Sáng ngày ba trăm chín mươi tám, Thất đi đầu, hai tay buông xuôi, bước chậm và rộng như người đi vào nhà mình lúc trời chưa sáng hẳn. Năm người nối nhau đi sau thành một hàng lệch, Mặc đi cuối cùng với thanh kiếm nứt đeo sau lưng, còn cái cáng dự phòng thì hai anh em nhà sông thay nhau vác, mỗi người một đoạn, không ai cần ai nhắc tới lượt.
Người nhà sông già ở lại trại sau tuyến canh với cây cung Nguỵ để lại, giữ nét Châm trên đá đầu vực, đếm hàng chín mỗi chạng vạng, và giữ nốt mấy đấu gạo còn lại của chuyến thứ ba. Nguỵ không dẫn đoàn qua bậc đá chẻ mà doanh đã thuộc từ trước trận ngày ba trăm mười. Nguỵ đi vòng nhánh ngoài, qua hai lớp đá hộc và một khe cạn, và trước khi rời đầu vực thì cúi xuống nhấc hòn dẹt thứ nhất trong hàng ba hòn, bỏ vào túi áo.
"Còn hai hòn," Nguỵ nói, "hết hòn thì hết đường, ai chậm thì tự gánh cái chậm của mình."
Giữa dốc đầu tiên Thất dừng lại hai lần, chống hai tay lên đầu gối, đợi cho hơi thở dày lên mới đứng thẳng bước tiếp. Người số tám đi ngay sau, bước chậm theo từng bước của Thất, không vượt lên, không hỏi một câu. Người từng là doanh trưởng đi giữa hàng với hai tay buông, và Đỗ Nghi đi sát y chừng một sải, mắt không nhìn mặt y mà nhìn đôi bàn tay ấy.
"Chậm thì nghỉ," Thất nói, không quay đầu, dù chẳng ai bảo Thất phải nói.
"Anh Thất," người số tám nói, lần đầu từ sáng, giọng nhỏ, "dốc này còn dài không?"
"Dài bằng nửa nồi cháo," Thất nói, "đi hết thì có cháo thật, bà Ôn chưa để nồi nguội bao giờ."
"Nghỉ thì nghỉ cả hàng," Nguỵ nói, "còn hai dốc nữa, đừng ai tách ra, ta không có hòn đá thứ tư để đặt."
Ngày ba trăm chín mươi chín, họ nghỉ ở chỗ trũng sau một sống đá, cách chân núi nửa buổi đường. Mặc ngồi xuống đất, vai trái chạm vào vách đá, đau nhói, và người số ba ngồi cạnh hắn, tay ôm bát, nhìn đồng đội ăn mà không nhìn ai.
"Cái ông có tay lạ ấy," người số ba hỏi khẽ, "ông ấy khi nào mới ngủ được một giấc cho trọn?"
"Khi tay ấy thôi nhớ," Mặc nói, "ta không biết là bao giờ."
Nguỵ vừa leo lên mỏm đá nhìn đường thì tiếng chân đều và nặng từ phía dưới vọng lên, và người đầu tiên đứng dậy là người từng là doanh trưởng. Y đứng thẳng, hai gót chạm nhau, mặt quay về phía bắc, bàn tay phải co lại thành thế ấn trước ngực không ai bảo. Người số năm bật dậy theo, chưa biết vì sao mình đứng, rồi hoảng, nhìn quanh tìm một hàng không có ở đó. Người số ba lùi vào vách đá, hai tay ôm đầu gối.
Mặc không bước tới. Hắn đứng cách họ ba sải, mở bàn tay phải để họ thấy nó trống, rồi ngồi xuống lại chỗ cũ, vì hắn biết mỗi bước hắn tiến lên đều là một bước người kia nghe thành lệnh.
"Cậu không lại gần à?" Đỗ Nghi hỏi, giọng khẽ.
"Ta bước một bước thì với người ấy là một tiếng hô," Mặc nói, "ông cũng đừng đứng sát quá."
Đỗ Nghi lùi nửa bước, và hai bàn tay ông tự chắp lại sau lưng, giấu cả hai đi.
"Xe thồ bốn chiếc, ngựa, muối," Nguỵ báo xuống từ mỏm, giọng đều, "một gã áo xanh đi cuối, cờ cuộn, dây đỏ, nó đếm xe chứ không nhìn lên núi."
"Nó đếm đèn," Mặc nói lên phía mỏm đá.
"Hôm nay thì nó đếm muối," Nguỵ nói, "đèn để hôm khác."
Người số sáu đặt phần cơm của mình xuống đất, đúng giữa chỗ người từng là doanh trưởng đang đứng và chỗ y vừa ngồi, rồi ngồi xuống bên khoảng đất ấy, không nói. Một lúc sau, người từng là doanh trưởng hạ một gót, rồi gót kia, và ngồi xuống bên phần cơm của người khác, bàn tay phải vẫn kết ấn trên đầu gối.
Cơn hoảng ấy tốn của họ nửa buổi, và Nguỵ nói thẳng với Mặc rằng chiều hôm sau họ chỉ còn đủ một buổi để lên tới cổng, chậm hơn nữa thì phải ngủ lại ngoài vách.
Mạnh Hà trao cho Nguỵ chiếc bát tre cậu đã tiện trong những ngày dưỡng, từ một đoạn tre già chọn trong bó nứa gánh về, bát dày, mép tròn, đáy phẳng, còn thơm mùi vỏ cạo. Nguỵ cầm lên, lật đáy xem, gõ móng tay vào thành bát nghe tiếng.
"Già thật," Nguỵ nói, "nặng hơn cái cũ."
"Cái cũ mẻ rồi," Mạnh Hà nói, "để dưới vực thì khỏi mang."
"Lần sau tiện bát thì chừa chỗ cho cơm," Nguỵ nói, và múc thử cháo vào, thành bát dày tới mức múc đầy tới mép cũng chỉ được nửa phần cháo, đủ để cả hàng cười, người số năm cười lâu nhất, tới khi chính anh ta cũng ngạc nhiên vì tiếng của mình.
Mặc đợi tới khi người số ba, người nhát nhất, tự mở nắp bát của mình mà không nhìn quanh, rồi mới cầm phần mình lên.
Chiều ngày bốn trăm, bóng núi đổ tới chân bậc đá, và ở cái cổng nhỏ đầu bậc, người tỉnh đầu tiên, người mà Lão Khúc cõng về từ bến, đã đứng đó từ trước khi họ tới. Người ở cổng vẫn khoác cái áo ngoài của Lão, tay nắm vạt áo, nhưng lần này không nhìn xuống gót chân mà nhìn thẳng lên hàng người đang leo.
Ôn đại nương ngồi trên bậc thứ ba, bên cạnh có một cái ghế đẩu chưa ai ngồi. Lau đứng sau cánh cổng gỗ, hai tay đã đặt vào mép cửa, còn người đục gỗ đứng cạnh em, giữ cánh cửa bằng tay trái, tay phải vẫn nằm trong vòng vải. Gần cổng, tựa vào cột đá, một người đứng bằng hai chân nẹp, người khe tây, người đã nằm hết bao nhiêu ngày chỉ nhìn trần.
Người khe tây đã bỏ ván. Chân nẹp kê trên một khúc gỗ, hai tay bám cột đá, và trên bậc cạnh chân là chiếc bát sành của Thất, miệng bát mẻ một chỗ, đặt đó từ ngày Thất đi.
"Cho tôi đứng thêm một lúc," người khe tây nói, giọng khàn như dây gai kéo qua đá, nói với Ôn đại nương chứ không nói với ai khác.
"Đứng đi," Ôn đại nương nói, và kéo cái ghế đẩu sát lại, đặt ngay sau gót người khe tây, "ngã thì có ghế, bà kê rồi."
Người khe tây buông cột đá. Nguỵ đứng chênh chếch sau lưng đoàn người, môi mấp máy, đếm thành tiếng khẽ từ một tới mười hai, rồi dừng, vì sau hơi thở thứ mười hai người khe tây vẫn đứng.
Người khe tây cúi xuống, nhặt chiếc bát sành bằng một tay còn run, và đứng thẳng dậy cùng nó, rồi đi, ba bước, mỗi bước kéo chân nẹp qua một bậc đá, mép bát chạm vào áo, và dừng lại trước người từng là doanh trưởng, người đi đầu hàng năm người, đang giơ hai cổ tay ra trước, chờ ai tới giữ.
Không ai giữ y. Thất đứng cạnh, nhìn cái bát, rồi nhìn đôi cổ tay giơ ra.
"Cầm đi," Thất nói, "ăn xong thì rửa."
Người từng là doanh trưởng nhìn chiếc bát, nhìn mép bát mẻ, rất lâu. Bàn tay phải đã kết ấn từ ngày y tỉnh, ngón cái đè ngón áp út, từ từ mở ra, như một cái kẹp tự nhả mồi. Y nhận bát bằng cả hai tay, ôm nó trước ngực, đúng chỗ bàn tay ấy từng giữ thế ấn, và không nói gì cả.
Ôn đại nương đã ngồi xuống bậc thứ ba mà không ai thấy bà ngồi. Người khe tây khuỵu chân đúng lúc, rơi xuống cái ghế bà kê sẵn, hơi thở dồn dập, hai tay bám chặt hai bên, nhưng không để ai đỡ.
"Mười hai hơi," Nguỵ nói, giọng khàn hơn mọi khi, "chưa tính hơi thứ mười ba, ngồi rồi."
Ngoài ngưỡng cổng, người số năm đang đứng tần ngần, không dám bước qua, và Lau nhìn anh ta từ bên trong, tay vẫn giữ mép cửa. Anh ta đưa một chân lên, thu lại, đưa lên lần nữa, và cuối cùng chính tay anh ta nắm lấy cánh cửa, kéo nó mở hết cỡ bằng tất cả sức mình, tiếng bản lề cọt kẹt vang lên giữa sân.
Lau bật cười, rồi chạy ra giữa sân, đếm trên đầu ngón tay dính bột.
"Sáu người! Cháu rửa năm cái bát từ sáng, tưởng cộng cái bát mẻ của anh Thất là vừa, giờ bát mẻ có chủ khác rồi, ông Đỗ ơi cháu cần thêm bát!" Em quay sang người tỉnh đứng ở cổng, giọng hạ ngay thành giọng người đọc sổ. "Còn cái áo này, áo của Lão Khúc, một ngày hai đồng, từ hôm ba trăm lẻ tám, chín mươi hai ngày, cháu ghi rồi, người nợ một trăm tám mươi tư đồng, nhưng Lão bảo không đòi nếu người nói được tên."
Người tỉnh ở cổng không nói được tên. Nhưng người ở cổng cười, một cái cười méo, và lần đầu tiên bàn tay buông vạt áo ra.
"Một trăm tám mươi tư đồng cho một cái áo vá ba chỗ," Đỗ Nghi nói, và ông bật ra một tiếng cười ngắn, khô, mà ông không ngờ mình có.
Thất bước qua ngưỡng cuối cùng sau năm người kia, vì Thất đã đứng đợi họ qua hết, rồi mới vào.
Trên hiên bếp, tấm ván cũ dựng cạnh bếp vẫn còn đó, chằng chịt nét than đen chen kín mặt gỗ, và ở một chỗ có một ô trống. Thất đứng trước nó rất lâu. Rồi Thất rút từ túi áo ra mẩu than Đỗ Nghi đã trao, mòn tới gần hết, và vạch một nét vào đúng ô trống ấy, thẳng, không lệch.
"Ô sáng hai trăm chín mươi tám," Thất nói với Đỗ Nghi, "trả rồi."
"Cậu Mặc," Ôn đại nương nói từ bậc thứ ba, hai bàn tay khô đặt trên đầu gối, "năm người đứng ngoài ngưỡng mà không ai bảo họ vào, cậu cũng đứng đó à?"
"Họ chưa hỏi được là vào hay không," Mặc nói.
"Thì bà hỏi thay," Ôn đại nương nói, "vào đi, bếp còn cháo, bát thì để Lau tìm, áo gấu có vừa thì lát nữa nói."
Trong chính điện, Mặc đứng trước tấm ván treo cạnh án, dòng chữ hắn tự tay khắc từ ngày nào, ba trăm bấc, về không. Năm người mới đứng sau hắn ở ngưỡng cửa, chưa dám bước vào, và Đỗ Nghi đứng cạnh hắn.
"Cậu có sửa số không?" Đỗ Nghi hỏi, "sáu người đã tới cửa."
"Không," Mặc nói, "sáu người tới cửa, chưa ai gọi được tên mình."
Trong ngực hắn, Thẩm Chiêu không nói gì. Đỗ Nghi nhìn dòng chữ, rồi quay nhìn người từng là doanh trưởng đứng ngoài ngưỡng, bàn tay phải của y đang quay lại thế ấn, và ông bước ra, nhẹ nhàng nâng bàn tay ấy xuống, gỡ ngón cái khỏi ngón áp út.
"Tay ngươi nhớ cái ấn," ông nói, "tay nhớ thì chưa phải là ngươi nhớ, đừng bắt mình nhận."
Lão Khúc về tới lúc cuối chiều, thở hồng hộc, ôm cuộn bảng kỳ A trước ngực và giũ nó ra trên mặt chiếc xe thồ ở hiên. Lão không đọc các hạng, chỉ đưa ngón tay chai tới một chỗ giữa cuộn, nơi có một khoảng giấy trống nằm giữa hai hàng chữ đen, và gõ vào đó.
"Chỗ này," lão nói, "không có tên, tông lớn có tên, tông nhỏ có tên, tên mình thì không có chỗ nào, cuộn này không chịu nợ ai, bến lớn dán từ ngày ba trăm sáu mươi lăm, ba mươi ngày sau mới tới lượt bến nhỏ đường mình, mà ta đi bộ hai ngày để lấy nó, cái đó thì ai trả ta?" Lão lật mép cuộn, chỉ một dấu đỏ mới đóng chồng lên dòng Lạc Thủy. "Gã áo xanh đóng, kỳ B còn một trăm bốn mươi lăm ngày, nó hẹn tới lấy đèn."
Dưới hiên, trên tấm ván xe, mười bốn ngọn đèn Lạc Thủy nằm thành hàng, bụi bám đầy chụp đèn, từ khi Lão kéo về chưa ai thắp. Đỗ Nghi nhìn chúng một lúc, rồi quay vào chính điện, nhìn cái án Vọng Tinh, nơi ba trăm bấc nguội nằm thành hàng, chưa một bấc nào có lửa.
"Bảng đọc đèn trên án," ông nói chậm, nghe lại tiếng của chính mình. Rồi ông đặt bàn tay lên mép án, cạnh chỗ trống, và quay lại hỏi Mặc.
"Cậu lấy ngọn đèn sống đầu tiên ở đâu?"

