Sáng ngày bốn trăm lẻ một, ở mép sân phơi Vọng Tinh có một người ngồi xổm, dùng bàn tay phải và hai hàm răng thắt lại quai gùi hàng. Tay trái ông nằm im trong đai vải treo qua cổ, năm ngón co cứng, và mỗi lần sợi dây bị giật thì chỉ có vai ông run theo.
"Thắt thế thì chưa tới bến thứ hai quai đã cứa nách," Ôn đại nương nói, đặt xuống cối đá bốn bộ áo khô gấp vuông, rồi gỡ cái đai khỏi cổ ông và gấp nó làm đôi cho dày. "Bà đếm áo theo đầu người đi, bốn người bốn bộ, còn bộ thứ năm là của ông, vì ông cũng đi."
"Ta là khách của đường, không phải người của nhà," người ấy nói, ngồi yên cho bà luồn đai lại dưới nách, "áo nhà thì ta nợ thêm."
"Nợ thì ông ghi cho Lão, bà chỉ biết áo khô thì ấm."
Ông ngẩng lên để cắn đầu dây, và đăng ấn hiện ra dưới mép khăn buộc trán, một lớp đế mỏng màu đồng đục, thứ ấn của người đã chạm tới đỉnh Luyện Khí mà bao nhiêu năm không bước qua nổi. Lão Khúc ngồi trên càng xe thồ với cái hộp thiếc đặt trên đầu gối, thấy cái ấn ấy thì gảy một hạt bàn tính, không nhìn xuống.
"Tần Hưởng," lão nói với Mặc, "mười sáu thùng đường phèn kể cả lãi, ông này nợ ta từ hai mùa bến trước, đường thì tan vào nước chè của ai ta không biết, còn nợ thì chưa tan."
"Hàng đi ba bến thì lời nằm ở bến thứ ba, nợ của ta cũng nằm ở đó, ông Khúc ạ," Tần Hưởng nói. "Mười năm ta theo xe hộ hàng, đường xuống Phụng Đăng mỗi mùa ta đi hai lượt, khúc nào nước xoáy, trạm nào người đọc hòm hay ngủ trưa, ta còn nhớ cả. Tay này không chèo được nữa, nhưng mắt ta vẫn đọc nước, cho ta dẫn các ông xuống rồi ông trừ cho ta ít nào hay ít ấy."
"Trừ bằng chuyến dẫn, hay trừ bằng cả đường hàng của ông?" Lão hỏi.
"Chuyến này thôi. Đường hàng của ta chưa bán."
"Chưa," Lão nói, "ta ghi chữ chưa."
Mặc đứng giữa sân nghe hết, rồi nói điều hắn đã nghĩ từ đêm qua, rằng hắn không xuống Phụng Đăng để mua đèn mà để tìm một người có lửa muốn lên núi, và chỉ người muốn mới đi, ai đổi ý giữa đường thì ở lại. Mười bốn ngọn đèn Lạc Thủy nằm trên ván xe dưới hiên, hắn không mang một ngọn nào. Cái hắn mang là lò đồng của Ám Lô, tháo khỏi bệ từ hôm trước, buộc dây đay trên xe thồ cho hai phu thuê khiêng suốt đường.
Tần Hưởng kể đường nhanh đi qua ba trạm của Thanh Vân, trạm nào cũng có người đọc hòm, còn đường tránh thì lâu hơn hai ngày, phải lên bờ gánh bộ một quãng, và ông kể tới cả cái quán ở bến thứ hai bán cháo cá nấu bằng nước sông chưa lắng.
"Đi đường tránh," Mặc nói, "cháo thì ta không ăn."
"Ta chọn đường," Tần Hưởng nói, "ông chọn chỗ ngủ, ai chọn sai thì người ấy trả."
Trước lúc rời núi, Mặc đặt thanh kiếm cũ lên bậc kho cho Đỗ Nghi xem. Vết nứt đã chạy từ mẻ gần mũi tới cách chuôi hai ngón tay, và ngón cái của Đỗ Nghi, quấn băng ở hai đốt, miết tới đó thì dừng lại.
"Hôm nọ còn ba ngón," ông nói, "nó đi thêm một ngón trong lúc ngươi ngủ."
Ông không rèn, vì tay ông chưa cầm búa được cả buổi, mà bọc thanh kiếm vào vải dầu, buộc nút chết, rồi đặt nó vào hòm nghề của ông chứ không đặt vào tay Mặc. Tần Hưởng cởi thanh kiếm sắt thẳng đeo ở hông, thứ kiếm hộ hàng không pháp khí, vỏ da mòn hai đầu, đặt lên bậc cạnh gói vải dầu.
"Ta đeo cái này chủ yếu để đỡ bị hỏi," ông nói, "cầm bằng tay phải ta cũng chẳng chém nổi ai. Cọc bốn thạch, trả kiếm thì ta trả cọc."
Đỗ Nghi nhấc thanh kiếm lên, gõ móng tay vào sống nghe tiếng, rồi đặt mũi lên đầu ngón tay mà nhìn dọc theo bản, kỹ như nhìn một đường mực.
"Mũi dùng được," ông nói, "sống thì mỏng, đừng đem chọi giáo."
Mặc vung thử vào bó sậy dựng cạnh kho. Nhát thuận đi đúng và bó sậy đứt gọn một đường, nhưng khi hắn ghìm lực đổi hướng giữa chừng thì lưỡi kiếm rung dọc cả bản, truyền lên cổ tay hắn một cái tê nhỏ, và hắn biết thanh kiếm này chém thẳng thì được, đổi hướng thì chịu không lâu.
Họ đi năm ngày, ba ngày đò và hai ngày gánh bộ vòng qua trạm, em Mạnh Hà gánh thuốc đi trước mỗi lần lên bờ, Nguỵ Tranh đi cuối và tới chỗ nào cũng ngó mái trú trước khi cho ai đặt gùi xuống. Chiều ngày bốn trăm lẻ sáu, ở bến trung chuyển, một chủ hàng mặt bóng mỡ gọi Lão lại gần, đặt lên tấm ván thuyền bốn cái ống sắt lót tro, hai đầu đậy đá, và mở nắp từng ống bằng một cái kẹp.
Trong ống nào cũng có một hạt trắng cỡ đầu ngón cái, và giữa khoang thuyền tối, bốn sợi sáng mảnh cùng nghiêng về phía đông.
Mặc không đổi sắc mặt, nhưng hắn thấy tay mình đã đặt lên đầu gối. Bên cạnh bốn cái ống, chủ hàng để một mảnh sắt cong, vỏ tay cầm của một cây trượng đã vỡ, và Mặc nhận ra cái khấc ở mép nó trước khi nhận ra những thứ còn lại. Hắn lấy ra đoạn ống vỡ cuối cùng mang theo làm cữ kẹp, đặt cạnh mảnh sắt kia, và hai cái khấc khớp nhau.
"Một trăm hai mươi thạch," chủ hàng nói, "trọn bốn ống, không bán lẻ. Hàng của một người từng hạ được Kiếp Ma, ta chỉ làm môi giới."
"Người ấy hạ nó bằng gì, và hạ ở đâu?" Mặc hỏi.
"Ta chỉ làm môi giới," chủ hàng nhắc lại, và nụ cười của ông ta cứng đi nửa phần.
"Ông giữ giá cho ta tới phiên chợ ngày bốn trăm mười bốn được không?"
"Được, vì đò của ta cũng tới chợ hôm ấy," chủ hàng nói, "giữ lâu hơn thì ta tính tiền kho."
Mặc không trả một đồng nào và không chạm vào ống nào. Đêm ấy Lão ghi vào sổ bằng đầu bút lông cụt, chỉ một dòng, nơi bốn cái ống sẽ có mặt ở chợ lễ, và lão không tìm ra được mỏ lửa nào mới đằng sau chúng. Hắn cũng không tìm ra.
Họ tới cửa nước Phụng Đăng chiều ngày bốn trăm lẻ bảy. Cửa ấy là hai trụ đá dựng giữa dòng với một dây xích căng ngang, bên bờ trái có dãy phu kho áo xám chờ sẵn cùng những cây gậy đo hòm, và sau thuyền họ đã có sáu chiếc thuyền khác nối đuôi chờ qua. Trên bậc đá một người đứng quay lưng, gõ con dấu đồng lên nắp hòm đan của chiếc thuyền đi trước, mỗi nhát một tiếng, đều như nhịp chày giã gạo.
Người ấy quay lại, và đăng ấn nằm trên trán anh ta với một lớp đế dày gần bằng đốt ngón tay, loại đế chỉ có ở người đã đứng sát bậc cuối của Trúc Cơ. Mặc kéo khăn xuống tới mày. Người kia nhìn hòm đan của Lão, nhìn tay Lão, rồi mới nhìn Mặc, và phu kho bên cạnh phải gọi tới lần thứ hai thì anh ta mới chịu ngẩng đầu.
"Hứa Chấp Lễ," gã nói, lấy ngón út phủi một hạt bụi trên ống tay áo rộng, "lễ quan cửa nước. Đan nào qua đây cũng phải qua lễ của ta."
Gã mở hòm, đếm bốn viên Tụ Khí Đan mà không hỏi một câu về chúng, chỉ gõ con dấu lên nắp một cái rồi gạt hai viên sang bên.
"Đan này không có niêm lễ," gã nói, "hai viên hàng thì giữ ở kho, hai viên còn lại khai theo đầu người, ai uống thì khai tên."
"Của ta," Mặc nói, và đọc tên mình, không đọc họ.
Lão đã mở miệng định cãi, nhưng Mặc hỏi trước, hỏi ai giữ hàng, giữ ở gian nào và ngày nào thì được nhận lại, và hắn hỏi đủ to cho thuyền sau nghe. Phu kho cầm bút đứng im, nhìn Hứa lễ quan chứ không nhìn giấy, vì ở cửa này chưa ai từng xin thứ ấy. Hứa lễ quan nhìn Mặc một lượt từ cái khăn buộc xuống tới đôi tay có sẹo, rồi nhìn sang sáu chiếc thuyền đang chờ, và gật đầu một cái rất nhỏ.
Tờ biên nhận được viết ra có hai viên, ngày, dấu kho, cùng một dòng nhỏ ở cuối là trả sau lễ thử đèn. Mặc chưa kịp gấp nó lại thì người chủ chiếc thuyền thứ hai phía sau, một bà già chở dầu thông, đã đặt chân lên bậc đá.
"Mùa trước tôi bị giữ ba hũ dầu ở đây mà không có tờ nào," bà nói, "xin lễ quan cho tôi một tờ giống của cậu này."
Sau bà, hai chủ thuyền khác cũng giơ tay lên, chưa nói gì, chỉ giơ. Hứa lễ quan đóng nắp con dấu lại, ra hiệu cho phu kho lấy thêm giấy, và lúc phu kho cúi xuống viết, gã quay sang Mặc.
"Ngày bốn trăm bảy mươi người ta thử đèn," gã nói, giọng nhẹ đi, "kẻ không đèn sẽ tự mang đan tới nộp."
Mặc cất biên nhận vào áo, cạnh tờ thẻ phương trị bỏng chép từ vách Ám Lô. Phu kho khám nốt gói thuốc của người em, bóp từng nhúm trong lòng bàn tay rồi gói lại không theo nếp cũ, rồi khám tới cái lò đồng, và gã gõ vào thành lò hai tiếng, nghe đồng đặc.
"Lò lớn thế này," gã nói, "thuốc gì mà cần lò lớn?"
"Thuốc cho nhiều người một lần, nên ta không muốn sắc từng bát."
Gã quay đi, tay đã cầm con dấu cho chiếc thuyền kế tiếp. Khi thuyền đã qua dây xích, Lão kéo cái hòm rỗng của mình lên giữa khoang, đặt bàn tay lên nắp, và nói với nó bằng giọng mặc cả.
"Hòm còn đây, hai viên nằm lại. Lần sau ta bán hòm."
Tần Hưởng không cười, nhưng khóe miệng ông nhúc nhích, và ông kể rằng mười năm qua cửa này ông chưa thấy ai được tờ nào, đừng nói là bốn tờ trong một buổi chiều.
Họ tìm chỗ đặt lò suốt hai ngày. Chiều ngày bốn trăm lẻ chín, Tần Hưởng dẫn họ qua dãy thợ áo cạnh chợ lễ, nơi hàng trăm bộ áo trắng treo trên những sào tre, mỗi bộ gắn một mảnh thẻ gỗ chờ ghi tên. Dưới một mái hiên thấp có cô gái ngồi trên cái ghế đẩu, đang tự khâu đoạn tua cuối ở gấu áo, mũi kim nhỏ và đều, và mỗi lần luồn chỉ cô lại cúi xuống cho đăng ấn trên trán rọi vào vải, một lớp đế mỏng màu ấm của người mới chạm Luyện Khí. Người mẹ ngồi cạnh cắt vải, thấy khách tới thì đứng lên nhường ghế, nhưng cô gái đã đứng dậy trước, kéo cái ghế đẩu của mình ra cho Tần Hưởng bằng bàn tay còn dính chỉ.
"Mẹ khâu cổ cao thêm hai ngón nữa," cô nói, "cho áo ôm lấy cổ, để người ta thấy ấn."
"Cổ thế này đủ rồi," người mẹ nói, "ngày ấy trời lạnh."
"Ngày ấy người ta nhìn, mà mẹ thì chỉ lo con lạnh."
Mặc đã định gạt bộ áo đang rũ xuống vai ghế ra khỏi lối đi, nhưng bàn tay hắn dừng lại giữa chừng, vì cô gái nhìn bàn tay ấy rồi nói nhỏ. "Xin đừng gấp, gấp là hỏng tua. Đây là áo cháu mặc khi lên xe."
Ngoài hàng sào có tiếng giày da. Hứa lễ quan đi tới cùng hai phu kho, ngón tay lướt dọc hàng áo như người đếm răng một con ngựa, rồi dừng lại kéo thẳng một cái gấu bên trái và nói với người mẹ rằng tất cả phải trả đủ trước đợt xe ngày bốn trăm bảy mươi. Gã chỉ tấm lịch gỗ treo ở đầu dãy, nơi một ngày đã được khoanh bằng son.
"Lễ chính dâng đèn là ngày bốn trăm tám mươi," gã nói, "bà khâu cho kịp, không ai được bước lên bậc xe với một cái gấu lệch."
Lúc quay đi, mắt gã dừng ở cái khăn buộc trán của Mặc, chỗ duy nhất trong cả dãy này che một cái ấn, rồi gã đi tiếp. Mặc nhìn theo tới khi tiếng giày khuất sau sào áo, rồi quay sang người mẹ.
"Bà có nhận người ngủ nhờ không?"
"Nhận," bà nói, nhìn mấy ngón tay đầy sẹo của hắn, "tám thạch, ngủ ở hiên."
Thẩm Chiêu chưa nói một lời từ lúc rời núi, và lần này hắn không dám gọi nàng trước.
Cô gái ngồi xuống lại, nhón sợi chỉ cuối, và hỏi mẹ khi mắt vẫn nhìn mũi kim.
"Mẹ, lúc lên xe thì con có được đứng đầu hàng không?"

