thất, họ không theo ngươi được!"
"Theo được," Thất nói, "ta thử rồi, đêm nào cũng thử, mười bước."
Thất quay hẳn sang hắn, và lần đầu từ khi quen nhau, Mặc nghe Thất nói to.
"Mang cả hai thì ta đi!"
Tiếng ấy vang qua hàng thứ chín, qua sống đá, lên tận vách vực. Cả doanh vẫn nhìn về phía bắc, không một cái đầu nào quay lại. Chỉ có ở đầu hàng thứ nhất, một thân hình cao hơn tất cả chậm rãi xoay người về phía tiếng gọi.
Mặc không cãi nữa, chỉ nói đúng một câu hắn đã định nói từ chiều. "Dùng cả hai ván, ta kéo được."
Rồi hắn mới thấy Thất đã kéo từ dưới vạt áo ra một sợi dây gai xoắn đôi, đầu dây luồn sẵn qua thắt lưng giáp người số sáu và người số tám, buộc nút bè đúng kiểu Đỗ Nghi dạy.
Thất đứng dậy và bước, và hai bộ giáp hai bên bước theo. Họ không nhìn Thất, cũng không nhìn đường, chỉ đặt chân đúng vào dấu chân Thất vừa để lại, đều như ba bộ giáp hôm ở cổ chai bước theo dấu người đi đầu. Mặc nhìn ngón tay Thất trên sợi dây, những ngón tay mấy hôm trước gõ nhẹ trên đầu gối từng nhịp, và hiểu rằng Thất đã thắt những cái nút này từ lâu trước đêm nay.
Họ ra khỏi hàng bằng lối sau sống đá, và tới chân bậc đá thì hai anh em đã chờ sẵn với tấm lưới. Người số sáu và người số tám dừng lại khi Thất dừng, và hai nửa lưới chụp xuống, gói mỗi bộ giáp lên một tấm ván trước khi họ kịp hiểu mình đang ở đâu, nếu họ còn biết hiểu. Nguỵ Tranh trên bậc cao nhất giật dây ba lần, và tấm ván thứ nhất bắt đầu trườn lên đá.
Mặc quay lại đứng ở bậc thứ hai, trên phiến đá phẳng đã dò, vì gã ấn đỏ không đi theo tiếng đọc nữa mà đi thẳng về phía bậc đá, và bóng gã đã ra khỏi hàng cuối.
Gã tới nhanh hơn bất cứ thứ gì hắn từng thấy biết đi. Cây giáo cán sắt trong tay gã đâm tới trước cả khi tiếng chân tới, và Mặc làm đúng cái động tác hắn đã làm cả trăm lần với cán chổi. Hắn đổi chân sớm một nhịp, nghiêng sống kiếm đẩy mũi giáo trượt sang phải, và mũi giáo cắm sâu vào mép đá chỗ hắn vừa đứng, tóe lửa. Cái lực đi qua lưỡi kiếm dội vào tay hắn, làm rách toạc kẽ tay phải dưới lớp băng mới quấn.
Gã ấn đỏ khựng lại nửa hơi, nhìn mũi giáo của mình nằm trong đá, rồi nhìn cái khăn quấn kín trán Mặc, rồi đưa bàn tay trái sờ cái đĩa sắt nứt đeo lủng lẳng bên hông.
"Không phải hạt," gã nói, giọng đều, không một chút ngạc nhiên.
Nhát thứ hai là cán giáo quét ngang, không nhanh hơn nhát đầu nhưng nặng gấp mấy lần. Mặc dựng sống kiếm nghiêng như đã tập, lùi thấp đúng ba bậc đá, và vẫn không kịp. Cái lực dội qua bản kiếm vào ngực hắn, hất hắn ngửa lên bậc trên, và một ngụm máu nóng trào lên cổ, phun ra qua kẽ răng. Hắn nghe tiếng kiếm nứt thêm, vết nứt từ mẻ gần mũi chạy tới giữa bản, và hắn biết mình không còn nhát thứ ba để mà đáp.
Hai chiêu. Trên bậc đá cao hơn, Thất buông dây kéo, quay lại, nhìn thấy máu trên cằm hắn, còn Nguỵ Tranh đã giương cung tới má mà không buông, mắt không rời gã ấn đỏ.
"Ngươi chảy máu," Thất nói, giọng phẳng như báo nồi cơm đã sôi.
"Kéo đi, đừng quay xuống đường cũ!" Mặc nói, nhổ ngụm máu còn lại ra bậc đá.
Hắn leo lên bằng tay trái và hai đầu gối, lên tới bậc cuối thì tấm ván thứ hai đang mắc ngang mép đá, người số tám trong lưới nặng trịch, giáp cộng người. Hai anh em kéo tới bật gân cổ mà ván không nhích.
"Không nhích, anh ơi!" người em kêu, hai gót chân trượt dần trên đá. Mặc quỳ xuống, ghì vai vào đầu ván, và cái đế mới dưới bụng hắn đứng yên cho hắn tựa, lần đầu không lung lay, đẩy tấm ván qua mép đá trong một hơi. Rồi hắn rút đoản kiếm, cắt sợi dây chắn.
Đống đá hộc trượt xuống bậc đá ầm ầm, lấp nửa lối, đúng lúc gã ấn đỏ đặt chân lên bậc thứ năm. Gã không lùi, gã chỉ đứng lại một nhịp cho đá lăn qua, và đúng lúc ấy cái ấn bằng bàn tay trên trán gã rực lên, đầu gã giật về phía bắc một cái, như lính đêm hốc sáng bị kéo về hàng khi ánh trắng tắt. Gã ghì cổ lại, ngẩng lên nhìn thẳng miệng vực, nhìn vệt ván kéo dài trên đá, nhìn dây hàng còn buộc ở gốc cây, nhìn đúng chỗ họ đang đứng, từng chỗ một. Rồi gã để cái ấn quay mình đi xuống, về phía bắc, không ngoái lại.
Trại tạm ở sườn ngoài, sau một mỏm đá khuất gió, cách miệng vực hai khúc dốc. Hai tấm ván nằm cạnh nhau, trong lưới hai bộ giáp không giãy, chỉ có chấm đỏ trên mi tâm vẫn sáng đều trong tối.
Thất quỳ xuống cạnh ván, tay đã nắm lấy mép lưới.
"Đừng mở," Mặc nói, giọng khàn vì máu, "chưa biết tháo ấn thế nào, mở ra là họ chạy về hàng."
"Họ lạnh," Thất nói, "lưới ướt."
"Đắp áo lên trên lưới thì được," Mặc nói, "đừng tháo nút nào."
Thất nhìn hắn rất lâu, rồi cởi áo cụt của mình đắp lên lưới, vạt có chữ 七 phủ đúng lên ngực người số sáu, và ngồi xuống giữa hai tấm ván, đúng khoảng một người rộng giữa người số sáu và người số tám. Thất thở ngắn, mỗi hơi hít vào thì bàn tay trái lại ép lên sườn chặt hơn một chút, và Thất không bỏ tay xuống khi biết hắn đang nhìn.
Mặc tháo nắm cơm của mình ở đầu dây, ăn sau cùng, nguội ngắt và lẫn cát.
"Cơm có cát," Thất nói, nhìn hắn nhai, hai tay vẫn đặt trên mép lưới. "Mai ta nấu."
"Mai ngươi nấu," hắn nói, "nấu ở đâu cũng được, miễn là ngươi nấu."
Hắn nghĩ ở núi giờ này Đỗ Nghi đang vạch nét cuối cùng lên tấm ván bếp, và người lẽ ra phải vạch ô sáng ngày hai trăm chín mươi tám thì đang ngồi ngoài này, giữa hai bộ giáp, chưa về.
"Em về núi ngay đêm nay," hắn nói với Mạnh Hà, "nói với ông Đỗ là ta có hai người còn ấn, ta cần ông tới đây, mang theo kẹp với hòm đồ nghề."
"Ông hỏi anh có sao không thì em nói thế nào?" Mạnh Hà hỏi, đã đứng dậy buộc lại dây giày cỏ.
"Nói ta còn đi được," Mặc nói, "chuyện máu thì để ta tự kể."
"Gã ra khỏi hàng được hai trăm hơi thì cái ấn kéo về, lính thường chưa tới trăm," Nguỵ Tranh nói, ngồi xuống cạnh hắn, mắt vẫn nhìn về phía miệng vực. "Ngươi đỡ được hai chiêu, còn đường lên vực thì gã nhớ rồi."
"Ta biết," Mặc nói, "nên ta mới gọi ông Đỗ."
Từ mép đá trước trại nhìn xuống, một ngọn đuốc đi từ doanh tới chân bậc đá rồi dừng lại. Ngọn đuốc ấy cháy tới sáng, cắm vào khe đá ở bậc thứ nhất, và cạnh nó là cái bát tre cạnh mẻ của Nguỵ Tranh, miệng bát hướng lên đúng lối họ vừa kéo ba người đi.

