Thông báo ngừng phát hành tại Việt Nam

Từ ngày 01/01/2027, Last Lantern sẽ ngừng phát hành tại Việt Nam trên Google Play và App Store. Người chơi đã cài vẫn có thể tiếp tục chơi. Cảm ơn bạn đã đồng hành cùng Last Lantern!

Quyển 2 · Thiên Hạ Bảng

Chương 8: Mũi kiếm lệch

10 phút đọc·

Mục lục18 px

Sáng ngày ba trăm lẻ chín, Thất dốc cái bầu cuối cùng lên môi người số sáu, được đúng hai ngụm, tới ngụm thứ ba thì chỉ còn tiếng gió trong cổ bầu, và người số tám nằm ở nửa lưới bên kia đã nứt môi từ đêm qua.

"Hết," Thất nói, đưa cái bầu rỗng cho Nguỵ Tranh, không thêm chữ nào.

Nguỵ lắc nó bên tai một lần cho chắc, rồi treo lên cành cây bụi cạnh chỗ canh. "Chiều nay lấy," Nguỵ nói, "lấy ngay dưới mũi gã, sẵn tiện đo gã."

Em Mạnh Hà nhìn cái bầu treo trên cành rồi nhìn xuống vực, nơi khúc nước lấp loá ngay dưới hai hàng giáo dựng ngược, gần tới mức đứng đây vẫn nghe được tiếng nó chảy qua đá, và cậu nuốt khan một cái mà không ai bảo.

Trên tấm đá phẳng phía khuất doanh, Mặc dựng mảnh giáp ngực người số sáu vào một cái cữ gỗ Mạnh Hà đẽo từ hai khúc cây khô, rồi lấy cục sáp đỏ chấm một điểm nhỏ bằng hạt đỗ đúng chỗ vết ấn nguội giao nhau. Trúng chấm thì đục ngập vào sáp mà không văng mảnh, lệch ra thì sáp vỡ, và hắn không cần nói gì thêm cho người thợ hiểu.

Đỗ Nghi cầm cái đục dài vát nhọn của mình, bàn tay phải còn quấn vải ở hai khớp ngón, và đâm ngay, quen tay của người đóng đinh cả đời. Nhát đầu trượt khỏi mặt giáp kêu keng một tiếng, nhát hai trúng mà lệch tâm, nhát ba ông gồng vai lấy sức thì mũi đục hất ra văng xuống khe đá, người em phải chạy xuống nhặt, còn nhát tư ông ghì chuôi tới cứng cổ tay, ngập được nửa sáp rồi dừng, mấy ngón run lên không ngừng được.

"Lệch ở vai," Mặc nói, đặt hai ngón lên vai ông ấn xuống tới khi nó thôi nhô, "chân trái lùi nửa bước, tay để lỏng tới khi mũi chạm sáp mới được siết."

Nhát thứ năm trúng chấm giữa tâm, ngập sâu, không một mảnh văng. Đỗ Nghi chưa kịp thở ra thì Mặc ra hiệu cho Mạnh Hà nghiêng cữ gỗ nửa gang, đúng độ một thân người ngả khi bị buông, và Mạnh Hà vừa nghiêng vừa đỡ không kịp, mặt giáp lệch đi, còn mũi đục vẫn đi đúng đường cũ, chọc vào khoảng không cạnh chấm.

"Hỏng," Mạnh Hà nói trước cả Mặc, giọng thấp xuống, "do em không giữ."

"Do cả hai người," Mặc nói.

"Vậy nhát trúng thì tính cho ai?" Đỗ Nghi hỏi, xoè bàn tay ra nhìn, giọng không giận mà tò mò.

"Không tính," Nguỵ nói từ trên bờ đá, miệng nhai miếng cá khô, "ấn còn thì chưa ai trúng."

Gần trưa, Mặc tách ba việc cho ba người. Người anh giữ cái kẹp dài và ống lót tro, người em đỡ một bao tải cát nặng ngang một thân người đứng trước giáp và giữ đường lùi đã đánh dấu bằng ba hòn đá, còn Đỗ Nghi chỉ một nhát, không làm gì khác. Thay cho hạt lửa, Mạnh Hà gắp một viên sỏi nung trong bếp than bỏ vào ống lót tro cho đủ ba hơi thở.

Lượt thứ sáu Đỗ Nghi châm trúng sáp, thấy viên sỏi còn nằm đó chưa ai gắp, và tự đưa tay ra lấy luôn. Cái kẹp trong tay Mạnh Hà rơi khỏi ống, viên sỏi lăn xuống đá, còn bao tải cát bị bỏ lơ đổ sụp lên chân người em.

"Trượt nữa thì tự nhặt mũi," Nguỵ nói.

"Ta không trượt," Đỗ Nghi nói, giọng của người thợ bị chê tay ngay trước mặt hai đứa trẻ.

"Ngươi trúng, rồi làm rơi cái kẹp," Nguỵ nói, "thế là hỏng, hỏng nặng hơn trượt."

Lượt thứ bảy và thứ tám Đỗ Nghi chỉ làm đúng việc của mình, người anh gắp xong viên sỏi trước khi ông rút tay, người em đỡ bao cát nằm xuống mà không để nó va vào đá, và không ai khen ai.

Chiều xuống, khi nắng bắt đầu rời đáy vực, Nguỵ chia việc lấy nước. Hai anh em kéo một tấm ván nhỏ chở cái hòm đồ nghề băng qua bãi sỏi trống phía trên khúc nước, chậm, lộ, cho cả hàng lính dưới kia thấy. Cùng lúc ấy Nguỵ tự mình mang bốn cái bầu trườn xuống một rãnh đá khô ở phía sau lưng doanh, nơi từ hôm đầu Nguỵ đã thấy một vệt rêu xanh dưới chân vách, cách đầu hàng lính chừng ba mươi bước.

"Hai mươi hơi," Nguỵ dặn hai anh em trước khi đi, "hết hai mươi thì chui vào đá, hòm rơi thì bỏ hòm."

Mặc nằm trên mỏm trinh sát cao nhất với Đỗ Nghi, nhìn xuống qua kẽ hai tảng đá chắn. Tướng ấn đỏ đứng ở khúc nước ngoảnh sang, thấy tấm ván và cái hòm, và gã giơ mũi giáo về phía cái hòm mà không về phía người kéo. Hai lính đứng gần nhất lập tức rời hàng chạy về phía ván. Cái kẹp Mạnh Hà ôm trước ngực, bọc trong vạt áo, không một cặp mắt nào dừng ở đó.

"Bỏ đám khiêng gỗ," gã nói với lính, giọng ngắn và đều của người quen ra lệnh, "tìm kẻ cầm kiếm, trói được kẻ cầm kiếm thì đám khiêng gỗ tự quỳ."

Dưới chân vách, cách lưng gã ba mươi bước, Nguỵ úp từng cái bầu vào vệt rêu, nước rỉ ra chậm tới mức mỗi bầu ngốn mất năm hơi. Hai anh em kéo tấm ván chui vào đá đúng lúc hơi thứ hai mươi, còn Nguỵ thì vẫn đang nút cái bầu thứ tư.

Tướng ấn đỏ không đuổi theo tấm ván. Gã quay lại hàng, và trên phiến đá khô ngay chỗ lối rãnh đổ ra, có một vệt nước nhỏ từ cái bầu thứ tư chưa nút chặt, tối màu dưới ánh chiều. Gã đứng nhìn vệt nước ấy, cây giáo dựng cạnh chân, trong lúc cái ấn lớn bằng bàn tay trên trán gã bắt đầu sáng, rất mờ.

"Đổi tuần," gã nói. "Lối trên. Rãnh khô, đặt hai người."

"Gã chĩa giáo vào hòm ta," Đỗ Nghi nói khẽ bên cạnh Mặc, "cả đời ta chưa thấy ai sợ cái hòm này, mà cũng chưa thấy ai coi rẻ nó tới thế."

"Mai ông cho gã xem trong hòm có gì," Mặc nói.

Nguỵ về tới mỏm trinh sát sau đó mười hơi, bốn cái bầu đeo chéo trước ngực, ướt tới khuỷu tay, và đặt cả bốn xuống trước mặt Thất. Thất mở một cái, nhấp đúng một ngụm cho biết vị, rồi cầm nó sang nửa lưới của người số tám.

"Nước của gã à?" Thất hỏi.

"Nước của vách," Nguỵ nói, "gã chỉ đứng gần."

Đó là lần đầu từ hôm dời trại người em bật cười thành tiếng, và cậu phải lấy tay bịt miệng vì sợ vách đá đưa tiếng xuống vực.

Nhưng tuần đổi lên lối trên thì bãi tập buổi sáng nằm ngay giữa đường tuần, và Nguỵ lấy than gạch nó đi trên phiến đá vẽ đường canh, rồi vẽ nét mới vòng qua một hõm đá xa hơn.

"Bãi ấy mới quen tay," Mặc nói.

"Quen tay thì địch cũng quen mắt," Nguỵ nói, "ngươi muốn giữ bãi hay giữ cái đầu ông thợ?"

Ba vạch trên đá trinh sát giờ còn một, và bóng vách phía tây đã dài tới sát chỗ khắc nét, chạm vào đúng lúc ấn bắt đầu sống. Nguỵ chỉ vào đó. "Gã nhìn hòm, nhìn kiếm," Nguỵ nói, "không nhìn kẹp, không nhìn bầu, đám thợ trong mắt gã chỉ là đám khiêng gỗ."

Tối, họ xuống khe đánh đã dò ở rìa doanh, nơi hai tảng đá dựng nghiêng tạo một lối hẹp chỉ vừa một người có giáo đi vào. Hai sợi dây giật buộc hai bên lối hẹp, một dây kéo lệch chân, một dây giật lệch mũi giáo, và ở giữa là một cái nêm gỗ đóng vào kẽ đá để kẹp cán khi giáo đâm sâu. Lần thử đầu dây bên trái đứt ở nút, người em ngã sấp, cán sắt nhặt từ giáp lính chết cong hẳn khi bị nêm kẹp. Họ thay dây hàng gấp đôi, cắt cán ngắn đi một gang, và tới lần thứ ba mọi thứ giữ được đúng một nhịp thở, rồi cán tuột khỏi nêm.

"Một nhịp," Mặc nói, "đủ cho một nhát, không đủ cho hai."

"Vậy ngươi tập hai," Nguỵ nói, "tập tới khi cổ tay nhớ đường thay cho cái đầu."

Hắn tập hai nhát Châm vào đúng một dấu trên mảnh giáp, nhát đầu mở chỗ vào, nhát sau nối trước khi cổ tay kịp trở về, như hắn từng làm ở Ám Lô, và Mạnh Hà khoanh than quanh hai vết chồng lên nhau trên mặt sắt.

"Còn tướng đứng đầu hàng, cậu tính để gã đứng yên chịu đòn sao?" Đỗ Nghi hỏi.

"Gã mắc giáo thì ta có một nhịp," Mặc nói, "không mắc thì ta lùi."

Ban đêm lính chỉ rời hàng khi có sáng của lửa trời, nên họ đặt một ống mồi trên hõm đá trống cách xa tuyến thợ, Nguỵ tập giật dây nhấc nắp cho cái sáng ló lên đúng cửa khe rồi thu lại bằng kẹp. Toàn bộ trận tổng tập, từ lúc người em đóng vai doanh trưởng rời hàng tới lúc cả bọn đã nằm sau đá, đếm được năm mươi tám hơi thở, và Nguỵ khắc con số ấy lên phiến đá cạnh vạch cuối.

Đêm ấy, ở chỗ nghỉ đã kiểm kín, một người nhà sông thứ ba, già hơn hai anh em chừng chục tuổi, từ núi tới, đặt xuống trước mặt Mặc hai cái ống sắt lót tro bọc trong vải, cầm bằng hai đầu ngón tay. "Ông Đỗ gửi hai hạt cỡ gạo nếp, năm hạt còn lại ở núi, bà Ôn giữ chìa, Lão Khúc giữ sổ," người ấy nói, "ông dặn cầm bằng hai đầu ngón thôi, ai cầm cả bàn tay mà bỏng thì Lão không trả tiền thuốc, còn từ tối nay ta ở lại thay ca giữ lưới."

Mặc đặt hai ống cạnh gối, rồi không động vào chúng nữa. Từ ba ngày trước hắn đã định hạt đầu tiên sẽ chia làm ba đêm kéo sợi, cho tới khi vách bình cảnh sau lớp đế rạn thêm, cho tới khi chạm tới hậu kỳ.

"Ngươi định mất gì nếu thử, nói ra từng thứ một đi?" Thẩm Chiêu hỏi, khô sắc, đúng cái điều hắn né.

"Ta chưa nói ta thử," hắn nói.

"Ngươi đang đặt một ống riêng cho Thất," nàng nói, "ngươi đã đặt rồi."

Đúng vậy. Hắn nhớ lửa nghiêng về phía Thất từ đêm Hắc Kiếp, nhớ sợi kéo ngày ba trăm lẻ ba, và chưa ai biết lửa sẽ làm gì nếu vào người một kẻ không có ấn, hay giữ được bao lâu.

"Ta mất hạt tu," hắn nói, "có khi mất cả mùa."

"Ngươi nói ngươi không làm một mình," nàng nói, "vậy thì hỏi người đó."

Thất bước vào khi hắn gọi, một tay ôm sườn. Mặc nói ngắn gọn điều hắn nghĩ, không giấu rằng hắn không chắc, và Thất đứng nghe, mắt nhìn cái ống đặt riêng cạnh gối hắn.

"Ngươi muốn ta cầm giáo đứng trước cái thằng cao kia à?" Thất hỏi.

"Không," Mặc nói, "ta muốn ngươi có quyền nói không."

"Cáng thì ta đỡ," Thất nói, "giáo thì không."

"Còn hạt này, ta để cạnh ngươi hay cất đi?" hắn hỏi.

"Để đó," Thất nói, "có hay không thì để ta tính sau."

Khi Thất ra khỏi lều, Thẩm Chiêu không nói gì thêm, và hắn cất ống thứ hai vào túi, nhớ rằng mình đã bỏ phần tu đêm nay mà không ghi vào sổ.

Đỗ Nghi đứng ngoài cửa chỗ nghỉ từ lúc nào không rõ, và khi Mặc bước ra, ông chìa cái mũi đục đã mài lại ra trước mặt hắn.

"Bóng vách chạm vạch của Nguỵ thì ta ra tay," ông nói, "ta xin đứng ở đầu có ấn, cái đầu kéo ván để người trẻ."

Hết chương 8

Tự tay đưa họ về nhà trong game

Thắp lại đèn, dựng lại tông môn trong Last Lantern.

Google PlayApp Store